Chương 71. Chôn sống (phần 18)
Trước tình cảnh ấy, không chỉ tôi chết lặng mà cả đám Bát Tiên có mặt cũng đều sững sờ, chẳng ai thốt được nửa lời. Họ vội vàng vác cuốc xông lên đào mộ. May thay, trước đó tôi đã làm phép “phục linh” trên quan tài, nên việc đào bới dễ dàng hơn nhiều.
Chỉ chốc lát, lớp đất trên mặt mộ đã bị xới tung. Tôi lo bọn họ sẽ lỡ tay chạm vào cái bát sứ đặt trên nắp quan, đành phải bảo họ đào vòng quanh, còn tôi tự mình cẩn trọng đào ngay chính giữa.
Cánh tay trái tôi đã trật khớp, không còn dùng được, chỉ còn tay phải nắm lấy cuốc, từng nhát, từng nhát chậm rãi mà đào. Tuyệt đối không thể xem thường cái bát sứ kia. Trong lời lẽ của Bát Tiên chúng tôi, nó được gọi là “bát y phạn”, công dụng tựa như ngọn trường sinh đăng: có tác dụng trấn quan. Chỉ cần nhìn vào chiếc bát ấy, là biết được bên trong quan tài có biến động gì.
Nếu chẳng may bát sứ vỡ, thì quan tài này cũng không cần đào lên nữa. Hỏi tại sao, tôi cũng chẳng rõ, chỉ biết đó là vật truyền tin giữa người sống và quan tài. Một khi bị người ta cố tình phá hỏng, tất sẽ kinh động lũ cô hồn dã quỷ xung quanh. Nhẹ thì bệnh tật triền miên, nặng thì mất nửa cái mạng.
Tôi cẩn thận bới đất chừng dăm ba phút, viền bát sứ dần lộ ra. Bỏ qua kiêng kị “không được giẫm lên mộ phần”, tôi bước đến, cúi xuống gạt đất chung quanh. Bát sứ vẫn nguyên vẹn, chỉ có bên trái một vết nứt mảnh như sợi tơ. Tôi không dám nghĩ nhiều, vội nhấc nó sang một bên, rồi bảo Cao lão rút ống tre cắm trong quan tài ra trước, thông khí đã, cứu người mới là quan trọng.
Nhưng ống tre đã nứt toác, các mảnh tre sắc lẹm, không thể dùng sức mạnh mà kéo ra. Cao lão đành vung cuốc, bổ thẳng xuống chỗ ấy. Trước sau hơn chục nhát, quan tài bị bổ thủng một lỗ to bằng nắm tay.
Tôi chẳng dám lơi lỏng, liền giao cho Cao lão trông giữ miệng lỗ, kẻo đất sụp xuống. Còn tôi quay người, lấy ra một đôi nến đỏ, ba nén hương, chín cân vàng mã. Nếu có người thắc mắc: vì sao phải đúng chín cân? Bởi “cửu” đồng âm với “cứu”, lấy chữ cát tường.
Quan tài vừa lộ thiên, sát khí nặng nề vô cùng. Muốn tránh lũ cô hồn dã quỷ thừa dịp quấy phá, tôi cần thỉnh các vị thần giữ cửa, trấn áp bốn bề. Nếu không, dẫu Vương Khiết còn sống, thì cũng sẽ bệnh tật vây thân.
Tôi đốt nến, cắm hương bên miệng quan, rồi tìm một tảng đá làm tế thạch, quỳ xuống, vừa hóa vàng, vừa đọc chú: “... Giác, Khang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Nga, Tất, Chủy, Tham, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Thừa mệnh mà đến, tốc khởi!”
(Phần “...” là đoạn chú ngữ rườm rà).
Hai mươi tám chữ ấy chính là tên Nhị thập bát tú. Trong mắt Bát Tiên chúng tôi, quan tài là âm trạch, đã là trạch thì ắt có thần giữ cửa. Những vị thần ấy thường là âm sai nơi địa phủ. Còn Nhị thập bát tú vốn là hàng thượng phẩm, tương truyền chuyên để canh giữ lăng tẩm đế vương.
Tôi chẳng còn cách nào khác, đành niệm bừa, vì ngoài chú này, tôi cũng không biết thêm thứ nào. Sách tang điển vốn chỉ toàn lễ tục ma chay, riêng chú này là tôi đọc được từ sách cũ trong nhà một lão nho, thấy lạ nên ghi nhớ. Có hiệu nghiệm hay không thì chẳng rõ, nhưng lễ nghi thì phải đủ.
Trong lúc tôi đọc chú, đám Bát Tiên đã đào sạch đất quanh quan tài. Vừa lúc ấy, tôi cũng hóa xong vàng mã, đọc xong chú. Thế nhưng, ngay khi dứt lời, tôi đã cảm thấy khí lạnh lạ thường vây quanh. Trời đang sớm, ánh dương mới mọc, lẽ ra phải ấm áp, vậy mà khắp thân chỉ thấy rùng mình, tựa hồ có luồng gió rét lẩn quẩn chẳng tan.
“Trần bát tiên, giờ đưa quan tài ra trước hay mở nắp ngay trong huyệt?” Cao lão tiến lại, hạ giọng hỏi.
“Tốt nhất mở luôn trong huyệt. Đưa lên trên chẳng lành.” Tôi đứng dậy, dẹp tế thạch sang một bên. Vốn định gọi vào trong mấy tiếng, xem Vương Khiết sống hay chết, nhưng nghĩ lại, nếu chẳng may cô ấy đã khuất, thì lời kêu ấy chẳng khác nào phạm kỵ, để lại ám khí cho cả đời.
Nghe tôi nói vậy, Cao lão hô các Bát Tiên tháo chốt đinh. Họ hì hục nửa canh giờ, cuối cùng cũng gỡ sạch. Nhưng chẳng ai dám đặt tay mở nắp.
Suốt chừng ấy thời gian, trong quan tài tuyệt nhiên không một tiếng động. Nếu Vương Khiết còn sống, lẽ ra phải có chút cựa quậy. Giờ thì im lìm như mồ sâu, ai nấy bất an.
Chúng tôi vòng quanh quan tài mãi. Kiều Y Tư chau mày, hỏi khẽ: “Cửu gia, chẳng lẽ chị Vương Khiết đã gặp chuyện rồi sao?”
Tôi lắc đầu, không biết trả lời thế nào, bèn bảo: “Tránh ra cả đi, để tôi mở quan!”
“Trần bát tiên, cậu còn trẻ, để tôi.” Cao lão khuyên nhủ: “Nếu cô bé trong quan còn sống, thì phúc phận đủ đầy. Nhưng nếu đã chết, người mở nắp sẽ phạm trùng sát. Mà oán khí của kẻ bị chôn sống còn nặng gấp bội tử khí thường, có khi chết ngay tại chỗ. Tôi già rồi, chẳng còn vướng bận, để tôi làm.”
“Không cần nhiều lời. Việc này tôi nhận, chủ ý chôn sống cũng do tôi đề xuất. Các người chỉ phụ giúp, đừng vượt phận!” Tôi xua tay dứt khoát.
“Cửu gia, khí tức bản mệnh cổ trong người tôi còn mạnh, chứng tỏ chị ấy vẫn sống. Chỉ không hiểu sao trong quan lại không một tiếng. Hay để tôi cùng mở với anh, phòng bất trắc. Hơn nữa, tay trái anh đã phế, một mình sao nhấc nổi nắp quan?” Kiều Y Tư tiến lại bên trái tôi, vừa nói vừa bấm mạnh vào cánh tay bị trật khớp. Đau nhói đến mức tôi phải hít mạnh một hơi lạnh.
Nghe chuyện đời của cô, tôi từng thấy thương cảm, định bụng sẽ an ủi vài câu. Nhưng bị cô véo đau thấu xương như thế, trong khoảnh khắc, mọi lòng trắc ẩn bay sạch. Tôi thề, Kiều Y Tư chẳng đáng thương chút nào!
“Sao? Rốt cuộc anh có đồng ý để tôi cùng mở không?” Thấy tôi im lặng, cô ta giận dỗi, lại bấm thêm một cái, đau gấp bội. Tôi nghe rõ tiếng “rắc” nơi khớp xương, dường như lại trật thêm lần nữa.
Tôi muốn khóc mà không khóc nổi. Rõ ràng tôi chưa hề phản đối, vậy mà bị cô ta véo đến hai lượt. Lo cô ta làm thêm lần nữa, tôi vội gật đầu: “Đồng ý! Miễn là cô không sợ, thì cùng tôi mở!”
“Đấy mới là Cửu gia trong lòng tôi! Làm việc dứt khoát, có gánh vác, xứng đáng là bậc nam nhi!” cô nàng cười khẩy, rồi bất ngờ... lại véo thêm một cái nữa.
Đến Phật tổ cũng phải nổi giận, huống hồ là tôi. Tức tối đến cực điểm, tôi gào lên: “Con mẹ nó! Cô điên rồi sao?!”
Chương 72. Chôn sống (phần 19)
Kiều Y Tư cười cười, làu bàu: “Vừa nãy còn khen anh là đàn ông thật sự, thế mà ơn cứu mạng chỉ cảm ơn có vậy thôi sao?”
“Tức là sao?” Tôi xoa xoa cánh tay trái, khó hiểu hỏi.
“Khi nhỏ tôi có học võ, sư phụ từng dạy một chiêu gọi là ‘Thoát tam thủ’, chuyên trị trật khớp. Vừa rồi ba cái đó đã nắn lại khớp tay cho anh rồi. Tuy chưa thể hồi phục hẳn ngay, nhưng ít ra có thể dùng được chút sức.”
Cô ta lườm tôi một cái, rõ ràng còn đang giận.
Tôi thử vung cánh tay trái, quả thật đã đỡ hơn nhiều, chỉ còn hơi nhức âm ỉ. Thế nhưng vấn đề là, sao trước đó cô ta không chịu chữa luôn cho tôi? Giải thích của cô suýt khiến tôi phát điên: “Nhìn anh đau đớn, tôi thấy rất vui.”
Đối với cô nàng này tôi thật sự hết nói nổi. Nhưng nghĩ lại cũng nhờ cô giúp mà tay đã đỡ, tôi nghiêm túc nói một tiếng cảm ơn. Cô ta chỉ gật đầu, mắt thì vẫn dán chặt vào cỗ quan tài, hỏi tôi: “Cửu gia, tiếp theo làm sao đây?”
Nói thật lòng, việc mở quan tài rất kỵ húy. Nếu là người sống thì không sao, nhưng với người chết thì phép tắc nhiều lắm. Lúc này tôi vẫn không biết trong quan tài Vương Khiết là sống hay chết, nên nhất thời cũng khó quyết định.
Suy nghĩ hồi lâu, tôi quyết định cứ theo nghi thức mở quan tài người chết mà làm. Không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất. Dù là quan tài cũng phải giữ đủ sự tôn kính.
Tôi lấy ba nén nhang, ít vàng mã, khom mình vái ba vái trước quan tài, rồi đốt nhang vàng, cắm bên cạnh. Miệng lẩm nhẩm vài câu kinh văn. Trước sau tốn gần nửa tiếng mới làm xong nghi thức.
Xong xuôi, tôi đứng trước quan tài, quay sang Kiều Y Tư dặn: “Thấy có gì không ổn thì chạy sang bên trái ngay!”
Cô gật đầu.
Tôi đặt hai tay dưới nắp quan, từ từ dồn sức nhấc lên. Cảm giác nặng nề vô cùng, sức một mình tôi khó lòng mở nổi, bèn nhờ Kiều Y Tư phụ giúp. Lại một lần nữa tôi nếm mùi “đàn ông không bằng đàn bà”: cô ta chỉ đưa tay trái khẽ ấn một cái, nắp quan đã nhích lên.
“Chậm thôi!” Tôi nhắc, rồi hai tay từ từ nâng, nắp quan mở hé một khe. Tôi cúi đầu nhìn vào trong, tối om, ngay cả bóng dáng Vương Khiết cũng không thấy.
“Nhấc thêm chút nữa!” Tôi nín thở, dòm kỹ vào. Lờ mờ thấy được khuôn mặt Vương Khiết, mắt nhắm nghiền, mặt toàn máu chó đen che phủ, chẳng rõ biểu cảm gì. Nhưng tôi để ý một chi tiết rất nhỏ, có tiếng ngáy khe khẽ, cực kỳ mỏng manh. Cô ấy còn sống!
“Mau, mở hết ra!” Tôi gào lớn, dốc sức hất mạnh nắp quan sang một bên. Một mùi máu tanh nồng nặc xộc thẳng mũi, mùi máu chó.
Tôi bịt mũi, đưa tay thử hơi thở của Vương Khiết...có! Cảm giác khi ấy thật sự khó tả. Tôi gào về phía đám Cao Lão: “Còn sống! Cô ấy còn sống! Nhanh, đưa cô ấy ra ngoài!”
Câu nói ấy vang lên trong nghĩa địa như nổ tung, cả bãi mộ lập tức náo động. Đám Bát Tiên reo lên: “Ha ha ha, thật sự còn sống! Chúng ta thành công rồi!”
Mọi người loay hoay một hồi, cuối cùng cũng kéo được Vương Khiết ra, đặt bên mép mộ. Hơi thở, mạch đập, tim đập đều bình thường. Tôi cầm tay phải cô ta nhìn kỹ, ngay cả đường sinh mệnh cũng đã hiện ra, chỉ là mờ nhạt hơn người thường, nhưng có đường sinh mệnh nghĩa là có sự sống. Như thế là đủ rồi.
Tôi bảo Kiều Y Tư lấy con cổ bản mệnh ra khỏi người Vương Khiết. Cô khẽ gật đầu, bảo chúng tôi quay đi: “Cổ không thể để người ngoài nhìn thấy, nếu không sẽ chết.”
Chúng tôi quay lưng lại, chờ khoảng mười phút vẫn chẳng thấy động tĩnh. Tôi tò mò ngoái lại, liền thấy Kiều Y Tư đã ngã xuống cạnh Vương Khiết, trên mặt nở một nụ cười, vẻ đáng yêu khó tả.
Tôi chỉ biết cười khổ. Cổ bản mệnh rời chủ lâu sẽ làm hại cơ thể, Kiều Y Tư rõ ràng đã gắng gượng đến cùng mà không chịu nói. Tôi đành để mặc. Không ngờ vừa cứu sống Vương Khiết xong thì đến lượt cô kiệt sức.
Đôi khi, chấp niệm của con người còn mạnh hơn bất cứ thứ gì, đủ sức vượt qua giới hạn thân thể. Tôi không biết mình có loại chấp niệm ấy không, nhưng Kiều Y Tư thì chắc chắn có.
Thú thật, nhìn nụ cười ấy tôi có chút rung động. Nhưng chỉ là một thoáng rung động, không hề có tạp niệm khác. Điều khiến tôi động lòng là, mới mười tám tuổi đầu, cô gái này đã có chấp niệm kiên cường như vậy. Những khổ đau cô trải qua hồi nhỏ, e rằng không chỉ như những gì từng kể.
Sau đó, tôi bảo Cao Lão cùng mọi người khiêng quan tài vào mộ trống, cởi bỏ hết quần áo dính khí xấu bỏ vào quan, châm lửa đốt sạch, rồi lấp mộ lại.
Chỉ có đốt sạch những thứ đó mới xua được hết uế khí. Tôi lấy điện thoại gọi cho gia chủ, báo rằng Vương Khiết đã sống lại, sinh hoạt như người bình thường. Bảo ông ấy mang quần áo và vài chai rượu trắng tới.
Đầu dây bên kia sững sờ hơn chục giây mới kịp phản ứng, rồi hét toáng, sau đó cười ha hả. Trong miệng lẩm bẩm: “Sống rồi, con gái tôi sống rồi, con tôi có thể sống như người thường rồi.”
Cười rồi, ông lại bật khóc nức nở.
Có lẽ chỉ những người từng trải qua sinh tử mới hiểu nổi âm thanh ấy. Chúng tôi ngồi ở nghĩa địa hút mấy điếu thuốc, chẳng mấy chốc gia chủ và người vợ trung niên đã mang quần áo, rượu tới. Vừa thấy Vương Khiết nằm bên mộ, cả hai buông đồ, lao tới ôm con mà khóc rống lên. Tiếng khóc chan chứa niềm vui.
Người ta không sợ đang cười mà bật khóc, chỉ sợ đang khóc mà lại bật cười. Nghe tiếng khóc ấy, khóe mắt chúng tôi cũng nhòe đi. Dương Ngôn bảo gió thổi cát bay vào mắt, không ai cười hắn cả, bởi vì gió cũng thổi cát vào mắt chúng tôi.
Vốn dĩ là chuyện vui, nhưng dưới tiếng khóc ấy lại hóa bi thương. Có lẽ, khổ đau nhất đời người là sinh ly tử biệt, mà hạnh phúc lớn nhất chính là “tử” mà được “phục sinh”.
Thoáng chốc lắng đọng, tôi bảo đám Bát Tiên lấy rượu trắng rửa tay, lau người, tẩy sạch uế khí trên thân. Họ nghe xong cũng thấy có lý, chôn sống vốn nhiều uế khí, nếu không trừ sạch e rằng sẽ ảnh hưởng tới gia đình.
Làm xong, mọi người mới trở lại dáng vẻ ban đầu. Chúng tôi nhìn nhau mỉm cười, chẳng ai nói lời nào. Dương Ngôn dường như cũng bị cảm xúc cuốn theo, tiến lại gần tôi: “Trần Bát Tiên, tôi thua tâm phục khẩu phục. Tôi chịu làm đàn em của cậu mười năm. Nhưng nói trước, nghề chính của tôi là trưởng khoa thần kinh, nghề phụ mới là phu khiêng quan. Sau này nếu cần một bác sĩ biết khiêng quan tài, cậu cứ gọi cho tôi.”
Trong lòng tôi có chút nặng nề, chỉ gật đầu không nói, rồi đi thẳng đến chỗ Vương Khiết. Có vài chuyện chưa hiểu, cần đợi cô ấy tỉnh lại mới giải đáp được.
Chương 73: Chôn sống (phần 20)
Đến bên cạnh Vương Khiết, hai vợ chồng họ khóc rất thảm thiết, tất cả đều vì cơn vui mừng hóa giải được tai họa. Tôi bảo người phụ nữ trung niên cởi bỏ y phục của hai người, dùng rượu trắng lau sạch thân thể. Người phụ nữ ấy gật đầu rồi hỏi: “Ngay tại đây sao?”
Tôi “ừm” một tiếng, sau đó bảo bát tiên cùng gia chủ đi xuống núi. Tôi thì xoay người lại, cúi đầu rít vài hơi thuốc, trong lòng có vài điều nghi ngờ vẫn chưa có lời giải, nên tâm trạng cũng chẳng phấn khởi lắm.
Chờ khoảng nửa tiếng, người phụ nữ trung niên gọi tôi quay lại. Vừa nhìn, thấy Vương Khiết và Kiều Y Tư vẫn còn mê man, quần áo đã được thay, bộ cũ thì ném sang một bên.
Tôi bảo bà ta đem đốt hết quần áo cũ, rồi mỗi người cõng một người đưa về nhà gia chủ. Nhân tiện tính toán tiền công, ban đầu nói ba nghìn, cuối cùng gia chủ đưa bốn nghìn, bảo là để cảm tạ ân cứu mạng. Tôi cũng không khách sáo, tiền ai mà chẳng thích, tôi cũng không ngoại lệ, huống chi lông mày tôi còn bị rách một đường, thêm một nghìn cũng chẳng quá đáng.
Sau đó, ăn một bữa cơm trưa tại nhà gia chủ. Món ăn cũng tạm, bát tiên ăn uống rất vui vẻ, còn ồn ào bảo Dương Ngôn tối nay phải đãi rượu ở trấn. Hắn sảng khoái đồng ý ngay.
Giữa tiệc, lão Vương tỉnh lại. Vì phạm xung nên bị tạt phân, người còn hôi hám, phải tắm tám chậu nước mới tẩy sạch mùi. Vừa xong, chẳng nói chẳng rằng, liền ngồi lên mâm rượu mà uống ừng ực. Chúng tôi biết ông ấy đang lấy rượu che giấu nỗi xấu hổ, nên cũng chẳng ai châm chọc, dù sao khi khiêng quan tài ai mà chẳng có lúc sơ suất.
Ăn xong, Dương Ngôn lái chiếc xe sang bốn vòng của hắn đưa bát tiên xuống trấn chuẩn bị ăn tối. Xe ít, một chuyến không đủ chỗ, để tỏ lòng tôn kính, cũng không thể để bát tiên chen chúc, nên Dương Ngôn phải chạy hai lượt mới đưa được hết. Hắn hỏi tôi khi nào xuống, tôi bảo xử lý xong việc ở đây rồi qua, hắn nói chiều sẽ quay lại đón, tôi cũng không từ chối.
Bát tiên đi rồi, căn nhà rộng rãi bỗng trở nên vắng vẻ. Vợ chồng gia chủ bận rộn dọn dẹp bát đũa, còn tôi thì đi đến phòng của Vương Khiết.
Căn phòng không lớn, chừng mười sáu, mười bảy mét vuông, bày biện đơn giản. Trên giường lớn có hai người nằm, Kiều Y Tư và Vương Khiết. Tôi vừa bước đến thì Kiều Y Tư tỉnh lại, nhìn tôi một cái nghi hoặc, rồi hỏi: “Anh sao lại tùy tiện xông vào phòng con gái thế này?”
Sắc mặt tôi có phần nặng nề, khoát tay bảo: “Cô ra ngoài trước đi, tôi có chuyện muốn hỏi Vương Khiết.”
“Chuyện gì? Tôi không thể nghe sao?” cô ta liếc tôi một cái đầy ẩn ý: “Không lẽ anh định nhân lúc chị Vương Khiết đang ngủ mà giở trò sàm sỡ?”
Tôi cạn lời. Trong lòng cô ta, tôi với kẻ háo sắc chắc là một dạng. Nhưng tôi không muốn cãi vã, chỉ đáp: “Chỉ là vài nghi vấn về chuyện chôn sống, tôi muốn xem cô ấy có biết gì không.”
“Thế thì tôi cũng muốn nghe!” Cô ta xếp bằng ngồi ngay đầu giường, ra dáng nhất quyết không chịu đi.
Thấy vậy, tôi đành gật đầu bất lực, bước đến bên Vương Khiết, ấn nhẹ huyệt nhân trung. Đáng lẽ có thể chờ cô ấy tự tỉnh, nhưng trong lòng tôi mơ hồ có dự cảm bất an, không rõ vì sao.
Ấn hai cái, Vương Khiết tỉnh dậy. Trước tiên nhìn tôi một lượt, rồi lại nhìn sang Kiều Y Tư, kế đó liền bò dậy, quỳ sụp xuống đất: “Cảm ơn hai người đã cứu tôi.”
Tôi đỡ cô ấy dậy, ngồi dựa vào đầu giường, không vòng vo, đi thẳng vào vấn đề: “Trong lúc hôn mê cô có cảm thấy gì lạ không?”
Cô ta lắc đầu, khẽ nói: “Không có gì lạ, chỉ giống như nằm mơ. Nhưng giấc mơ ấy rất kỳ quái.”
“Là mơ thấy gì?” tôi hỏi.
Cô ta đáp: “Mơ thấy một người mặc quan phục triều Thanh, ông ấy nói rất nhiều, bảo tôi đừng sợ, sẽ có người cứu tôi.”
“Ông ta có nói tên không?”
“Có. Ông ấy bảo tên Vương Văn Thiệu, là cụ kỵ của tôi.” Vương Khiết nghĩ một lúc rồi nói.
Nghe đến cái tên này, tôi có chút hiểu biết. Ông vốn người Chiết Giang, làm Tể tướng thời Quang Tự, nổi danh cùng Lý Hồng Chương. Cả đời thanh liêm, nhìn thấu chốn quan trường, không màng danh lợi, lại làm nhiều việc thiện như khơi mương, khai khẩn ruộng đất, lập trường học. Danh vọng rất cao, ở đất Chiết Giang được ca tụng là “bậc thanh quan trăm năm có một”.
Nhưng Vương Khiết lại là người Hồ Nam, vậy có gì nhầm lẫn chăng? Tôi liền hỏi ra thắc mắc trong lòng.
Vương Khiết suy nghĩ hồi lâu rồi đáp: “Hồi nhỏ, tôi hình như có nghe ông nội nói, tổ tiên có một vị quan lớn, làm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức, chắc chính là Vương Văn Thiệu. Còn vì sao dòng họ dời về Hồ Nam, chắc cha tôi biết rõ hơn.”
“Tổ tiên ấy trong mơ đã nói những gì?” Tôi không muốn truy cứu sâu chuyện gốc gác nữa, vì thời Quang Tự loạn lạc, ngay cả hoàng đế còn bị khống chế, thì chuyện ông ấy tới Hồ Nam cũng chẳng có gì lạ.
Vương Khiết nhớ lại: “Ông ấy nói rất nhiều, tôi không nhớ hết, chỉ nhớ vài câu. Ông bảo tôi lẽ ra lúc sinh ra đã phải chết yểu, là nhờ ông phù hộ mới sống. Lần này là kiếp nạn, ông bất lực, phải nhờ người ngoài giúp tôi vượt qua. Cuối cùng, ông bảo tôi còn mười năm dương thọ, phải hiếu kính cha mẹ. À, còn nữa, ông nói anh bị phạm ‘Thái Tuế Sát’, cành cây rơi xuống trúng mặt anh là để phá sát này, để anh lấy vết sẹo mà đổi mạng, coi như báo đáp ân cứu mạng cho tôi.”
Câu cuối cùng ấy giải đáp thắc mắc của tôi. Từ sau vụ chôn sống, tôi vẫn không hiểu tại sao trên cây lại vô cớ rơi cành xuống, hóa ra là để tôi “phá tướng”.
Nhưng vấn đề là, tôi từ bao giờ lại mang ‘Thái Tuế Sát’, cần phải lấy vết sẹo để giải hạn? Gần đây tôi chỉ làm vài đám tang, lễ nghi đều chu toàn, chẳng hề đắc tội với vong linh nào, sao lại vướng ‘Thái Tuế Sát’?
Nghĩ mãi không ra, tôi lại hỏi Vương Khiết: “Tổ tiên cô có nói tại sao tôi lại phạm Thái Tuế Sát không?”
“Ông ấy nói không thể tiết lộ!” Vương Khiết liếc tôi một cái, có lẽ thấy không trả lời được nên áy náy, cúi gằm đầu xuống.
Nghe vậy, tôi hơi ngẩn người. “Không thể nói”? Chẳng lẽ là do tang sự lần trước của cha Lý Kiến Dân? Loại mệnh đó trong sách phong thủy có nói rõ, tuyệt đối không được tiết lộ. Tôi vẫn luôn kín miệng, chẳng hề nói với ai. Sau này, Lý Kiến Dân còn mơ thấy cha ông ta, trong mơ không trách cứ, ngược lại còn tạ ơn. Giờ đến tổ tiên Vương Khiết cũng bảo “không thể nói”, tám chín phần mười chính là chỉ loại mệnh ấy.
Nhưng thật kỳ quái, người chết không trách, mà tôi lại phạm Thái Tuế Sát? Thật không sao hiểu nổi…
Chương 74. Dời mộ (phần 1)
Tôi đứng sững bên đầu giường rất lâu, nghĩ mãi mà chẳng ra lẽ. Cuối cùng chỉ có thể tự an ủi rằng, người chết vốn chẳng hề biết số phận mình sẽ thế nào, chẳng qua là mệnh tôi cùng mệnh ông ta va chạm, phạm phải Thái Tuế sát, chứ tuyệt không phải ý muốn của người chết. Chỉ có nghĩ như vậy, lòng tôi mới tạm yên.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, kể từ sau tang sự ấy, tôi liên tiếp gặp chuyện chẳng lành. Trước là trong tang lễ của Lý Hắc Tử, tôi đánh Lưu Khải mà vướng vào lao ngục; sau đó, lúc khiêng bia máu Linh Lung, tôi rơi xuống ao, suýt bị thủy quái lôi đi; mấy hôm trước lại bị đánh phải nhập viện. Hết việc này đến việc khác, như thể vận rủi đã bám riết lấy tôi.
Có lẽ mọi thứ đều đã được định sẵn trong cõi mờ mịt. Hôm ở bệnh viện, chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, tôi bước chân đến phòng bệnh của Vương Khiết nhìn một cái. Nhờ vậy mới nhận mối “chôn sống” này, nếu không, hậu quả thực chẳng dám tưởng. Biết đâu có thể mất mạng bất cứ lúc nào.
Nghĩ vậy, tôi dặn Vương Khiết hãy dưỡng sức cho tốt, dùng quãng mười năm cuối đời mà hiếu thuận cha mẹ. Rồi tôi bước ra ngoài, tính bàn chuyện tiền bạc với gia chủ. Lúc nhận việc, đã nói rõ giá ba nghìn thì là ba nghìn, sau đó họ chủ động đưa thêm một nghìn. Tôi nghĩ mình bị thương mặt mày, lấy thêm chút ít cũng chẳng sao.
Nhưng giờ mà nói, tổ tiên nhà họ đã cứu mạng tôi, một nghìn thì có là gì, thậm chí tôi còn muốn trả lại hết. Có điều, tiền tang ma không được trả lại, đó là điều cấm kỵ, như một thứ nguyền rủa rằng nhà chủ sẽ còn có thêm người chết. Lệ tục ấy tôi hiểu, chỉ đành trả lại phần tiền thừa.
Tôi dây dưa với gia chủ suốt nửa ngày, ông ta sống chết không chịu nhận. Bất đắc dĩ, tôi chỉ có thể nghĩ cách khác để hoàn lại. Có những đồng tiền rất tà, chẳng thể không tin, nhất là với đám Bát Tiên chúng tôi.
Không dám ở nhà họ lâu, tôi dẫn Kiều Y Tư ra đường cái, chặn một chiếc xe máy đi nhờ xuống thị trấn. Tôi mua một nghìn đồng tiền thuốc bổ, cùng ít nến vàng mã. Sau đó bảo Kiều Y Tư với Dương Ngôn ở lại, còn mình thuê xe quay về Vương Trang.
Đã gọi là tạ ơn, thì phải khấn trước người chết, thứ tự ấy không thể đảo lộn. Tôi đặt thuốc bổ ở đầu làng, mang lễ vật đến trước mộ Vương Văn Thiệu, vái ba lạy, đốt ít nến và vàng mã, tỏ lòng biết ơn cứu mạng.
Lúc sắp đi, tôi thấy có một ngôi mộ khác gần như bị giẫm bằng, trong lòng không đành, liền dùng bộ dụng cụ chôn cất ban sáng, sửa sang lại, vun thành một gò giống hệt mộ bên cạnh.
Thực ra, mộ cũ không phải muốn động lúc nào cũng được. Trong năm chỉ có hai dịp có thể đụng đến: một là Tết, hai là Thanh minh. Ngoài ra mà còn xới đất trên mộ, thì bị coi là bất kính với người chết.
Nhưng nghề của tôi vốn ngoại lệ, chẳng mấy khi câu nệ, cũng như đầu bếp thì có thể mang dao theo bên mình vậy thôi.
Sửa sang xong, tôi phủi sạch đất bùn trên áo, hướng mộ mà vái ba vái, cắm thêm ba nén hương, rồi quay lưng rời đi.
Đến cổng làng, tôi đặt gọn thuốc bổ trị giá nghìn tệ trước cửa nhà Vương Khiết, chẳng nói một lời, rồi lẳng lặng bỏ đi. May thay, người nhà cô ấy đều ở trong, không ai nhìn thấy. Nếu không thì lại kéo dài đôi co, mà ở nông thôn, chỉ một món nhỏ cũng đủ để tranh qua cãi lại, không chịu nhận, mình lại cứ muốn gửi, thế là thành chuyện.
Xem như việc ở Vương Trang đã giải quyết xong. Tuy Vương Khiết chỉ còn mười năm dương thọ, nhưng so với cái chết cận kề, mười năm ấy vẫn là món quà trời cho, cũng tính là chuyện tốt.
Tôi đi ra quốc lộ, chẳng thuê xe về thị trấn nữa, mà cứ chậm rãi một mình bước đi. Trong lòng còn một chuyện rối ren: mối tình đầu của tôi, Trình Tiểu Trình. Lúc làm lễ “chôn sống”, tôi hay lén mở QQ, mong thấy tin nhắn, nhưng suốt bao lâu vẫn bặt vô âm tín. Giờ mới rảnh rang, tâm trí lại càng nặng nề.
Con người ta thường vậy, khi thảnh thơi thì tâm mới rối. Tôi liên tiếp gửi cho Trình Tiểu Trình bảy, tám tin, vẫn chẳng có hồi đáp. Lòng tôi như lửa đốt mà đành bất lực, chỉ tự nhủ có lẽ cô ấy bận việc, chưa tiện lên QQ.
Từ Vương Trang đi bộ ra thị trấn mất chừng ba giờ. Tôi định ghé bệnh viện xử lý vết thương ở chân mày. Vừa vào cửa, đã thấy Quách Béo chống gậy, đang lân la bắt chuyện với một y tá nữ. Lại gần nhìn kỹ, hóa ra là Trương Viện Viện.
“Cô y tá xinh đẹp, cho tôi xin cái QQ nhé. Tôi online hai mươi bốn giờ, cô buồn lúc nào cũng có thể tìm tôi trò chuyện.” Quách Béo vẫn chứng nào tật ấy, vừa nói vừa nghiêng người lại gần.
“Thật sự hai mươi bốn giờ đều online?” Trương Viện Viện ngạc nhiên nhìn nó.
“Tất nhiên! Dù lúc nào cô gọi, tôi cũng trả lời tức thì.” Nói rồi nó mở QQ, đưa hẳn cho cô, “Không tin thì cô tự nhập số, thử kết bạn xem sao.”
Trương Viện Viện sững lại, rồi nhận máy gõ vài con số. Thấy tôi bước tới, mặt cô chợt đỏ bừng, dậm chân một cái, ném trả điện thoại cho Quách Béo rồi bỏ đi.
“Cửu ca, sao anh lại tới đây?” Quách Béo cười hề hề, rồi nhìn vết thương trên mặt tôi liền sầm mặt: “Lông mày anh sao thế? Đám đạo sĩ kia lại tìm anh gây sự à?”
“Chuyện ở Vương Trang, sơ suất mà ra thôi.” Tôi lắc đầu, hỏi: “Thế thân thể mày thế nào rồi?”
“Người thì ổn cả, chỉ hơi đau đầu. Cái việc khiêng quan tài chắc không sao.” Nó cười.
“Vậy cây gậy này là sao?” Tôi nhìn cây gậy trong tay nó, trong lòng nổi giận.
Quả nhiên, Quách Béo hừ hừ cười, quẳng gậy sang bên: “Em nói với y tá kia là em bị xe tông vì cứu một đứa trẻ. Thấy em anh dũng thế, cô ấy mới chịu trò chuyện lâu như vậy.”
“Con mẹ!” Tôi buột miệng chửi thề. Với cái đầu óc toàn tinh trùng này, tôi thật chẳng còn lời nào. Vô liêm sỉ đến mức ấy, cũng coi như một cảnh giới rồi.
Đúng lúc đó, “tít tít tít!”, QQ báo tin nhắn.
Thần kinh tôi đang căng liền thả lỏng, lòng thầm reo: Trình Tiểu Trình cuối cùng cũng trả lời rồi. Tôi vội rút điện thoại, nào ngờ nhìn vào, chỉ thấy avatar đen sì, vẫn chẳng có hồi âm.
Tôi đứng chết lặng, lòng chợt thấy mình quá đa nghi. Tất cả cũng chỉ vì câu nói kia của cô ấy: “Tôi thất tình, muốn tự tử.” Câu ấy cứ ám lấy tôi, như tiếng dữ vang mãi. Đàn ông mấy ai không mong tình đầu sống cho ra dáng? Tôi cũng chẳng ngoại lệ.
Đang định hỏi Quách Béo xem có dò hỏi được gì về Trình Tiểu Trình chưa, thì nó đã chìa điện thoại cho tôi, nhăn mặt: “Cửu ca, anh xem giúp em, câu này nghĩa là gì?”
Tôi nhìn, trên QQ hiện đoạn hội thoại:
Bạc Lạnh: Anh thấy mình trông thế nào?
Quách Béo: Tôi xấu lắm, nhưng rất dịu dàng. Em có muốn để tôi làm bạn trai không?
Bạc Lạnh: Thế còn phải xem chữ ‘trông’ đọc thế nào.
Tôi trừng mắt nhìn Quách Béo cả buổi, hỏi hắn Bạc Lạnh là ai. Hắn bảo, chính là cô y tá ban nãy. Trời đất! Ngoài mặt thì ra dáng trong sáng, không ngờ ruột gan lại bạo dạn đến thế. Chữ “trông” còn có cách đọc nào nữa đâu? Tất nhiên là “zhang”, chẳng lẽ lại “chang”? Quả thực chữ nghĩa Trung Hoa, thâm sâu khôn lường.
Chương 75: Dời mộ (phần 2)
Tôi đem ý trong lời nói kể lại cho Quách Béo, cứ tưởng nó sẽ lập tức xóa cô y tá khỏi QQ, ai ngờ nó lại cười ha hả, còn bảo người ta mặc định nó là bạn trai cô ấy rồi.
Thời buổi loạn lạc, tôi chẳng buồn chấp, liền hỏi nó có dò la được tin tức của Trình Tiểu Trình chưa. Nó lắc đầu bảo là không.
Trong lòng tôi có chút gấp gáp, dặn Quách Béo cố gắng tìm tin tức về cô ấy, nếu không được thì tới thẳng trường học, bằng mọi giá cũng phải có manh mối.
Sau đó, tôi vào bệnh viện xử lý vết thương trên lông mày, dán thêm một miếng băng trắng, lấy ít thuốc kháng viêm. Rồi hỏi Quách béo buổi tối có muốn đi uống vài ly không. Nó lắc đầu, nói còn phải về chát QQ với cô y tá nhỏ.
Tôi chửi một câu “trọng sắc khinh bạn”, rồi bước ra khỏi bệnh viện. Trời đã dần tối, hoàng hôn bao phủ thị trấn, cảnh sắc mang theo một vẻ rất khác lạ. Tôi gọi điện cho Dương Ngôn, hỏi hắn ở khách sạn nào. Hắn báo tên khách sạn.
Bữa cơm tối hôm ấy, chúng tôi ngồi suốt bốn tiếng, đến tận mười giờ đêm. Ai nấy đều say túy lúy, ngay cả Kiều Y Tư cũng uống nhiều, không biết là giả say hay thật, cô ấy ôm lấy tôi nói: “Cửu gia, cảm ơn anh đã cứu ba tôi!”
Nghe câu ấy, cả bàn đều lặng đi, không ai nói thêm gì. Bầu không khí bỗng trở nên nặng nề. Ai cũng hiểu, tôi cứu sống không chỉ là Vương Khiết, mà ẩn chứa trong đó là một tầng ý nghĩa khác.
Sau bữa đó, Dương Ngôn đưa đám “bát tiên” về từng làng. Kiều Y Tư thì không có chỗ nào để đi, tôi tính đưa cô ấy vào nhà trọ trong thị trấn. Lão Vương lại nói: “Con gái còn trẻ, lại say rượu, bỏ mặc ở đó không an toàn. Cậu đưa về nhà đi.”
Bất đắc dĩ, tôi chỉ có thể đưa cô về.
Xe xóc nảy nửa tiếng, chúng tôi mới về tới làng Ấu Tử. Lúc chia tay, Dương Ngôn nhìn tôi, giọng trầm nặng: “Cửu ca, có chuyện gì thì gọi cho tôi, lúc nào tôi cũng có mặt.”
Một người đàn ông gần ba mươi tuổi, lại gọi tôi, thằng mới mười tám là “Cửu ca”. Điều này không phải nói tôi có bao nhiêu mị lực, mà là chứng minh Dương Ngôn là một người đàn ông thật sự. Có gánh vác, có khí phách, dám chơi dám chịu, không giả dối.
Hắn có thể nhận thua và gọi tôi một tiếng “Cửu ca”, còn tôi thì không dám tự cao. Không vì lý do gì khác, chỉ bởi trong lần khiêng quan tài này, hắn đã chứng tỏ bản lĩnh đàn ông. Hắn không vì sợ hãi mà bỏ quan tài, điều mà nhiều “bát tiên” khác không làm được. Với một kẻ mới nhập hội, làm được thế quả thực rất khó.
Tôi cười, bảo hắn: “Bác sĩ Dương, cứ tính theo tuổi tác, chuyện cá cược bỏ qua đi. Sau này khi nào cần bác sĩ biết khiêng quan tài, chỉ cần anh đến là được.”
Hắn khẽ lắc đầu, không đáp. Lên xe, thò đầu ra cửa kính hét: “Cửu ca, đừng quên, ngoài việc là bác sĩ, tôi còn là một người đàn ông! Một người đàn ông thật sự!”
Nói xong, chiếc xe bốn vòng tròn nổ máy, cuốn bụi mà đi.
“Tiểu Cửu, hắn nói thế là ý gì? Chẳng lẽ không phải đàn ông thì là thái giám à?” lão Vương ngà ngà men, mặt đỏ hồng hỏi tôi.
Tôi chỉ biết cười khổ: “Chuyện của đám trẻ, ông đừng bận tâm nữa. Về nhà ngủ đi thôi. Kẻo lát nữa bà Vương ngửi thấy mùi rượu, lại tưởng ông sang nhà góa phụ Lưu uống rượu thì phiền.”
“Thằng nhóc này càng ngày càng ranh ma!” lão Vương cười chửi, rồi loạng choạng chạy nhanh về nhà.
Tôi đứng lặng một hồi, nhìn ngôi làng đã nuôi nấng mình mười tám năm, trong lòng dâng lên bao cảm xúc. Tôi đỡ Kiều Y Tư đi về nhà.
Cửa đóng chặt. Tôi gõ vài tiếng, trong nhà vọng ra tiếng cha tôi: “Ai đó? Nửa đêm không ngủ còn gõ cửa làm gì?”
“Cha, là con!” Tôi vội đáp.
Cửa mở ra, cha thấy tôi thì hơi ngẩn người, sau đó liếc sang Kiều Y Tư bên cạnh, mặt biến sắc: “Tiểu Cửu, có phải con làm chuyện phạm pháp gì ngoài kia không?”
“Có đâu cha!” Tôi sững lại.
“Thế cô gái này ở đâu ra? Băng gạc trên trán là thế nào?” Cha nghiêm giọng, còn định giơ tay đánh tôi.
“Bạn con thôi, uống say, không có chỗ ở. Con đưa về để nghỉ một đêm. Còn băng này là do con bất cẩn ở Vương Trang bị rách thôi.” Tôi vội vàng giải thích.
Cha liếc Kiều Y Tư, giọng nặng hơn: “Con bé xinh thế này mà là bạn con sao? Nhà mình nghèo, nhưng chưa ai dính chuyện phạm pháp. Con đừng vì nhất thời mà làm bậy, hủy cả đời mình.”
Cha một tay chống cửa, nhất quyết không cho vào, còn bắt đầu dạy dỗ tôi. Tôi kiên nhẫn giải thích suốt nửa giờ, miệng khô rát, ông mới hơi tin, hỏi lại: “Thật là bạn thôi? Không phải con bắt cóc về?”
“Thật mà, con lớn thế này rồi, chuyện phạm pháp con có dám làm đâu.” Tôi cũng say lơ mơ, đầu nhức nhối, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh.
“Được, cha tạm tin con. Nhưng tối nay con ngủ cùng cha, để cô gái ngủ một mình trong phòng kia. Nhớ kỹ, người ta say rồi, con không được làm điều gì bậy bạ, làm bẩn thanh danh con gái nhà người ta.” Cha chỉ thẳng vào phòng tôi.
Cả đời cha vốn thật thà, trong chuyện dạy con lại càng nghiêm khắc. Dù tôi đã mười tám tuổi, ông vẫn quản chặt, chỉ sợ tôi đi sai một bước mà rơi vào tù tội.
Nghe những lời ấy, khóe mắt tôi bất giác ươn ướt. Từ “cha” thật nặng. Dù ông chỉ là một nông dân bình thường, trong lòng tôi, “cha” vẫn nặng tựa ngàn cân.
Nhất là sau cảnh tượng ở nghĩa địa Vương Trang, tôi càng thấm thía cha mẹ vất vả thế nào. Nửa đời đầu lo cho con cái khôn lớn, nửa đời sau lại lo cho hôn nhân, sự nghiệp. Khi về già, lại còn lo đến cả cháu chắt. Nghĩa tình ấy nặng nề quá, con cái chẳng bao giờ trả nổi.
Tôi gật đầu, đưa tay lau khóe mắt, không nói gì thêm. Vào phòng, đặt Kiều Y Tư nằm xuống giường, cởi giày, đắp chăn cho cô, rồi khẽ bước ra ngoài.
Cha đang ngồi trên ghế, hút thuốc lào, có vẻ như muốn nói điều gì.
“Cha, có chuyện gì thì nói đi, đừng để trong lòng.” Tôi ngồi xuống cạnh ông.
Ông hít một hơi thuốc, ngẩng lên nhìn tôi, lại cúi xuống, im lặng rít thuốc, vẫn chẳng mở miệng.
“Có chuyện gì thì cứ nói, cha con mình cùng bàn. Đừng giữ trong lòng mà hại sức khỏe.” Tôi sốt ruột.
Cha bỗng rít mạnh một hơi, do dự một lúc rồi khẽ nói: “Tiểu Cửu à, lần trước con nhờ lão Vương mang về mười nghìn tệ. Ban đầu cha tính để dành cho con lấy vợ. Nhưng mấy ngày nay, cha cứ mơ một giấc mơ lặp đi lặp lại…”
“Giấc mơ gì?” Tôi vội hỏi.
“Trong mơ, cha thấy cha mình, tức là ông nội con. Ông bảo nhà dột nát, phải dựng lại. Ý là muốn dời mộ. Cha thì chẳng kiếm được bao nhiêu, nhà cũng không còn dư dả, giờ chỉ còn số tiền con mang về. Cha nghĩ… có thể lấy một phần tiền đó, dời mộ cho ông nội con được không?” Cha nói xong, trông ông như già đi thêm vài tuổi.
Trước tình cảnh ấy, không chỉ tôi chết lặng mà cả đám Bát Tiên có mặt cũng đều sững sờ, chẳng ai thốt được nửa lời. Họ vội vàng vác cuốc xông lên đào mộ. May thay, trước đó tôi đã làm phép “phục linh” trên quan tài, nên việc đào bới dễ dàng hơn nhiều.
Chỉ chốc lát, lớp đất trên mặt mộ đã bị xới tung. Tôi lo bọn họ sẽ lỡ tay chạm vào cái bát sứ đặt trên nắp quan, đành phải bảo họ đào vòng quanh, còn tôi tự mình cẩn trọng đào ngay chính giữa.
Cánh tay trái tôi đã trật khớp, không còn dùng được, chỉ còn tay phải nắm lấy cuốc, từng nhát, từng nhát chậm rãi mà đào. Tuyệt đối không thể xem thường cái bát sứ kia. Trong lời lẽ của Bát Tiên chúng tôi, nó được gọi là “bát y phạn”, công dụng tựa như ngọn trường sinh đăng: có tác dụng trấn quan. Chỉ cần nhìn vào chiếc bát ấy, là biết được bên trong quan tài có biến động gì.
Nếu chẳng may bát sứ vỡ, thì quan tài này cũng không cần đào lên nữa. Hỏi tại sao, tôi cũng chẳng rõ, chỉ biết đó là vật truyền tin giữa người sống và quan tài. Một khi bị người ta cố tình phá hỏng, tất sẽ kinh động lũ cô hồn dã quỷ xung quanh. Nhẹ thì bệnh tật triền miên, nặng thì mất nửa cái mạng.
Tôi cẩn thận bới đất chừng dăm ba phút, viền bát sứ dần lộ ra. Bỏ qua kiêng kị “không được giẫm lên mộ phần”, tôi bước đến, cúi xuống gạt đất chung quanh. Bát sứ vẫn nguyên vẹn, chỉ có bên trái một vết nứt mảnh như sợi tơ. Tôi không dám nghĩ nhiều, vội nhấc nó sang một bên, rồi bảo Cao lão rút ống tre cắm trong quan tài ra trước, thông khí đã, cứu người mới là quan trọng.
Nhưng ống tre đã nứt toác, các mảnh tre sắc lẹm, không thể dùng sức mạnh mà kéo ra. Cao lão đành vung cuốc, bổ thẳng xuống chỗ ấy. Trước sau hơn chục nhát, quan tài bị bổ thủng một lỗ to bằng nắm tay.
Tôi chẳng dám lơi lỏng, liền giao cho Cao lão trông giữ miệng lỗ, kẻo đất sụp xuống. Còn tôi quay người, lấy ra một đôi nến đỏ, ba nén hương, chín cân vàng mã. Nếu có người thắc mắc: vì sao phải đúng chín cân? Bởi “cửu” đồng âm với “cứu”, lấy chữ cát tường.
Quan tài vừa lộ thiên, sát khí nặng nề vô cùng. Muốn tránh lũ cô hồn dã quỷ thừa dịp quấy phá, tôi cần thỉnh các vị thần giữ cửa, trấn áp bốn bề. Nếu không, dẫu Vương Khiết còn sống, thì cũng sẽ bệnh tật vây thân.
Tôi đốt nến, cắm hương bên miệng quan, rồi tìm một tảng đá làm tế thạch, quỳ xuống, vừa hóa vàng, vừa đọc chú: “... Giác, Khang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Nga, Tất, Chủy, Tham, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Thừa mệnh mà đến, tốc khởi!”
(Phần “...” là đoạn chú ngữ rườm rà).
Hai mươi tám chữ ấy chính là tên Nhị thập bát tú. Trong mắt Bát Tiên chúng tôi, quan tài là âm trạch, đã là trạch thì ắt có thần giữ cửa. Những vị thần ấy thường là âm sai nơi địa phủ. Còn Nhị thập bát tú vốn là hàng thượng phẩm, tương truyền chuyên để canh giữ lăng tẩm đế vương.
Tôi chẳng còn cách nào khác, đành niệm bừa, vì ngoài chú này, tôi cũng không biết thêm thứ nào. Sách tang điển vốn chỉ toàn lễ tục ma chay, riêng chú này là tôi đọc được từ sách cũ trong nhà một lão nho, thấy lạ nên ghi nhớ. Có hiệu nghiệm hay không thì chẳng rõ, nhưng lễ nghi thì phải đủ.
Trong lúc tôi đọc chú, đám Bát Tiên đã đào sạch đất quanh quan tài. Vừa lúc ấy, tôi cũng hóa xong vàng mã, đọc xong chú. Thế nhưng, ngay khi dứt lời, tôi đã cảm thấy khí lạnh lạ thường vây quanh. Trời đang sớm, ánh dương mới mọc, lẽ ra phải ấm áp, vậy mà khắp thân chỉ thấy rùng mình, tựa hồ có luồng gió rét lẩn quẩn chẳng tan.
“Trần bát tiên, giờ đưa quan tài ra trước hay mở nắp ngay trong huyệt?” Cao lão tiến lại, hạ giọng hỏi.
“Tốt nhất mở luôn trong huyệt. Đưa lên trên chẳng lành.” Tôi đứng dậy, dẹp tế thạch sang một bên. Vốn định gọi vào trong mấy tiếng, xem Vương Khiết sống hay chết, nhưng nghĩ lại, nếu chẳng may cô ấy đã khuất, thì lời kêu ấy chẳng khác nào phạm kỵ, để lại ám khí cho cả đời.
Nghe tôi nói vậy, Cao lão hô các Bát Tiên tháo chốt đinh. Họ hì hục nửa canh giờ, cuối cùng cũng gỡ sạch. Nhưng chẳng ai dám đặt tay mở nắp.
Suốt chừng ấy thời gian, trong quan tài tuyệt nhiên không một tiếng động. Nếu Vương Khiết còn sống, lẽ ra phải có chút cựa quậy. Giờ thì im lìm như mồ sâu, ai nấy bất an.
Chúng tôi vòng quanh quan tài mãi. Kiều Y Tư chau mày, hỏi khẽ: “Cửu gia, chẳng lẽ chị Vương Khiết đã gặp chuyện rồi sao?”
Tôi lắc đầu, không biết trả lời thế nào, bèn bảo: “Tránh ra cả đi, để tôi mở quan!”
“Trần bát tiên, cậu còn trẻ, để tôi.” Cao lão khuyên nhủ: “Nếu cô bé trong quan còn sống, thì phúc phận đủ đầy. Nhưng nếu đã chết, người mở nắp sẽ phạm trùng sát. Mà oán khí của kẻ bị chôn sống còn nặng gấp bội tử khí thường, có khi chết ngay tại chỗ. Tôi già rồi, chẳng còn vướng bận, để tôi làm.”
“Không cần nhiều lời. Việc này tôi nhận, chủ ý chôn sống cũng do tôi đề xuất. Các người chỉ phụ giúp, đừng vượt phận!” Tôi xua tay dứt khoát.
“Cửu gia, khí tức bản mệnh cổ trong người tôi còn mạnh, chứng tỏ chị ấy vẫn sống. Chỉ không hiểu sao trong quan lại không một tiếng. Hay để tôi cùng mở với anh, phòng bất trắc. Hơn nữa, tay trái anh đã phế, một mình sao nhấc nổi nắp quan?” Kiều Y Tư tiến lại bên trái tôi, vừa nói vừa bấm mạnh vào cánh tay bị trật khớp. Đau nhói đến mức tôi phải hít mạnh một hơi lạnh.
Nghe chuyện đời của cô, tôi từng thấy thương cảm, định bụng sẽ an ủi vài câu. Nhưng bị cô véo đau thấu xương như thế, trong khoảnh khắc, mọi lòng trắc ẩn bay sạch. Tôi thề, Kiều Y Tư chẳng đáng thương chút nào!
“Sao? Rốt cuộc anh có đồng ý để tôi cùng mở không?” Thấy tôi im lặng, cô ta giận dỗi, lại bấm thêm một cái, đau gấp bội. Tôi nghe rõ tiếng “rắc” nơi khớp xương, dường như lại trật thêm lần nữa.
Tôi muốn khóc mà không khóc nổi. Rõ ràng tôi chưa hề phản đối, vậy mà bị cô ta véo đến hai lượt. Lo cô ta làm thêm lần nữa, tôi vội gật đầu: “Đồng ý! Miễn là cô không sợ, thì cùng tôi mở!”
“Đấy mới là Cửu gia trong lòng tôi! Làm việc dứt khoát, có gánh vác, xứng đáng là bậc nam nhi!” cô nàng cười khẩy, rồi bất ngờ... lại véo thêm một cái nữa.
Đến Phật tổ cũng phải nổi giận, huống hồ là tôi. Tức tối đến cực điểm, tôi gào lên: “Con mẹ nó! Cô điên rồi sao?!”
Chương 72. Chôn sống (phần 19)
Kiều Y Tư cười cười, làu bàu: “Vừa nãy còn khen anh là đàn ông thật sự, thế mà ơn cứu mạng chỉ cảm ơn có vậy thôi sao?”
“Tức là sao?” Tôi xoa xoa cánh tay trái, khó hiểu hỏi.
“Khi nhỏ tôi có học võ, sư phụ từng dạy một chiêu gọi là ‘Thoát tam thủ’, chuyên trị trật khớp. Vừa rồi ba cái đó đã nắn lại khớp tay cho anh rồi. Tuy chưa thể hồi phục hẳn ngay, nhưng ít ra có thể dùng được chút sức.”
Cô ta lườm tôi một cái, rõ ràng còn đang giận.
Tôi thử vung cánh tay trái, quả thật đã đỡ hơn nhiều, chỉ còn hơi nhức âm ỉ. Thế nhưng vấn đề là, sao trước đó cô ta không chịu chữa luôn cho tôi? Giải thích của cô suýt khiến tôi phát điên: “Nhìn anh đau đớn, tôi thấy rất vui.”
Đối với cô nàng này tôi thật sự hết nói nổi. Nhưng nghĩ lại cũng nhờ cô giúp mà tay đã đỡ, tôi nghiêm túc nói một tiếng cảm ơn. Cô ta chỉ gật đầu, mắt thì vẫn dán chặt vào cỗ quan tài, hỏi tôi: “Cửu gia, tiếp theo làm sao đây?”
Nói thật lòng, việc mở quan tài rất kỵ húy. Nếu là người sống thì không sao, nhưng với người chết thì phép tắc nhiều lắm. Lúc này tôi vẫn không biết trong quan tài Vương Khiết là sống hay chết, nên nhất thời cũng khó quyết định.
Suy nghĩ hồi lâu, tôi quyết định cứ theo nghi thức mở quan tài người chết mà làm. Không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất. Dù là quan tài cũng phải giữ đủ sự tôn kính.
Tôi lấy ba nén nhang, ít vàng mã, khom mình vái ba vái trước quan tài, rồi đốt nhang vàng, cắm bên cạnh. Miệng lẩm nhẩm vài câu kinh văn. Trước sau tốn gần nửa tiếng mới làm xong nghi thức.
Xong xuôi, tôi đứng trước quan tài, quay sang Kiều Y Tư dặn: “Thấy có gì không ổn thì chạy sang bên trái ngay!”
Cô gật đầu.
Tôi đặt hai tay dưới nắp quan, từ từ dồn sức nhấc lên. Cảm giác nặng nề vô cùng, sức một mình tôi khó lòng mở nổi, bèn nhờ Kiều Y Tư phụ giúp. Lại một lần nữa tôi nếm mùi “đàn ông không bằng đàn bà”: cô ta chỉ đưa tay trái khẽ ấn một cái, nắp quan đã nhích lên.
“Chậm thôi!” Tôi nhắc, rồi hai tay từ từ nâng, nắp quan mở hé một khe. Tôi cúi đầu nhìn vào trong, tối om, ngay cả bóng dáng Vương Khiết cũng không thấy.
“Nhấc thêm chút nữa!” Tôi nín thở, dòm kỹ vào. Lờ mờ thấy được khuôn mặt Vương Khiết, mắt nhắm nghiền, mặt toàn máu chó đen che phủ, chẳng rõ biểu cảm gì. Nhưng tôi để ý một chi tiết rất nhỏ, có tiếng ngáy khe khẽ, cực kỳ mỏng manh. Cô ấy còn sống!
“Mau, mở hết ra!” Tôi gào lớn, dốc sức hất mạnh nắp quan sang một bên. Một mùi máu tanh nồng nặc xộc thẳng mũi, mùi máu chó.
Tôi bịt mũi, đưa tay thử hơi thở của Vương Khiết...có! Cảm giác khi ấy thật sự khó tả. Tôi gào về phía đám Cao Lão: “Còn sống! Cô ấy còn sống! Nhanh, đưa cô ấy ra ngoài!”
Câu nói ấy vang lên trong nghĩa địa như nổ tung, cả bãi mộ lập tức náo động. Đám Bát Tiên reo lên: “Ha ha ha, thật sự còn sống! Chúng ta thành công rồi!”
Mọi người loay hoay một hồi, cuối cùng cũng kéo được Vương Khiết ra, đặt bên mép mộ. Hơi thở, mạch đập, tim đập đều bình thường. Tôi cầm tay phải cô ta nhìn kỹ, ngay cả đường sinh mệnh cũng đã hiện ra, chỉ là mờ nhạt hơn người thường, nhưng có đường sinh mệnh nghĩa là có sự sống. Như thế là đủ rồi.
Tôi bảo Kiều Y Tư lấy con cổ bản mệnh ra khỏi người Vương Khiết. Cô khẽ gật đầu, bảo chúng tôi quay đi: “Cổ không thể để người ngoài nhìn thấy, nếu không sẽ chết.”
Chúng tôi quay lưng lại, chờ khoảng mười phút vẫn chẳng thấy động tĩnh. Tôi tò mò ngoái lại, liền thấy Kiều Y Tư đã ngã xuống cạnh Vương Khiết, trên mặt nở một nụ cười, vẻ đáng yêu khó tả.
Tôi chỉ biết cười khổ. Cổ bản mệnh rời chủ lâu sẽ làm hại cơ thể, Kiều Y Tư rõ ràng đã gắng gượng đến cùng mà không chịu nói. Tôi đành để mặc. Không ngờ vừa cứu sống Vương Khiết xong thì đến lượt cô kiệt sức.
Đôi khi, chấp niệm của con người còn mạnh hơn bất cứ thứ gì, đủ sức vượt qua giới hạn thân thể. Tôi không biết mình có loại chấp niệm ấy không, nhưng Kiều Y Tư thì chắc chắn có.
Thú thật, nhìn nụ cười ấy tôi có chút rung động. Nhưng chỉ là một thoáng rung động, không hề có tạp niệm khác. Điều khiến tôi động lòng là, mới mười tám tuổi đầu, cô gái này đã có chấp niệm kiên cường như vậy. Những khổ đau cô trải qua hồi nhỏ, e rằng không chỉ như những gì từng kể.
Sau đó, tôi bảo Cao Lão cùng mọi người khiêng quan tài vào mộ trống, cởi bỏ hết quần áo dính khí xấu bỏ vào quan, châm lửa đốt sạch, rồi lấp mộ lại.
Chỉ có đốt sạch những thứ đó mới xua được hết uế khí. Tôi lấy điện thoại gọi cho gia chủ, báo rằng Vương Khiết đã sống lại, sinh hoạt như người bình thường. Bảo ông ấy mang quần áo và vài chai rượu trắng tới.
Đầu dây bên kia sững sờ hơn chục giây mới kịp phản ứng, rồi hét toáng, sau đó cười ha hả. Trong miệng lẩm bẩm: “Sống rồi, con gái tôi sống rồi, con tôi có thể sống như người thường rồi.”
Cười rồi, ông lại bật khóc nức nở.
Có lẽ chỉ những người từng trải qua sinh tử mới hiểu nổi âm thanh ấy. Chúng tôi ngồi ở nghĩa địa hút mấy điếu thuốc, chẳng mấy chốc gia chủ và người vợ trung niên đã mang quần áo, rượu tới. Vừa thấy Vương Khiết nằm bên mộ, cả hai buông đồ, lao tới ôm con mà khóc rống lên. Tiếng khóc chan chứa niềm vui.
Người ta không sợ đang cười mà bật khóc, chỉ sợ đang khóc mà lại bật cười. Nghe tiếng khóc ấy, khóe mắt chúng tôi cũng nhòe đi. Dương Ngôn bảo gió thổi cát bay vào mắt, không ai cười hắn cả, bởi vì gió cũng thổi cát vào mắt chúng tôi.
Vốn dĩ là chuyện vui, nhưng dưới tiếng khóc ấy lại hóa bi thương. Có lẽ, khổ đau nhất đời người là sinh ly tử biệt, mà hạnh phúc lớn nhất chính là “tử” mà được “phục sinh”.
Thoáng chốc lắng đọng, tôi bảo đám Bát Tiên lấy rượu trắng rửa tay, lau người, tẩy sạch uế khí trên thân. Họ nghe xong cũng thấy có lý, chôn sống vốn nhiều uế khí, nếu không trừ sạch e rằng sẽ ảnh hưởng tới gia đình.
Làm xong, mọi người mới trở lại dáng vẻ ban đầu. Chúng tôi nhìn nhau mỉm cười, chẳng ai nói lời nào. Dương Ngôn dường như cũng bị cảm xúc cuốn theo, tiến lại gần tôi: “Trần Bát Tiên, tôi thua tâm phục khẩu phục. Tôi chịu làm đàn em của cậu mười năm. Nhưng nói trước, nghề chính của tôi là trưởng khoa thần kinh, nghề phụ mới là phu khiêng quan. Sau này nếu cần một bác sĩ biết khiêng quan tài, cậu cứ gọi cho tôi.”
Trong lòng tôi có chút nặng nề, chỉ gật đầu không nói, rồi đi thẳng đến chỗ Vương Khiết. Có vài chuyện chưa hiểu, cần đợi cô ấy tỉnh lại mới giải đáp được.
Chương 73: Chôn sống (phần 20)
Đến bên cạnh Vương Khiết, hai vợ chồng họ khóc rất thảm thiết, tất cả đều vì cơn vui mừng hóa giải được tai họa. Tôi bảo người phụ nữ trung niên cởi bỏ y phục của hai người, dùng rượu trắng lau sạch thân thể. Người phụ nữ ấy gật đầu rồi hỏi: “Ngay tại đây sao?”
Tôi “ừm” một tiếng, sau đó bảo bát tiên cùng gia chủ đi xuống núi. Tôi thì xoay người lại, cúi đầu rít vài hơi thuốc, trong lòng có vài điều nghi ngờ vẫn chưa có lời giải, nên tâm trạng cũng chẳng phấn khởi lắm.
Chờ khoảng nửa tiếng, người phụ nữ trung niên gọi tôi quay lại. Vừa nhìn, thấy Vương Khiết và Kiều Y Tư vẫn còn mê man, quần áo đã được thay, bộ cũ thì ném sang một bên.
Tôi bảo bà ta đem đốt hết quần áo cũ, rồi mỗi người cõng một người đưa về nhà gia chủ. Nhân tiện tính toán tiền công, ban đầu nói ba nghìn, cuối cùng gia chủ đưa bốn nghìn, bảo là để cảm tạ ân cứu mạng. Tôi cũng không khách sáo, tiền ai mà chẳng thích, tôi cũng không ngoại lệ, huống chi lông mày tôi còn bị rách một đường, thêm một nghìn cũng chẳng quá đáng.
Sau đó, ăn một bữa cơm trưa tại nhà gia chủ. Món ăn cũng tạm, bát tiên ăn uống rất vui vẻ, còn ồn ào bảo Dương Ngôn tối nay phải đãi rượu ở trấn. Hắn sảng khoái đồng ý ngay.
Giữa tiệc, lão Vương tỉnh lại. Vì phạm xung nên bị tạt phân, người còn hôi hám, phải tắm tám chậu nước mới tẩy sạch mùi. Vừa xong, chẳng nói chẳng rằng, liền ngồi lên mâm rượu mà uống ừng ực. Chúng tôi biết ông ấy đang lấy rượu che giấu nỗi xấu hổ, nên cũng chẳng ai châm chọc, dù sao khi khiêng quan tài ai mà chẳng có lúc sơ suất.
Ăn xong, Dương Ngôn lái chiếc xe sang bốn vòng của hắn đưa bát tiên xuống trấn chuẩn bị ăn tối. Xe ít, một chuyến không đủ chỗ, để tỏ lòng tôn kính, cũng không thể để bát tiên chen chúc, nên Dương Ngôn phải chạy hai lượt mới đưa được hết. Hắn hỏi tôi khi nào xuống, tôi bảo xử lý xong việc ở đây rồi qua, hắn nói chiều sẽ quay lại đón, tôi cũng không từ chối.
Bát tiên đi rồi, căn nhà rộng rãi bỗng trở nên vắng vẻ. Vợ chồng gia chủ bận rộn dọn dẹp bát đũa, còn tôi thì đi đến phòng của Vương Khiết.
Căn phòng không lớn, chừng mười sáu, mười bảy mét vuông, bày biện đơn giản. Trên giường lớn có hai người nằm, Kiều Y Tư và Vương Khiết. Tôi vừa bước đến thì Kiều Y Tư tỉnh lại, nhìn tôi một cái nghi hoặc, rồi hỏi: “Anh sao lại tùy tiện xông vào phòng con gái thế này?”
Sắc mặt tôi có phần nặng nề, khoát tay bảo: “Cô ra ngoài trước đi, tôi có chuyện muốn hỏi Vương Khiết.”
“Chuyện gì? Tôi không thể nghe sao?” cô ta liếc tôi một cái đầy ẩn ý: “Không lẽ anh định nhân lúc chị Vương Khiết đang ngủ mà giở trò sàm sỡ?”
Tôi cạn lời. Trong lòng cô ta, tôi với kẻ háo sắc chắc là một dạng. Nhưng tôi không muốn cãi vã, chỉ đáp: “Chỉ là vài nghi vấn về chuyện chôn sống, tôi muốn xem cô ấy có biết gì không.”
“Thế thì tôi cũng muốn nghe!” Cô ta xếp bằng ngồi ngay đầu giường, ra dáng nhất quyết không chịu đi.
Thấy vậy, tôi đành gật đầu bất lực, bước đến bên Vương Khiết, ấn nhẹ huyệt nhân trung. Đáng lẽ có thể chờ cô ấy tự tỉnh, nhưng trong lòng tôi mơ hồ có dự cảm bất an, không rõ vì sao.
Ấn hai cái, Vương Khiết tỉnh dậy. Trước tiên nhìn tôi một lượt, rồi lại nhìn sang Kiều Y Tư, kế đó liền bò dậy, quỳ sụp xuống đất: “Cảm ơn hai người đã cứu tôi.”
Tôi đỡ cô ấy dậy, ngồi dựa vào đầu giường, không vòng vo, đi thẳng vào vấn đề: “Trong lúc hôn mê cô có cảm thấy gì lạ không?”
Cô ta lắc đầu, khẽ nói: “Không có gì lạ, chỉ giống như nằm mơ. Nhưng giấc mơ ấy rất kỳ quái.”
“Là mơ thấy gì?” tôi hỏi.
Cô ta đáp: “Mơ thấy một người mặc quan phục triều Thanh, ông ấy nói rất nhiều, bảo tôi đừng sợ, sẽ có người cứu tôi.”
“Ông ta có nói tên không?”
“Có. Ông ấy bảo tên Vương Văn Thiệu, là cụ kỵ của tôi.” Vương Khiết nghĩ một lúc rồi nói.
Nghe đến cái tên này, tôi có chút hiểu biết. Ông vốn người Chiết Giang, làm Tể tướng thời Quang Tự, nổi danh cùng Lý Hồng Chương. Cả đời thanh liêm, nhìn thấu chốn quan trường, không màng danh lợi, lại làm nhiều việc thiện như khơi mương, khai khẩn ruộng đất, lập trường học. Danh vọng rất cao, ở đất Chiết Giang được ca tụng là “bậc thanh quan trăm năm có một”.
Nhưng Vương Khiết lại là người Hồ Nam, vậy có gì nhầm lẫn chăng? Tôi liền hỏi ra thắc mắc trong lòng.
Vương Khiết suy nghĩ hồi lâu rồi đáp: “Hồi nhỏ, tôi hình như có nghe ông nội nói, tổ tiên có một vị quan lớn, làm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức, chắc chính là Vương Văn Thiệu. Còn vì sao dòng họ dời về Hồ Nam, chắc cha tôi biết rõ hơn.”
“Tổ tiên ấy trong mơ đã nói những gì?” Tôi không muốn truy cứu sâu chuyện gốc gác nữa, vì thời Quang Tự loạn lạc, ngay cả hoàng đế còn bị khống chế, thì chuyện ông ấy tới Hồ Nam cũng chẳng có gì lạ.
Vương Khiết nhớ lại: “Ông ấy nói rất nhiều, tôi không nhớ hết, chỉ nhớ vài câu. Ông bảo tôi lẽ ra lúc sinh ra đã phải chết yểu, là nhờ ông phù hộ mới sống. Lần này là kiếp nạn, ông bất lực, phải nhờ người ngoài giúp tôi vượt qua. Cuối cùng, ông bảo tôi còn mười năm dương thọ, phải hiếu kính cha mẹ. À, còn nữa, ông nói anh bị phạm ‘Thái Tuế Sát’, cành cây rơi xuống trúng mặt anh là để phá sát này, để anh lấy vết sẹo mà đổi mạng, coi như báo đáp ân cứu mạng cho tôi.”
Câu cuối cùng ấy giải đáp thắc mắc của tôi. Từ sau vụ chôn sống, tôi vẫn không hiểu tại sao trên cây lại vô cớ rơi cành xuống, hóa ra là để tôi “phá tướng”.
Nhưng vấn đề là, tôi từ bao giờ lại mang ‘Thái Tuế Sát’, cần phải lấy vết sẹo để giải hạn? Gần đây tôi chỉ làm vài đám tang, lễ nghi đều chu toàn, chẳng hề đắc tội với vong linh nào, sao lại vướng ‘Thái Tuế Sát’?
Nghĩ mãi không ra, tôi lại hỏi Vương Khiết: “Tổ tiên cô có nói tại sao tôi lại phạm Thái Tuế Sát không?”
“Ông ấy nói không thể tiết lộ!” Vương Khiết liếc tôi một cái, có lẽ thấy không trả lời được nên áy náy, cúi gằm đầu xuống.
Nghe vậy, tôi hơi ngẩn người. “Không thể nói”? Chẳng lẽ là do tang sự lần trước của cha Lý Kiến Dân? Loại mệnh đó trong sách phong thủy có nói rõ, tuyệt đối không được tiết lộ. Tôi vẫn luôn kín miệng, chẳng hề nói với ai. Sau này, Lý Kiến Dân còn mơ thấy cha ông ta, trong mơ không trách cứ, ngược lại còn tạ ơn. Giờ đến tổ tiên Vương Khiết cũng bảo “không thể nói”, tám chín phần mười chính là chỉ loại mệnh ấy.
Nhưng thật kỳ quái, người chết không trách, mà tôi lại phạm Thái Tuế Sát? Thật không sao hiểu nổi…
Chương 74. Dời mộ (phần 1)
Tôi đứng sững bên đầu giường rất lâu, nghĩ mãi mà chẳng ra lẽ. Cuối cùng chỉ có thể tự an ủi rằng, người chết vốn chẳng hề biết số phận mình sẽ thế nào, chẳng qua là mệnh tôi cùng mệnh ông ta va chạm, phạm phải Thái Tuế sát, chứ tuyệt không phải ý muốn của người chết. Chỉ có nghĩ như vậy, lòng tôi mới tạm yên.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, kể từ sau tang sự ấy, tôi liên tiếp gặp chuyện chẳng lành. Trước là trong tang lễ của Lý Hắc Tử, tôi đánh Lưu Khải mà vướng vào lao ngục; sau đó, lúc khiêng bia máu Linh Lung, tôi rơi xuống ao, suýt bị thủy quái lôi đi; mấy hôm trước lại bị đánh phải nhập viện. Hết việc này đến việc khác, như thể vận rủi đã bám riết lấy tôi.
Có lẽ mọi thứ đều đã được định sẵn trong cõi mờ mịt. Hôm ở bệnh viện, chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, tôi bước chân đến phòng bệnh của Vương Khiết nhìn một cái. Nhờ vậy mới nhận mối “chôn sống” này, nếu không, hậu quả thực chẳng dám tưởng. Biết đâu có thể mất mạng bất cứ lúc nào.
Nghĩ vậy, tôi dặn Vương Khiết hãy dưỡng sức cho tốt, dùng quãng mười năm cuối đời mà hiếu thuận cha mẹ. Rồi tôi bước ra ngoài, tính bàn chuyện tiền bạc với gia chủ. Lúc nhận việc, đã nói rõ giá ba nghìn thì là ba nghìn, sau đó họ chủ động đưa thêm một nghìn. Tôi nghĩ mình bị thương mặt mày, lấy thêm chút ít cũng chẳng sao.
Nhưng giờ mà nói, tổ tiên nhà họ đã cứu mạng tôi, một nghìn thì có là gì, thậm chí tôi còn muốn trả lại hết. Có điều, tiền tang ma không được trả lại, đó là điều cấm kỵ, như một thứ nguyền rủa rằng nhà chủ sẽ còn có thêm người chết. Lệ tục ấy tôi hiểu, chỉ đành trả lại phần tiền thừa.
Tôi dây dưa với gia chủ suốt nửa ngày, ông ta sống chết không chịu nhận. Bất đắc dĩ, tôi chỉ có thể nghĩ cách khác để hoàn lại. Có những đồng tiền rất tà, chẳng thể không tin, nhất là với đám Bát Tiên chúng tôi.
Không dám ở nhà họ lâu, tôi dẫn Kiều Y Tư ra đường cái, chặn một chiếc xe máy đi nhờ xuống thị trấn. Tôi mua một nghìn đồng tiền thuốc bổ, cùng ít nến vàng mã. Sau đó bảo Kiều Y Tư với Dương Ngôn ở lại, còn mình thuê xe quay về Vương Trang.
Đã gọi là tạ ơn, thì phải khấn trước người chết, thứ tự ấy không thể đảo lộn. Tôi đặt thuốc bổ ở đầu làng, mang lễ vật đến trước mộ Vương Văn Thiệu, vái ba lạy, đốt ít nến và vàng mã, tỏ lòng biết ơn cứu mạng.
Lúc sắp đi, tôi thấy có một ngôi mộ khác gần như bị giẫm bằng, trong lòng không đành, liền dùng bộ dụng cụ chôn cất ban sáng, sửa sang lại, vun thành một gò giống hệt mộ bên cạnh.
Thực ra, mộ cũ không phải muốn động lúc nào cũng được. Trong năm chỉ có hai dịp có thể đụng đến: một là Tết, hai là Thanh minh. Ngoài ra mà còn xới đất trên mộ, thì bị coi là bất kính với người chết.
Nhưng nghề của tôi vốn ngoại lệ, chẳng mấy khi câu nệ, cũng như đầu bếp thì có thể mang dao theo bên mình vậy thôi.
Sửa sang xong, tôi phủi sạch đất bùn trên áo, hướng mộ mà vái ba vái, cắm thêm ba nén hương, rồi quay lưng rời đi.
Đến cổng làng, tôi đặt gọn thuốc bổ trị giá nghìn tệ trước cửa nhà Vương Khiết, chẳng nói một lời, rồi lẳng lặng bỏ đi. May thay, người nhà cô ấy đều ở trong, không ai nhìn thấy. Nếu không thì lại kéo dài đôi co, mà ở nông thôn, chỉ một món nhỏ cũng đủ để tranh qua cãi lại, không chịu nhận, mình lại cứ muốn gửi, thế là thành chuyện.
Xem như việc ở Vương Trang đã giải quyết xong. Tuy Vương Khiết chỉ còn mười năm dương thọ, nhưng so với cái chết cận kề, mười năm ấy vẫn là món quà trời cho, cũng tính là chuyện tốt.
Tôi đi ra quốc lộ, chẳng thuê xe về thị trấn nữa, mà cứ chậm rãi một mình bước đi. Trong lòng còn một chuyện rối ren: mối tình đầu của tôi, Trình Tiểu Trình. Lúc làm lễ “chôn sống”, tôi hay lén mở QQ, mong thấy tin nhắn, nhưng suốt bao lâu vẫn bặt vô âm tín. Giờ mới rảnh rang, tâm trí lại càng nặng nề.
Con người ta thường vậy, khi thảnh thơi thì tâm mới rối. Tôi liên tiếp gửi cho Trình Tiểu Trình bảy, tám tin, vẫn chẳng có hồi đáp. Lòng tôi như lửa đốt mà đành bất lực, chỉ tự nhủ có lẽ cô ấy bận việc, chưa tiện lên QQ.
Từ Vương Trang đi bộ ra thị trấn mất chừng ba giờ. Tôi định ghé bệnh viện xử lý vết thương ở chân mày. Vừa vào cửa, đã thấy Quách Béo chống gậy, đang lân la bắt chuyện với một y tá nữ. Lại gần nhìn kỹ, hóa ra là Trương Viện Viện.
“Cô y tá xinh đẹp, cho tôi xin cái QQ nhé. Tôi online hai mươi bốn giờ, cô buồn lúc nào cũng có thể tìm tôi trò chuyện.” Quách Béo vẫn chứng nào tật ấy, vừa nói vừa nghiêng người lại gần.
“Thật sự hai mươi bốn giờ đều online?” Trương Viện Viện ngạc nhiên nhìn nó.
“Tất nhiên! Dù lúc nào cô gọi, tôi cũng trả lời tức thì.” Nói rồi nó mở QQ, đưa hẳn cho cô, “Không tin thì cô tự nhập số, thử kết bạn xem sao.”
Trương Viện Viện sững lại, rồi nhận máy gõ vài con số. Thấy tôi bước tới, mặt cô chợt đỏ bừng, dậm chân một cái, ném trả điện thoại cho Quách Béo rồi bỏ đi.
“Cửu ca, sao anh lại tới đây?” Quách Béo cười hề hề, rồi nhìn vết thương trên mặt tôi liền sầm mặt: “Lông mày anh sao thế? Đám đạo sĩ kia lại tìm anh gây sự à?”
“Chuyện ở Vương Trang, sơ suất mà ra thôi.” Tôi lắc đầu, hỏi: “Thế thân thể mày thế nào rồi?”
“Người thì ổn cả, chỉ hơi đau đầu. Cái việc khiêng quan tài chắc không sao.” Nó cười.
“Vậy cây gậy này là sao?” Tôi nhìn cây gậy trong tay nó, trong lòng nổi giận.
Quả nhiên, Quách Béo hừ hừ cười, quẳng gậy sang bên: “Em nói với y tá kia là em bị xe tông vì cứu một đứa trẻ. Thấy em anh dũng thế, cô ấy mới chịu trò chuyện lâu như vậy.”
“Con mẹ!” Tôi buột miệng chửi thề. Với cái đầu óc toàn tinh trùng này, tôi thật chẳng còn lời nào. Vô liêm sỉ đến mức ấy, cũng coi như một cảnh giới rồi.
Đúng lúc đó, “tít tít tít!”, QQ báo tin nhắn.
Thần kinh tôi đang căng liền thả lỏng, lòng thầm reo: Trình Tiểu Trình cuối cùng cũng trả lời rồi. Tôi vội rút điện thoại, nào ngờ nhìn vào, chỉ thấy avatar đen sì, vẫn chẳng có hồi âm.
Tôi đứng chết lặng, lòng chợt thấy mình quá đa nghi. Tất cả cũng chỉ vì câu nói kia của cô ấy: “Tôi thất tình, muốn tự tử.” Câu ấy cứ ám lấy tôi, như tiếng dữ vang mãi. Đàn ông mấy ai không mong tình đầu sống cho ra dáng? Tôi cũng chẳng ngoại lệ.
Đang định hỏi Quách Béo xem có dò hỏi được gì về Trình Tiểu Trình chưa, thì nó đã chìa điện thoại cho tôi, nhăn mặt: “Cửu ca, anh xem giúp em, câu này nghĩa là gì?”
Tôi nhìn, trên QQ hiện đoạn hội thoại:
Bạc Lạnh: Anh thấy mình trông thế nào?
Quách Béo: Tôi xấu lắm, nhưng rất dịu dàng. Em có muốn để tôi làm bạn trai không?
Bạc Lạnh: Thế còn phải xem chữ ‘trông’ đọc thế nào.
Tôi trừng mắt nhìn Quách Béo cả buổi, hỏi hắn Bạc Lạnh là ai. Hắn bảo, chính là cô y tá ban nãy. Trời đất! Ngoài mặt thì ra dáng trong sáng, không ngờ ruột gan lại bạo dạn đến thế. Chữ “trông” còn có cách đọc nào nữa đâu? Tất nhiên là “zhang”, chẳng lẽ lại “chang”? Quả thực chữ nghĩa Trung Hoa, thâm sâu khôn lường.
Chương 75: Dời mộ (phần 2)
Tôi đem ý trong lời nói kể lại cho Quách Béo, cứ tưởng nó sẽ lập tức xóa cô y tá khỏi QQ, ai ngờ nó lại cười ha hả, còn bảo người ta mặc định nó là bạn trai cô ấy rồi.
Thời buổi loạn lạc, tôi chẳng buồn chấp, liền hỏi nó có dò la được tin tức của Trình Tiểu Trình chưa. Nó lắc đầu bảo là không.
Trong lòng tôi có chút gấp gáp, dặn Quách Béo cố gắng tìm tin tức về cô ấy, nếu không được thì tới thẳng trường học, bằng mọi giá cũng phải có manh mối.
Sau đó, tôi vào bệnh viện xử lý vết thương trên lông mày, dán thêm một miếng băng trắng, lấy ít thuốc kháng viêm. Rồi hỏi Quách béo buổi tối có muốn đi uống vài ly không. Nó lắc đầu, nói còn phải về chát QQ với cô y tá nhỏ.
Tôi chửi một câu “trọng sắc khinh bạn”, rồi bước ra khỏi bệnh viện. Trời đã dần tối, hoàng hôn bao phủ thị trấn, cảnh sắc mang theo một vẻ rất khác lạ. Tôi gọi điện cho Dương Ngôn, hỏi hắn ở khách sạn nào. Hắn báo tên khách sạn.
Bữa cơm tối hôm ấy, chúng tôi ngồi suốt bốn tiếng, đến tận mười giờ đêm. Ai nấy đều say túy lúy, ngay cả Kiều Y Tư cũng uống nhiều, không biết là giả say hay thật, cô ấy ôm lấy tôi nói: “Cửu gia, cảm ơn anh đã cứu ba tôi!”
Nghe câu ấy, cả bàn đều lặng đi, không ai nói thêm gì. Bầu không khí bỗng trở nên nặng nề. Ai cũng hiểu, tôi cứu sống không chỉ là Vương Khiết, mà ẩn chứa trong đó là một tầng ý nghĩa khác.
Sau bữa đó, Dương Ngôn đưa đám “bát tiên” về từng làng. Kiều Y Tư thì không có chỗ nào để đi, tôi tính đưa cô ấy vào nhà trọ trong thị trấn. Lão Vương lại nói: “Con gái còn trẻ, lại say rượu, bỏ mặc ở đó không an toàn. Cậu đưa về nhà đi.”
Bất đắc dĩ, tôi chỉ có thể đưa cô về.
Xe xóc nảy nửa tiếng, chúng tôi mới về tới làng Ấu Tử. Lúc chia tay, Dương Ngôn nhìn tôi, giọng trầm nặng: “Cửu ca, có chuyện gì thì gọi cho tôi, lúc nào tôi cũng có mặt.”
Một người đàn ông gần ba mươi tuổi, lại gọi tôi, thằng mới mười tám là “Cửu ca”. Điều này không phải nói tôi có bao nhiêu mị lực, mà là chứng minh Dương Ngôn là một người đàn ông thật sự. Có gánh vác, có khí phách, dám chơi dám chịu, không giả dối.
Hắn có thể nhận thua và gọi tôi một tiếng “Cửu ca”, còn tôi thì không dám tự cao. Không vì lý do gì khác, chỉ bởi trong lần khiêng quan tài này, hắn đã chứng tỏ bản lĩnh đàn ông. Hắn không vì sợ hãi mà bỏ quan tài, điều mà nhiều “bát tiên” khác không làm được. Với một kẻ mới nhập hội, làm được thế quả thực rất khó.
Tôi cười, bảo hắn: “Bác sĩ Dương, cứ tính theo tuổi tác, chuyện cá cược bỏ qua đi. Sau này khi nào cần bác sĩ biết khiêng quan tài, chỉ cần anh đến là được.”
Hắn khẽ lắc đầu, không đáp. Lên xe, thò đầu ra cửa kính hét: “Cửu ca, đừng quên, ngoài việc là bác sĩ, tôi còn là một người đàn ông! Một người đàn ông thật sự!”
Nói xong, chiếc xe bốn vòng tròn nổ máy, cuốn bụi mà đi.
“Tiểu Cửu, hắn nói thế là ý gì? Chẳng lẽ không phải đàn ông thì là thái giám à?” lão Vương ngà ngà men, mặt đỏ hồng hỏi tôi.
Tôi chỉ biết cười khổ: “Chuyện của đám trẻ, ông đừng bận tâm nữa. Về nhà ngủ đi thôi. Kẻo lát nữa bà Vương ngửi thấy mùi rượu, lại tưởng ông sang nhà góa phụ Lưu uống rượu thì phiền.”
“Thằng nhóc này càng ngày càng ranh ma!” lão Vương cười chửi, rồi loạng choạng chạy nhanh về nhà.
Tôi đứng lặng một hồi, nhìn ngôi làng đã nuôi nấng mình mười tám năm, trong lòng dâng lên bao cảm xúc. Tôi đỡ Kiều Y Tư đi về nhà.
Cửa đóng chặt. Tôi gõ vài tiếng, trong nhà vọng ra tiếng cha tôi: “Ai đó? Nửa đêm không ngủ còn gõ cửa làm gì?”
“Cha, là con!” Tôi vội đáp.
Cửa mở ra, cha thấy tôi thì hơi ngẩn người, sau đó liếc sang Kiều Y Tư bên cạnh, mặt biến sắc: “Tiểu Cửu, có phải con làm chuyện phạm pháp gì ngoài kia không?”
“Có đâu cha!” Tôi sững lại.
“Thế cô gái này ở đâu ra? Băng gạc trên trán là thế nào?” Cha nghiêm giọng, còn định giơ tay đánh tôi.
“Bạn con thôi, uống say, không có chỗ ở. Con đưa về để nghỉ một đêm. Còn băng này là do con bất cẩn ở Vương Trang bị rách thôi.” Tôi vội vàng giải thích.
Cha liếc Kiều Y Tư, giọng nặng hơn: “Con bé xinh thế này mà là bạn con sao? Nhà mình nghèo, nhưng chưa ai dính chuyện phạm pháp. Con đừng vì nhất thời mà làm bậy, hủy cả đời mình.”
Cha một tay chống cửa, nhất quyết không cho vào, còn bắt đầu dạy dỗ tôi. Tôi kiên nhẫn giải thích suốt nửa giờ, miệng khô rát, ông mới hơi tin, hỏi lại: “Thật là bạn thôi? Không phải con bắt cóc về?”
“Thật mà, con lớn thế này rồi, chuyện phạm pháp con có dám làm đâu.” Tôi cũng say lơ mơ, đầu nhức nhối, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh.
“Được, cha tạm tin con. Nhưng tối nay con ngủ cùng cha, để cô gái ngủ một mình trong phòng kia. Nhớ kỹ, người ta say rồi, con không được làm điều gì bậy bạ, làm bẩn thanh danh con gái nhà người ta.” Cha chỉ thẳng vào phòng tôi.
Cả đời cha vốn thật thà, trong chuyện dạy con lại càng nghiêm khắc. Dù tôi đã mười tám tuổi, ông vẫn quản chặt, chỉ sợ tôi đi sai một bước mà rơi vào tù tội.
Nghe những lời ấy, khóe mắt tôi bất giác ươn ướt. Từ “cha” thật nặng. Dù ông chỉ là một nông dân bình thường, trong lòng tôi, “cha” vẫn nặng tựa ngàn cân.
Nhất là sau cảnh tượng ở nghĩa địa Vương Trang, tôi càng thấm thía cha mẹ vất vả thế nào. Nửa đời đầu lo cho con cái khôn lớn, nửa đời sau lại lo cho hôn nhân, sự nghiệp. Khi về già, lại còn lo đến cả cháu chắt. Nghĩa tình ấy nặng nề quá, con cái chẳng bao giờ trả nổi.
Tôi gật đầu, đưa tay lau khóe mắt, không nói gì thêm. Vào phòng, đặt Kiều Y Tư nằm xuống giường, cởi giày, đắp chăn cho cô, rồi khẽ bước ra ngoài.
Cha đang ngồi trên ghế, hút thuốc lào, có vẻ như muốn nói điều gì.
“Cha, có chuyện gì thì nói đi, đừng để trong lòng.” Tôi ngồi xuống cạnh ông.
Ông hít một hơi thuốc, ngẩng lên nhìn tôi, lại cúi xuống, im lặng rít thuốc, vẫn chẳng mở miệng.
“Có chuyện gì thì cứ nói, cha con mình cùng bàn. Đừng giữ trong lòng mà hại sức khỏe.” Tôi sốt ruột.
Cha bỗng rít mạnh một hơi, do dự một lúc rồi khẽ nói: “Tiểu Cửu à, lần trước con nhờ lão Vương mang về mười nghìn tệ. Ban đầu cha tính để dành cho con lấy vợ. Nhưng mấy ngày nay, cha cứ mơ một giấc mơ lặp đi lặp lại…”
“Giấc mơ gì?” Tôi vội hỏi.
“Trong mơ, cha thấy cha mình, tức là ông nội con. Ông bảo nhà dột nát, phải dựng lại. Ý là muốn dời mộ. Cha thì chẳng kiếm được bao nhiêu, nhà cũng không còn dư dả, giờ chỉ còn số tiền con mang về. Cha nghĩ… có thể lấy một phần tiền đó, dời mộ cho ông nội con được không?” Cha nói xong, trông ông như già đi thêm vài tuổi.
Reactions:
Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 9 others
. Bác tính dịch hết luôn hả bác
cuốn quá, mong không bị rốp

