Minimalist Forum Reader
Chương 71. Chôn sống (phần 18)
Trước tình cảnh ấy, không chỉ tôi chết lặng mà cả đám Bát Tiên có mặt cũng đều sững sờ, chẳng ai thốt được nửa lời. Họ vội vàng vác cuốc xông lên đào mộ. May thay, trước đó tôi đã làm phép “phục linh” trên quan tài, nên việc đào bới dễ dàng hơn nhiều.
Chỉ chốc lát, lớp đất trên mặt mộ đã bị xới tung. Tôi lo bọn họ sẽ lỡ tay chạm vào cái bát sứ đặt trên nắp quan, đành phải bảo họ đào vòng quanh, còn tôi tự mình cẩn trọng đào ngay chính giữa.
Cánh tay trái tôi đã trật khớp, không còn dùng được, chỉ còn tay phải nắm lấy cuốc, từng nhát, từng nhát chậm rãi mà đào. Tuyệt đối không thể xem thường cái bát sứ kia. Trong lời lẽ của Bát Tiên chúng tôi, nó được gọi là “bát y phạn”, công dụng tựa như ngọn trường sinh đăng: có tác dụng trấn quan. Chỉ cần nhìn vào chiếc bát ấy, là biết được bên trong quan tài có biến động gì.
Nếu chẳng may bát sứ vỡ, thì quan tài này cũng không cần đào lên nữa. Hỏi tại sao, tôi cũng chẳng rõ, chỉ biết đó là vật truyền tin giữa người sống và quan tài. Một khi bị người ta cố tình phá hỏng, tất sẽ kinh động lũ cô hồn dã quỷ xung quanh. Nhẹ thì bệnh tật triền miên, nặng thì mất nửa cái mạng.
Tôi cẩn thận bới đất chừng dăm ba phút, viền bát sứ dần lộ ra. Bỏ qua kiêng kị “không được giẫm lên mộ phần”, tôi bước đến, cúi xuống gạt đất chung quanh. Bát sứ vẫn nguyên vẹn, chỉ có bên trái một vết nứt mảnh như sợi tơ. Tôi không dám nghĩ nhiều, vội nhấc nó sang một bên, rồi bảo Cao lão rút ống tre cắm trong quan tài ra trước, thông khí đã, cứu người mới là quan trọng.
Nhưng ống tre đã nứt toác, các mảnh tre sắc lẹm, không thể dùng sức mạnh mà kéo ra. Cao lão đành vung cuốc, bổ thẳng xuống chỗ ấy. Trước sau hơn chục nhát, quan tài bị bổ thủng một lỗ to bằng nắm tay.
Tôi chẳng dám lơi lỏng, liền giao cho Cao lão trông giữ miệng lỗ, kẻo đất sụp xuống. Còn tôi quay người, lấy ra một đôi nến đỏ, ba nén hương, chín cân vàng mã. Nếu có người thắc mắc: vì sao phải đúng chín cân? Bởi “cửu” đồng âm với “cứu”, lấy chữ cát tường.
Quan tài vừa lộ thiên, sát khí nặng nề vô cùng. Muốn tránh lũ cô hồn dã quỷ thừa dịp quấy phá, tôi cần thỉnh các vị thần giữ cửa, trấn áp bốn bề. Nếu không, dẫu Vương Khiết còn sống, thì cũng sẽ bệnh tật vây thân.
Tôi đốt nến, cắm hương bên miệng quan, rồi tìm một tảng đá làm tế thạch, quỳ xuống, vừa hóa vàng, vừa đọc chú: “... Giác, Khang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Nga, Tất, Chủy, Tham, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Thừa mệnh mà đến, tốc khởi!”
(Phần “...” là đoạn chú ngữ rườm rà).
Hai mươi tám chữ ấy chính là tên Nhị thập bát tú. Trong mắt Bát Tiên chúng tôi, quan tài là âm trạch, đã là trạch thì ắt có thần giữ cửa. Những vị thần ấy thường là âm sai nơi địa phủ. Còn Nhị thập bát tú vốn là hàng thượng phẩm, tương truyền chuyên để canh giữ lăng tẩm đế vương.
Tôi chẳng còn cách nào khác, đành niệm bừa, vì ngoài chú này, tôi cũng không biết thêm thứ nào. Sách tang điển vốn chỉ toàn lễ tục ma chay, riêng chú này là tôi đọc được từ sách cũ trong nhà một lão nho, thấy lạ nên ghi nhớ. Có hiệu nghiệm hay không thì chẳng rõ, nhưng lễ nghi thì phải đủ.
Trong lúc tôi đọc chú, đám Bát Tiên đã đào sạch đất quanh quan tài. Vừa lúc ấy, tôi cũng hóa xong vàng mã, đọc xong chú. Thế nhưng, ngay khi dứt lời, tôi đã cảm thấy khí lạnh lạ thường vây quanh. Trời đang sớm, ánh dương mới mọc, lẽ ra phải ấm áp, vậy mà khắp thân chỉ thấy rùng mình, tựa hồ có luồng gió rét lẩn quẩn chẳng tan.
“Trần bát tiên, giờ đưa quan tài ra trước hay mở nắp ngay trong huyệt?” Cao lão tiến lại, hạ giọng hỏi.
“Tốt nhất mở luôn trong huyệt. Đưa lên trên chẳng lành.” Tôi đứng dậy, dẹp tế thạch sang một bên. Vốn định gọi vào trong mấy tiếng, xem Vương Khiết sống hay chết, nhưng nghĩ lại, nếu chẳng may cô ấy đã khuất, thì lời kêu ấy chẳng khác nào phạm kỵ, để lại ám khí cho cả đời.
Nghe tôi nói vậy, Cao lão hô các Bát Tiên tháo chốt đinh. Họ hì hục nửa canh giờ, cuối cùng cũng gỡ sạch. Nhưng chẳng ai dám đặt tay mở nắp.
Suốt chừng ấy thời gian, trong quan tài tuyệt nhiên không một tiếng động. Nếu Vương Khiết còn sống, lẽ ra phải có chút cựa quậy. Giờ thì im lìm như mồ sâu, ai nấy bất an.
Chúng tôi vòng quanh quan tài mãi. Kiều Y Tư chau mày, hỏi khẽ: “Cửu gia, chẳng lẽ chị Vương Khiết đã gặp chuyện rồi sao?”
Tôi lắc đầu, không biết trả lời thế nào, bèn bảo: “Tránh ra cả đi, để tôi mở quan!”
“Trần bát tiên, cậu còn trẻ, để tôi.” Cao lão khuyên nhủ: “Nếu cô bé trong quan còn sống, thì phúc phận đủ đầy. Nhưng nếu đã chết, người mở nắp sẽ phạm trùng sát. Mà oán khí của kẻ bị chôn sống còn nặng gấp bội tử khí thường, có khi chết ngay tại chỗ. Tôi già rồi, chẳng còn vướng bận, để tôi làm.”
“Không cần nhiều lời. Việc này tôi nhận, chủ ý chôn sống cũng do tôi đề xuất. Các người chỉ phụ giúp, đừng vượt phận!” Tôi xua tay dứt khoát.
“Cửu gia, khí tức bản mệnh cổ trong người tôi còn mạnh, chứng tỏ chị ấy vẫn sống. Chỉ không hiểu sao trong quan lại không một tiếng. Hay để tôi cùng mở với anh, phòng bất trắc. Hơn nữa, tay trái anh đã phế, một mình sao nhấc nổi nắp quan?” Kiều Y Tư tiến lại bên trái tôi, vừa nói vừa bấm mạnh vào cánh tay bị trật khớp. Đau nhói đến mức tôi phải hít mạnh một hơi lạnh.
Nghe chuyện đời của cô, tôi từng thấy thương cảm, định bụng sẽ an ủi vài câu. Nhưng bị cô véo đau thấu xương như thế, trong khoảnh khắc, mọi lòng trắc ẩn bay sạch. Tôi thề, Kiều Y Tư chẳng đáng thương chút nào!
“Sao? Rốt cuộc anh có đồng ý để tôi cùng mở không?” Thấy tôi im lặng, cô ta giận dỗi, lại bấm thêm một cái, đau gấp bội. Tôi nghe rõ tiếng “rắc” nơi khớp xương, dường như lại trật thêm lần nữa.
Tôi muốn khóc mà không khóc nổi. Rõ ràng tôi chưa hề phản đối, vậy mà bị cô ta véo đến hai lượt. Lo cô ta làm thêm lần nữa, tôi vội gật đầu: “Đồng ý! Miễn là cô không sợ, thì cùng tôi mở!”
“Đấy mới là Cửu gia trong lòng tôi! Làm việc dứt khoát, có gánh vác, xứng đáng là bậc nam nhi!” cô nàng cười khẩy, rồi bất ngờ... lại véo thêm một cái nữa.
Đến Phật tổ cũng phải nổi giận, huống hồ là tôi. Tức tối đến cực điểm, tôi gào lên: “Con mẹ nó! Cô điên rồi sao?!”

Chương 72. Chôn sống (phần 19)
Kiều Y Tư cười cười, làu bàu: “Vừa nãy còn khen anh là đàn ông thật sự, thế mà ơn cứu mạng chỉ cảm ơn có vậy thôi sao?”
“Tức là sao?” Tôi xoa xoa cánh tay trái, khó hiểu hỏi.
“Khi nhỏ tôi có học võ, sư phụ từng dạy một chiêu gọi là ‘Thoát tam thủ’, chuyên trị trật khớp. Vừa rồi ba cái đó đã nắn lại khớp tay cho anh rồi. Tuy chưa thể hồi phục hẳn ngay, nhưng ít ra có thể dùng được chút sức.”
Cô ta lườm tôi một cái, rõ ràng còn đang giận.
Tôi thử vung cánh tay trái, quả thật đã đỡ hơn nhiều, chỉ còn hơi nhức âm ỉ. Thế nhưng vấn đề là, sao trước đó cô ta không chịu chữa luôn cho tôi? Giải thích của cô suýt khiến tôi phát điên: “Nhìn anh đau đớn, tôi thấy rất vui.”
Đối với cô nàng này tôi thật sự hết nói nổi. Nhưng nghĩ lại cũng nhờ cô giúp mà tay đã đỡ, tôi nghiêm túc nói một tiếng cảm ơn. Cô ta chỉ gật đầu, mắt thì vẫn dán chặt vào cỗ quan tài, hỏi tôi: “Cửu gia, tiếp theo làm sao đây?”
Nói thật lòng, việc mở quan tài rất kỵ húy. Nếu là người sống thì không sao, nhưng với người chết thì phép tắc nhiều lắm. Lúc này tôi vẫn không biết trong quan tài Vương Khiết là sống hay chết, nên nhất thời cũng khó quyết định.
Suy nghĩ hồi lâu, tôi quyết định cứ theo nghi thức mở quan tài người chết mà làm. Không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất. Dù là quan tài cũng phải giữ đủ sự tôn kính.
Tôi lấy ba nén nhang, ít vàng mã, khom mình vái ba vái trước quan tài, rồi đốt nhang vàng, cắm bên cạnh. Miệng lẩm nhẩm vài câu kinh văn. Trước sau tốn gần nửa tiếng mới làm xong nghi thức.
Xong xuôi, tôi đứng trước quan tài, quay sang Kiều Y Tư dặn: “Thấy có gì không ổn thì chạy sang bên trái ngay!”
Cô gật đầu.
Tôi đặt hai tay dưới nắp quan, từ từ dồn sức nhấc lên. Cảm giác nặng nề vô cùng, sức một mình tôi khó lòng mở nổi, bèn nhờ Kiều Y Tư phụ giúp. Lại một lần nữa tôi nếm mùi “đàn ông không bằng đàn bà”: cô ta chỉ đưa tay trái khẽ ấn một cái, nắp quan đã nhích lên.
“Chậm thôi!” Tôi nhắc, rồi hai tay từ từ nâng, nắp quan mở hé một khe. Tôi cúi đầu nhìn vào trong, tối om, ngay cả bóng dáng Vương Khiết cũng không thấy.
“Nhấc thêm chút nữa!” Tôi nín thở, dòm kỹ vào. Lờ mờ thấy được khuôn mặt Vương Khiết, mắt nhắm nghiền, mặt toàn máu chó đen che phủ, chẳng rõ biểu cảm gì. Nhưng tôi để ý một chi tiết rất nhỏ, có tiếng ngáy khe khẽ, cực kỳ mỏng manh. Cô ấy còn sống!
“Mau, mở hết ra!” Tôi gào lớn, dốc sức hất mạnh nắp quan sang một bên. Một mùi máu tanh nồng nặc xộc thẳng mũi, mùi máu chó.
Tôi bịt mũi, đưa tay thử hơi thở của Vương Khiết...có! Cảm giác khi ấy thật sự khó tả. Tôi gào về phía đám Cao Lão: “Còn sống! Cô ấy còn sống! Nhanh, đưa cô ấy ra ngoài!”
Câu nói ấy vang lên trong nghĩa địa như nổ tung, cả bãi mộ lập tức náo động. Đám Bát Tiên reo lên: “Ha ha ha, thật sự còn sống! Chúng ta thành công rồi!”
Mọi người loay hoay một hồi, cuối cùng cũng kéo được Vương Khiết ra, đặt bên mép mộ. Hơi thở, mạch đập, tim đập đều bình thường. Tôi cầm tay phải cô ta nhìn kỹ, ngay cả đường sinh mệnh cũng đã hiện ra, chỉ là mờ nhạt hơn người thường, nhưng có đường sinh mệnh nghĩa là có sự sống. Như thế là đủ rồi.
Tôi bảo Kiều Y Tư lấy con cổ bản mệnh ra khỏi người Vương Khiết. Cô khẽ gật đầu, bảo chúng tôi quay đi: “Cổ không thể để người ngoài nhìn thấy, nếu không sẽ chết.”
Chúng tôi quay lưng lại, chờ khoảng mười phút vẫn chẳng thấy động tĩnh. Tôi tò mò ngoái lại, liền thấy Kiều Y Tư đã ngã xuống cạnh Vương Khiết, trên mặt nở một nụ cười, vẻ đáng yêu khó tả.
Tôi chỉ biết cười khổ. Cổ bản mệnh rời chủ lâu sẽ làm hại cơ thể, Kiều Y Tư rõ ràng đã gắng gượng đến cùng mà không chịu nói. Tôi đành để mặc. Không ngờ vừa cứu sống Vương Khiết xong thì đến lượt cô kiệt sức.
Đôi khi, chấp niệm của con người còn mạnh hơn bất cứ thứ gì, đủ sức vượt qua giới hạn thân thể. Tôi không biết mình có loại chấp niệm ấy không, nhưng Kiều Y Tư thì chắc chắn có.
Thú thật, nhìn nụ cười ấy tôi có chút rung động. Nhưng chỉ là một thoáng rung động, không hề có tạp niệm khác. Điều khiến tôi động lòng là, mới mười tám tuổi đầu, cô gái này đã có chấp niệm kiên cường như vậy. Những khổ đau cô trải qua hồi nhỏ, e rằng không chỉ như những gì từng kể.
Sau đó, tôi bảo Cao Lão cùng mọi người khiêng quan tài vào mộ trống, cởi bỏ hết quần áo dính khí xấu bỏ vào quan, châm lửa đốt sạch, rồi lấp mộ lại.
Chỉ có đốt sạch những thứ đó mới xua được hết uế khí. Tôi lấy điện thoại gọi cho gia chủ, báo rằng Vương Khiết đã sống lại, sinh hoạt như người bình thường. Bảo ông ấy mang quần áo và vài chai rượu trắng tới.
Đầu dây bên kia sững sờ hơn chục giây mới kịp phản ứng, rồi hét toáng, sau đó cười ha hả. Trong miệng lẩm bẩm: “Sống rồi, con gái tôi sống rồi, con tôi có thể sống như người thường rồi.”
Cười rồi, ông lại bật khóc nức nở.
Có lẽ chỉ những người từng trải qua sinh tử mới hiểu nổi âm thanh ấy. Chúng tôi ngồi ở nghĩa địa hút mấy điếu thuốc, chẳng mấy chốc gia chủ và người vợ trung niên đã mang quần áo, rượu tới. Vừa thấy Vương Khiết nằm bên mộ, cả hai buông đồ, lao tới ôm con mà khóc rống lên. Tiếng khóc chan chứa niềm vui.
Người ta không sợ đang cười mà bật khóc, chỉ sợ đang khóc mà lại bật cười. Nghe tiếng khóc ấy, khóe mắt chúng tôi cũng nhòe đi. Dương Ngôn bảo gió thổi cát bay vào mắt, không ai cười hắn cả, bởi vì gió cũng thổi cát vào mắt chúng tôi.
Vốn dĩ là chuyện vui, nhưng dưới tiếng khóc ấy lại hóa bi thương. Có lẽ, khổ đau nhất đời người là sinh ly tử biệt, mà hạnh phúc lớn nhất chính là “tử” mà được “phục sinh”.
Thoáng chốc lắng đọng, tôi bảo đám Bát Tiên lấy rượu trắng rửa tay, lau người, tẩy sạch uế khí trên thân. Họ nghe xong cũng thấy có lý, chôn sống vốn nhiều uế khí, nếu không trừ sạch e rằng sẽ ảnh hưởng tới gia đình.
Làm xong, mọi người mới trở lại dáng vẻ ban đầu. Chúng tôi nhìn nhau mỉm cười, chẳng ai nói lời nào. Dương Ngôn dường như cũng bị cảm xúc cuốn theo, tiến lại gần tôi: “Trần Bát Tiên, tôi thua tâm phục khẩu phục. Tôi chịu làm đàn em của cậu mười năm. Nhưng nói trước, nghề chính của tôi là trưởng khoa thần kinh, nghề phụ mới là phu khiêng quan. Sau này nếu cần một bác sĩ biết khiêng quan tài, cậu cứ gọi cho tôi.”
Trong lòng tôi có chút nặng nề, chỉ gật đầu không nói, rồi đi thẳng đến chỗ Vương Khiết. Có vài chuyện chưa hiểu, cần đợi cô ấy tỉnh lại mới giải đáp được.

Chương 73: Chôn sống (phần 20)
Đến bên cạnh Vương Khiết, hai vợ chồng họ khóc rất thảm thiết, tất cả đều vì cơn vui mừng hóa giải được tai họa. Tôi bảo người phụ nữ trung niên cởi bỏ y phục của hai người, dùng rượu trắng lau sạch thân thể. Người phụ nữ ấy gật đầu rồi hỏi: “Ngay tại đây sao?”
Tôi “ừm” một tiếng, sau đó bảo bát tiên cùng gia chủ đi xuống núi. Tôi thì xoay người lại, cúi đầu rít vài hơi thuốc, trong lòng có vài điều nghi ngờ vẫn chưa có lời giải, nên tâm trạng cũng chẳng phấn khởi lắm.
Chờ khoảng nửa tiếng, người phụ nữ trung niên gọi tôi quay lại. Vừa nhìn, thấy Vương Khiết và Kiều Y Tư vẫn còn mê man, quần áo đã được thay, bộ cũ thì ném sang một bên.
Tôi bảo bà ta đem đốt hết quần áo cũ, rồi mỗi người cõng một người đưa về nhà gia chủ. Nhân tiện tính toán tiền công, ban đầu nói ba nghìn, cuối cùng gia chủ đưa bốn nghìn, bảo là để cảm tạ ân cứu mạng. Tôi cũng không khách sáo, tiền ai mà chẳng thích, tôi cũng không ngoại lệ, huống chi lông mày tôi còn bị rách một đường, thêm một nghìn cũng chẳng quá đáng.
Sau đó, ăn một bữa cơm trưa tại nhà gia chủ. Món ăn cũng tạm, bát tiên ăn uống rất vui vẻ, còn ồn ào bảo Dương Ngôn tối nay phải đãi rượu ở trấn. Hắn sảng khoái đồng ý ngay.
Giữa tiệc, lão Vương tỉnh lại. Vì phạm xung nên bị tạt phân, người còn hôi hám, phải tắm tám chậu nước mới tẩy sạch mùi. Vừa xong, chẳng nói chẳng rằng, liền ngồi lên mâm rượu mà uống ừng ực. Chúng tôi biết ông ấy đang lấy rượu che giấu nỗi xấu hổ, nên cũng chẳng ai châm chọc, dù sao khi khiêng quan tài ai mà chẳng có lúc sơ suất.
Ăn xong, Dương Ngôn lái chiếc xe sang bốn vòng của hắn đưa bát tiên xuống trấn chuẩn bị ăn tối. Xe ít, một chuyến không đủ chỗ, để tỏ lòng tôn kính, cũng không thể để bát tiên chen chúc, nên Dương Ngôn phải chạy hai lượt mới đưa được hết. Hắn hỏi tôi khi nào xuống, tôi bảo xử lý xong việc ở đây rồi qua, hắn nói chiều sẽ quay lại đón, tôi cũng không từ chối.
Bát tiên đi rồi, căn nhà rộng rãi bỗng trở nên vắng vẻ. Vợ chồng gia chủ bận rộn dọn dẹp bát đũa, còn tôi thì đi đến phòng của Vương Khiết.
Căn phòng không lớn, chừng mười sáu, mười bảy mét vuông, bày biện đơn giản. Trên giường lớn có hai người nằm, Kiều Y Tư và Vương Khiết. Tôi vừa bước đến thì Kiều Y Tư tỉnh lại, nhìn tôi một cái nghi hoặc, rồi hỏi: “Anh sao lại tùy tiện xông vào phòng con gái thế này?”
Sắc mặt tôi có phần nặng nề, khoát tay bảo: “Cô ra ngoài trước đi, tôi có chuyện muốn hỏi Vương Khiết.”
“Chuyện gì? Tôi không thể nghe sao?” cô ta liếc tôi một cái đầy ẩn ý: “Không lẽ anh định nhân lúc chị Vương Khiết đang ngủ mà giở trò sàm sỡ?”
Tôi cạn lời. Trong lòng cô ta, tôi với kẻ háo sắc chắc là một dạng. Nhưng tôi không muốn cãi vã, chỉ đáp: “Chỉ là vài nghi vấn về chuyện chôn sống, tôi muốn xem cô ấy có biết gì không.”
“Thế thì tôi cũng muốn nghe!” Cô ta xếp bằng ngồi ngay đầu giường, ra dáng nhất quyết không chịu đi.
Thấy vậy, tôi đành gật đầu bất lực, bước đến bên Vương Khiết, ấn nhẹ huyệt nhân trung. Đáng lẽ có thể chờ cô ấy tự tỉnh, nhưng trong lòng tôi mơ hồ có dự cảm bất an, không rõ vì sao.
Ấn hai cái, Vương Khiết tỉnh dậy. Trước tiên nhìn tôi một lượt, rồi lại nhìn sang Kiều Y Tư, kế đó liền bò dậy, quỳ sụp xuống đất: “Cảm ơn hai người đã cứu tôi.”
Tôi đỡ cô ấy dậy, ngồi dựa vào đầu giường, không vòng vo, đi thẳng vào vấn đề: “Trong lúc hôn mê cô có cảm thấy gì lạ không?”
Cô ta lắc đầu, khẽ nói: “Không có gì lạ, chỉ giống như nằm mơ. Nhưng giấc mơ ấy rất kỳ quái.”
“Là mơ thấy gì?” tôi hỏi.
Cô ta đáp: “Mơ thấy một người mặc quan phục triều Thanh, ông ấy nói rất nhiều, bảo tôi đừng sợ, sẽ có người cứu tôi.”
“Ông ta có nói tên không?”
“Có. Ông ấy bảo tên Vương Văn Thiệu, là cụ kỵ của tôi.” Vương Khiết nghĩ một lúc rồi nói.
Nghe đến cái tên này, tôi có chút hiểu biết. Ông vốn người Chiết Giang, làm Tể tướng thời Quang Tự, nổi danh cùng Lý Hồng Chương. Cả đời thanh liêm, nhìn thấu chốn quan trường, không màng danh lợi, lại làm nhiều việc thiện như khơi mương, khai khẩn ruộng đất, lập trường học. Danh vọng rất cao, ở đất Chiết Giang được ca tụng là “bậc thanh quan trăm năm có một”.
Nhưng Vương Khiết lại là người Hồ Nam, vậy có gì nhầm lẫn chăng? Tôi liền hỏi ra thắc mắc trong lòng.
Vương Khiết suy nghĩ hồi lâu rồi đáp: “Hồi nhỏ, tôi hình như có nghe ông nội nói, tổ tiên có một vị quan lớn, làm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức, chắc chính là Vương Văn Thiệu. Còn vì sao dòng họ dời về Hồ Nam, chắc cha tôi biết rõ hơn.”
“Tổ tiên ấy trong mơ đã nói những gì?” Tôi không muốn truy cứu sâu chuyện gốc gác nữa, vì thời Quang Tự loạn lạc, ngay cả hoàng đế còn bị khống chế, thì chuyện ông ấy tới Hồ Nam cũng chẳng có gì lạ.
Vương Khiết nhớ lại: “Ông ấy nói rất nhiều, tôi không nhớ hết, chỉ nhớ vài câu. Ông bảo tôi lẽ ra lúc sinh ra đã phải chết yểu, là nhờ ông phù hộ mới sống. Lần này là kiếp nạn, ông bất lực, phải nhờ người ngoài giúp tôi vượt qua. Cuối cùng, ông bảo tôi còn mười năm dương thọ, phải hiếu kính cha mẹ. À, còn nữa, ông nói anh bị phạm ‘Thái Tuế Sát’, cành cây rơi xuống trúng mặt anh là để phá sát này, để anh lấy vết sẹo mà đổi mạng, coi như báo đáp ân cứu mạng cho tôi.”
Câu cuối cùng ấy giải đáp thắc mắc của tôi. Từ sau vụ chôn sống, tôi vẫn không hiểu tại sao trên cây lại vô cớ rơi cành xuống, hóa ra là để tôi “phá tướng”.
Nhưng vấn đề là, tôi từ bao giờ lại mang ‘Thái Tuế Sát’, cần phải lấy vết sẹo để giải hạn? Gần đây tôi chỉ làm vài đám tang, lễ nghi đều chu toàn, chẳng hề đắc tội với vong linh nào, sao lại vướng ‘Thái Tuế Sát’?
Nghĩ mãi không ra, tôi lại hỏi Vương Khiết: “Tổ tiên cô có nói tại sao tôi lại phạm Thái Tuế Sát không?”
“Ông ấy nói không thể tiết lộ!” Vương Khiết liếc tôi một cái, có lẽ thấy không trả lời được nên áy náy, cúi gằm đầu xuống.
Nghe vậy, tôi hơi ngẩn người. “Không thể nói”? Chẳng lẽ là do tang sự lần trước của cha Lý Kiến Dân? Loại mệnh đó trong sách phong thủy có nói rõ, tuyệt đối không được tiết lộ. Tôi vẫn luôn kín miệng, chẳng hề nói với ai. Sau này, Lý Kiến Dân còn mơ thấy cha ông ta, trong mơ không trách cứ, ngược lại còn tạ ơn. Giờ đến tổ tiên Vương Khiết cũng bảo “không thể nói”, tám chín phần mười chính là chỉ loại mệnh ấy.
Nhưng thật kỳ quái, người chết không trách, mà tôi lại phạm Thái Tuế Sát? Thật không sao hiểu nổi…

Chương 74. Dời mộ (phần 1)
Tôi đứng sững bên đầu giường rất lâu, nghĩ mãi mà chẳng ra lẽ. Cuối cùng chỉ có thể tự an ủi rằng, người chết vốn chẳng hề biết số phận mình sẽ thế nào, chẳng qua là mệnh tôi cùng mệnh ông ta va chạm, phạm phải Thái Tuế sát, chứ tuyệt không phải ý muốn của người chết. Chỉ có nghĩ như vậy, lòng tôi mới tạm yên.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, kể từ sau tang sự ấy, tôi liên tiếp gặp chuyện chẳng lành. Trước là trong tang lễ của Lý Hắc Tử, tôi đánh Lưu Khải mà vướng vào lao ngục; sau đó, lúc khiêng bia máu Linh Lung, tôi rơi xuống ao, suýt bị thủy quái lôi đi; mấy hôm trước lại bị đánh phải nhập viện. Hết việc này đến việc khác, như thể vận rủi đã bám riết lấy tôi.
Có lẽ mọi thứ đều đã được định sẵn trong cõi mờ mịt. Hôm ở bệnh viện, chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, tôi bước chân đến phòng bệnh của Vương Khiết nhìn một cái. Nhờ vậy mới nhận mối “chôn sống” này, nếu không, hậu quả thực chẳng dám tưởng. Biết đâu có thể mất mạng bất cứ lúc nào.
Nghĩ vậy, tôi dặn Vương Khiết hãy dưỡng sức cho tốt, dùng quãng mười năm cuối đời mà hiếu thuận cha mẹ. Rồi tôi bước ra ngoài, tính bàn chuyện tiền bạc với gia chủ. Lúc nhận việc, đã nói rõ giá ba nghìn thì là ba nghìn, sau đó họ chủ động đưa thêm một nghìn. Tôi nghĩ mình bị thương mặt mày, lấy thêm chút ít cũng chẳng sao.
Nhưng giờ mà nói, tổ tiên nhà họ đã cứu mạng tôi, một nghìn thì có là gì, thậm chí tôi còn muốn trả lại hết. Có điều, tiền tang ma không được trả lại, đó là điều cấm kỵ, như một thứ nguyền rủa rằng nhà chủ sẽ còn có thêm người chết. Lệ tục ấy tôi hiểu, chỉ đành trả lại phần tiền thừa.
Tôi dây dưa với gia chủ suốt nửa ngày, ông ta sống chết không chịu nhận. Bất đắc dĩ, tôi chỉ có thể nghĩ cách khác để hoàn lại. Có những đồng tiền rất tà, chẳng thể không tin, nhất là với đám Bát Tiên chúng tôi.
Không dám ở nhà họ lâu, tôi dẫn Kiều Y Tư ra đường cái, chặn một chiếc xe máy đi nhờ xuống thị trấn. Tôi mua một nghìn đồng tiền thuốc bổ, cùng ít nến vàng mã. Sau đó bảo Kiều Y Tư với Dương Ngôn ở lại, còn mình thuê xe quay về Vương Trang.
Đã gọi là tạ ơn, thì phải khấn trước người chết, thứ tự ấy không thể đảo lộn. Tôi đặt thuốc bổ ở đầu làng, mang lễ vật đến trước mộ Vương Văn Thiệu, vái ba lạy, đốt ít nến và vàng mã, tỏ lòng biết ơn cứu mạng.
Lúc sắp đi, tôi thấy có một ngôi mộ khác gần như bị giẫm bằng, trong lòng không đành, liền dùng bộ dụng cụ chôn cất ban sáng, sửa sang lại, vun thành một gò giống hệt mộ bên cạnh.
Thực ra, mộ cũ không phải muốn động lúc nào cũng được. Trong năm chỉ có hai dịp có thể đụng đến: một là Tết, hai là Thanh minh. Ngoài ra mà còn xới đất trên mộ, thì bị coi là bất kính với người chết.
Nhưng nghề của tôi vốn ngoại lệ, chẳng mấy khi câu nệ, cũng như đầu bếp thì có thể mang dao theo bên mình vậy thôi.
Sửa sang xong, tôi phủi sạch đất bùn trên áo, hướng mộ mà vái ba vái, cắm thêm ba nén hương, rồi quay lưng rời đi.
Đến cổng làng, tôi đặt gọn thuốc bổ trị giá nghìn tệ trước cửa nhà Vương Khiết, chẳng nói một lời, rồi lẳng lặng bỏ đi. May thay, người nhà cô ấy đều ở trong, không ai nhìn thấy. Nếu không thì lại kéo dài đôi co, mà ở nông thôn, chỉ một món nhỏ cũng đủ để tranh qua cãi lại, không chịu nhận, mình lại cứ muốn gửi, thế là thành chuyện.
Xem như việc ở Vương Trang đã giải quyết xong. Tuy Vương Khiết chỉ còn mười năm dương thọ, nhưng so với cái chết cận kề, mười năm ấy vẫn là món quà trời cho, cũng tính là chuyện tốt.
Tôi đi ra quốc lộ, chẳng thuê xe về thị trấn nữa, mà cứ chậm rãi một mình bước đi. Trong lòng còn một chuyện rối ren: mối tình đầu của tôi, Trình Tiểu Trình. Lúc làm lễ “chôn sống”, tôi hay lén mở QQ, mong thấy tin nhắn, nhưng suốt bao lâu vẫn bặt vô âm tín. Giờ mới rảnh rang, tâm trí lại càng nặng nề.
Con người ta thường vậy, khi thảnh thơi thì tâm mới rối. Tôi liên tiếp gửi cho Trình Tiểu Trình bảy, tám tin, vẫn chẳng có hồi đáp. Lòng tôi như lửa đốt mà đành bất lực, chỉ tự nhủ có lẽ cô ấy bận việc, chưa tiện lên QQ.
Từ Vương Trang đi bộ ra thị trấn mất chừng ba giờ. Tôi định ghé bệnh viện xử lý vết thương ở chân mày. Vừa vào cửa, đã thấy Quách Béo chống gậy, đang lân la bắt chuyện với một y tá nữ. Lại gần nhìn kỹ, hóa ra là Trương Viện Viện.
“Cô y tá xinh đẹp, cho tôi xin cái QQ nhé. Tôi online hai mươi bốn giờ, cô buồn lúc nào cũng có thể tìm tôi trò chuyện.” Quách Béo vẫn chứng nào tật ấy, vừa nói vừa nghiêng người lại gần.
“Thật sự hai mươi bốn giờ đều online?” Trương Viện Viện ngạc nhiên nhìn nó.
“Tất nhiên! Dù lúc nào cô gọi, tôi cũng trả lời tức thì.” Nói rồi nó mở QQ, đưa hẳn cho cô, “Không tin thì cô tự nhập số, thử kết bạn xem sao.”
Trương Viện Viện sững lại, rồi nhận máy gõ vài con số. Thấy tôi bước tới, mặt cô chợt đỏ bừng, dậm chân một cái, ném trả điện thoại cho Quách Béo rồi bỏ đi.
“Cửu ca, sao anh lại tới đây?” Quách Béo cười hề hề, rồi nhìn vết thương trên mặt tôi liền sầm mặt: “Lông mày anh sao thế? Đám đạo sĩ kia lại tìm anh gây sự à?”
“Chuyện ở Vương Trang, sơ suất mà ra thôi.” Tôi lắc đầu, hỏi: “Thế thân thể mày thế nào rồi?”
“Người thì ổn cả, chỉ hơi đau đầu. Cái việc khiêng quan tài chắc không sao.” Nó cười.
“Vậy cây gậy này là sao?” Tôi nhìn cây gậy trong tay nó, trong lòng nổi giận.
Quả nhiên, Quách Béo hừ hừ cười, quẳng gậy sang bên: “Em nói với y tá kia là em bị xe tông vì cứu một đứa trẻ. Thấy em anh dũng thế, cô ấy mới chịu trò chuyện lâu như vậy.”
“Con mẹ!” Tôi buột miệng chửi thề. Với cái đầu óc toàn tinh trùng này, tôi thật chẳng còn lời nào. Vô liêm sỉ đến mức ấy, cũng coi như một cảnh giới rồi.
Đúng lúc đó, “tít tít tít!”, QQ báo tin nhắn.
Thần kinh tôi đang căng liền thả lỏng, lòng thầm reo: Trình Tiểu Trình cuối cùng cũng trả lời rồi. Tôi vội rút điện thoại, nào ngờ nhìn vào, chỉ thấy avatar đen sì, vẫn chẳng có hồi âm.
Tôi đứng chết lặng, lòng chợt thấy mình quá đa nghi. Tất cả cũng chỉ vì câu nói kia của cô ấy: “Tôi thất tình, muốn tự tử.” Câu ấy cứ ám lấy tôi, như tiếng dữ vang mãi. Đàn ông mấy ai không mong tình đầu sống cho ra dáng? Tôi cũng chẳng ngoại lệ.
Đang định hỏi Quách Béo xem có dò hỏi được gì về Trình Tiểu Trình chưa, thì nó đã chìa điện thoại cho tôi, nhăn mặt: “Cửu ca, anh xem giúp em, câu này nghĩa là gì?”
Tôi nhìn, trên QQ hiện đoạn hội thoại:
Bạc Lạnh: Anh thấy mình trông thế nào?
Quách Béo: Tôi xấu lắm, nhưng rất dịu dàng. Em có muốn để tôi làm bạn trai không?
Bạc Lạnh: Thế còn phải xem chữ ‘trông’ đọc thế nào.
Tôi trừng mắt nhìn Quách Béo cả buổi, hỏi hắn Bạc Lạnh là ai. Hắn bảo, chính là cô y tá ban nãy. Trời đất! Ngoài mặt thì ra dáng trong sáng, không ngờ ruột gan lại bạo dạn đến thế. Chữ “trông” còn có cách đọc nào nữa đâu? Tất nhiên là “zhang”, chẳng lẽ lại “chang”? Quả thực chữ nghĩa Trung Hoa, thâm sâu khôn lường.

Chương 75: Dời mộ (phần 2)
Tôi đem ý trong lời nói kể lại cho Quách Béo, cứ tưởng nó sẽ lập tức xóa cô y tá khỏi QQ, ai ngờ nó lại cười ha hả, còn bảo người ta mặc định nó là bạn trai cô ấy rồi.
Thời buổi loạn lạc, tôi chẳng buồn chấp, liền hỏi nó có dò la được tin tức của Trình Tiểu Trình chưa. Nó lắc đầu bảo là không.
Trong lòng tôi có chút gấp gáp, dặn Quách Béo cố gắng tìm tin tức về cô ấy, nếu không được thì tới thẳng trường học, bằng mọi giá cũng phải có manh mối.
Sau đó, tôi vào bệnh viện xử lý vết thương trên lông mày, dán thêm một miếng băng trắng, lấy ít thuốc kháng viêm. Rồi hỏi Quách béo buổi tối có muốn đi uống vài ly không. Nó lắc đầu, nói còn phải về chát QQ với cô y tá nhỏ.
Tôi chửi một câu “trọng sắc khinh bạn”, rồi bước ra khỏi bệnh viện. Trời đã dần tối, hoàng hôn bao phủ thị trấn, cảnh sắc mang theo một vẻ rất khác lạ. Tôi gọi điện cho Dương Ngôn, hỏi hắn ở khách sạn nào. Hắn báo tên khách sạn.
Bữa cơm tối hôm ấy, chúng tôi ngồi suốt bốn tiếng, đến tận mười giờ đêm. Ai nấy đều say túy lúy, ngay cả Kiều Y Tư cũng uống nhiều, không biết là giả say hay thật, cô ấy ôm lấy tôi nói: “Cửu gia, cảm ơn anh đã cứu ba tôi!”
Nghe câu ấy, cả bàn đều lặng đi, không ai nói thêm gì. Bầu không khí bỗng trở nên nặng nề. Ai cũng hiểu, tôi cứu sống không chỉ là Vương Khiết, mà ẩn chứa trong đó là một tầng ý nghĩa khác.
Sau bữa đó, Dương Ngôn đưa đám “bát tiên” về từng làng. Kiều Y Tư thì không có chỗ nào để đi, tôi tính đưa cô ấy vào nhà trọ trong thị trấn. Lão Vương lại nói: “Con gái còn trẻ, lại say rượu, bỏ mặc ở đó không an toàn. Cậu đưa về nhà đi.”
Bất đắc dĩ, tôi chỉ có thể đưa cô về.
Xe xóc nảy nửa tiếng, chúng tôi mới về tới làng Ấu Tử. Lúc chia tay, Dương Ngôn nhìn tôi, giọng trầm nặng: “Cửu ca, có chuyện gì thì gọi cho tôi, lúc nào tôi cũng có mặt.”
Một người đàn ông gần ba mươi tuổi, lại gọi tôi, thằng mới mười tám là “Cửu ca”. Điều này không phải nói tôi có bao nhiêu mị lực, mà là chứng minh Dương Ngôn là một người đàn ông thật sự. Có gánh vác, có khí phách, dám chơi dám chịu, không giả dối.
Hắn có thể nhận thua và gọi tôi một tiếng “Cửu ca”, còn tôi thì không dám tự cao. Không vì lý do gì khác, chỉ bởi trong lần khiêng quan tài này, hắn đã chứng tỏ bản lĩnh đàn ông. Hắn không vì sợ hãi mà bỏ quan tài, điều mà nhiều “bát tiên” khác không làm được. Với một kẻ mới nhập hội, làm được thế quả thực rất khó.
Tôi cười, bảo hắn: “Bác sĩ Dương, cứ tính theo tuổi tác, chuyện cá cược bỏ qua đi. Sau này khi nào cần bác sĩ biết khiêng quan tài, chỉ cần anh đến là được.”
Hắn khẽ lắc đầu, không đáp. Lên xe, thò đầu ra cửa kính hét: “Cửu ca, đừng quên, ngoài việc là bác sĩ, tôi còn là một người đàn ông! Một người đàn ông thật sự!”
Nói xong, chiếc xe bốn vòng tròn nổ máy, cuốn bụi mà đi.
“Tiểu Cửu, hắn nói thế là ý gì? Chẳng lẽ không phải đàn ông thì là thái giám à?” lão Vương ngà ngà men, mặt đỏ hồng hỏi tôi.
Tôi chỉ biết cười khổ: “Chuyện của đám trẻ, ông đừng bận tâm nữa. Về nhà ngủ đi thôi. Kẻo lát nữa bà Vương ngửi thấy mùi rượu, lại tưởng ông sang nhà góa phụ Lưu uống rượu thì phiền.”
“Thằng nhóc này càng ngày càng ranh ma!” lão Vương cười chửi, rồi loạng choạng chạy nhanh về nhà.
Tôi đứng lặng một hồi, nhìn ngôi làng đã nuôi nấng mình mười tám năm, trong lòng dâng lên bao cảm xúc. Tôi đỡ Kiều Y Tư đi về nhà.
Cửa đóng chặt. Tôi gõ vài tiếng, trong nhà vọng ra tiếng cha tôi: “Ai đó? Nửa đêm không ngủ còn gõ cửa làm gì?”
“Cha, là con!” Tôi vội đáp.
Cửa mở ra, cha thấy tôi thì hơi ngẩn người, sau đó liếc sang Kiều Y Tư bên cạnh, mặt biến sắc: “Tiểu Cửu, có phải con làm chuyện phạm pháp gì ngoài kia không?”
“Có đâu cha!” Tôi sững lại.
“Thế cô gái này ở đâu ra? Băng gạc trên trán là thế nào?” Cha nghiêm giọng, còn định giơ tay đánh tôi.
“Bạn con thôi, uống say, không có chỗ ở. Con đưa về để nghỉ một đêm. Còn băng này là do con bất cẩn ở Vương Trang bị rách thôi.” Tôi vội vàng giải thích.
Cha liếc Kiều Y Tư, giọng nặng hơn: “Con bé xinh thế này mà là bạn con sao? Nhà mình nghèo, nhưng chưa ai dính chuyện phạm pháp. Con đừng vì nhất thời mà làm bậy, hủy cả đời mình.”
Cha một tay chống cửa, nhất quyết không cho vào, còn bắt đầu dạy dỗ tôi. Tôi kiên nhẫn giải thích suốt nửa giờ, miệng khô rát, ông mới hơi tin, hỏi lại: “Thật là bạn thôi? Không phải con bắt cóc về?”
“Thật mà, con lớn thế này rồi, chuyện phạm pháp con có dám làm đâu.” Tôi cũng say lơ mơ, đầu nhức nhối, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh.
“Được, cha tạm tin con. Nhưng tối nay con ngủ cùng cha, để cô gái ngủ một mình trong phòng kia. Nhớ kỹ, người ta say rồi, con không được làm điều gì bậy bạ, làm bẩn thanh danh con gái nhà người ta.” Cha chỉ thẳng vào phòng tôi.
Cả đời cha vốn thật thà, trong chuyện dạy con lại càng nghiêm khắc. Dù tôi đã mười tám tuổi, ông vẫn quản chặt, chỉ sợ tôi đi sai một bước mà rơi vào tù tội.
Nghe những lời ấy, khóe mắt tôi bất giác ươn ướt. Từ “cha” thật nặng. Dù ông chỉ là một nông dân bình thường, trong lòng tôi, “cha” vẫn nặng tựa ngàn cân.
Nhất là sau cảnh tượng ở nghĩa địa Vương Trang, tôi càng thấm thía cha mẹ vất vả thế nào. Nửa đời đầu lo cho con cái khôn lớn, nửa đời sau lại lo cho hôn nhân, sự nghiệp. Khi về già, lại còn lo đến cả cháu chắt. Nghĩa tình ấy nặng nề quá, con cái chẳng bao giờ trả nổi.
Tôi gật đầu, đưa tay lau khóe mắt, không nói gì thêm. Vào phòng, đặt Kiều Y Tư nằm xuống giường, cởi giày, đắp chăn cho cô, rồi khẽ bước ra ngoài.
Cha đang ngồi trên ghế, hút thuốc lào, có vẻ như muốn nói điều gì.
“Cha, có chuyện gì thì nói đi, đừng để trong lòng.” Tôi ngồi xuống cạnh ông.
Ông hít một hơi thuốc, ngẩng lên nhìn tôi, lại cúi xuống, im lặng rít thuốc, vẫn chẳng mở miệng.
“Có chuyện gì thì cứ nói, cha con mình cùng bàn. Đừng giữ trong lòng mà hại sức khỏe.” Tôi sốt ruột.
Cha bỗng rít mạnh một hơi, do dự một lúc rồi khẽ nói: “Tiểu Cửu à, lần trước con nhờ lão Vương mang về mười nghìn tệ. Ban đầu cha tính để dành cho con lấy vợ. Nhưng mấy ngày nay, cha cứ mơ một giấc mơ lặp đi lặp lại…”
“Giấc mơ gì?” Tôi vội hỏi.
“Trong mơ, cha thấy cha mình, tức là ông nội con. Ông bảo nhà dột nát, phải dựng lại. Ý là muốn dời mộ. Cha thì chẳng kiếm được bao nhiêu, nhà cũng không còn dư dả, giờ chỉ còn số tiền con mang về. Cha nghĩ… có thể lấy một phần tiền đó, dời mộ cho ông nội con được không?” Cha nói xong, trông ông như già đi thêm vài tuổi.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 9 others
Chương 76: Dời mộ (phần 3)
Lời cha nói, trọng điểm không phải chuyện dời mộ, mà là ông thấy áy náy khi phải lấy tiền của tôi để làm. Có lẽ trong lòng ông nghĩ rằng, con trai mới 18 tuổi đã phải gánh vác trách nhiệm gia đình, ấy là lỗi lầm của một người cha.
Tôi ngẩn ra một lúc, rồi vỗ vai ông, cười nói: “Tiền của con chính là tiền của nhà mình. Cha là đại tướng quân của gia đình, chuyện gì cũng do tướng quân quyết định, cần gì phải bàn bạc với tiểu binh con chứ, hì hì!”
Cha nghe xong liền bật cười mắng: “Thằng nhóc này, từ bao giờ lại trở nên dẻo miệng thế hả?”
“Hì hì,” tôi cười, “Cha à, người cũng nên bỏ đi mấy suy nghĩ cổ hủ rồi. Thời buổi nào rồi mà còn phân biệt tiền là của con hay của cha chứ.”
Chúng tôi lại trò chuyện thêm, chủ yếu là tôi an ủi cha. Đến khoảng hai giờ sáng, tâm trạng áy náy trong lòng ông mới dần tan đi. Cả hai cũng bắt đầu thấy buồn ngủ, chuyện dời mộ không nhắc thêm, liền chen nhau ngủ một đêm trong căn phòng mà trước đó Quách béo từng ở.
Đêm đó tôi ngủ rất ngon, mơ thấy nhiều điều lặt vặt. Gần sáng, tôi mơ thấy một lão nhân mặc quan phục triều Thanh, ông ta chắp tay với tôi, nói: “Cảm ơn cậu đã đắp cao mộ phần cho ta!”
Ban đầu tôi chẳng hiểu, sau nghĩ lại mới đoán tám chín phần là nhà Vương Khiết cúng nhầm mộ, ngôi mộ bị sụt lở bên cạnh mới chính là phần mộ tổ tiên họ. Tôi liền gọi điện cho cha Vương Khiết, kể lại giấc mơ.
Ông nghe xong không nói thừa lời nào, chỉ bảo năm sau tiết Thanh Minh sẽ lập bia mộ cho tổ tiên, để sau này con cháu không còn cúng nhầm nữa. Đến lúc đó, nhất định nhờ tôi tới giúp, ông rất yên tâm khi giao việc cho tôi.
Cúp máy xong, tôi mặc quần áo bước ra ngoài. Cha tôi đang ngồi ở bàn ăn trò chuyện với Kiều Y Tư.
“Đang nói gì thế?” tôi lại gần hỏi.
“Cô Kiều kể chuyện giữa hai đứa cho ta nghe rồi. Không ngờ hôm qua ta thật sự đã hiểu lầm con.” Cha nhìn tôi cười áy náy.
Tôi xua tay, chuyện này tôi chẳng muốn nhắc lại nữa, nhỡ đâu Kiều Y Tư lại bày thêm trò. Tôi ngồi cạnh cha, hỏi: “Chuyện dời mộ, cha định nhờ ai làm? Con là Bát Tiên, mộ nhà mình con không thể tự động vào tay, chỉ có thể nhờ người khác. Cha đã có ai trong lòng chưa?”
“Cha tính nhờ lão Tú Tài chọn đất mộ mới, rồi bảo lão Vương cùng mấy người khác phụ khiêng quan tài. Con thấy thế nào?” Cha hỏi tôi bằng giọng bàn bạc.
Tôi đáp: “Lão Tú Tài hiểu phong thủy khá ổn, lão Vương thì khỏe, hai người đó được. Chỉ là, dời mộ thì phải có đạo sĩ làm lễ, cha định nhờ ai?”
Cha châm thuốc, thong thả nói: “Đạo trưởng Thanh Huyền Tử. Trước kia ta có chút giao tình với ông ấy, nhờ đến giúp chắc sẽ không từ chối.”
Lời này của cha cũng ngầm cho tôi biết ông đã rõ chuyện tôi xung đột với nhóm đạo sĩ của Thủy Vân Chân Nhân. Xem ra Thanh Huyền Tử không cùng phe với bọn họ, nếu không cha đã chẳng mời. Tôi liền hỏi: “Thanh Huyền Tử là ai vậy?”
“Con gặp rồi đó. Lần trước trên trấn, ông ấy bảo ta sinh được đứa con giỏi, đã trấn được sát khí ở thôn Lý.” Cha cười hớn hở nhìn tôi. “Nhớ ra chưa?”
“Hóa ra đó là Thanh Huyền Tử đạo trưởng?” Tôi kinh ngạc, trong đầu hiện lên hình ảnh một đạo sĩ trung niên mặt vuông, ria dài ba tấc dưới khóe miệng. Đúng là người trong tang lễ của Lý Hắc Tử. Khi ấy ông còn bảo tôi có thời gian thì đến tìm. Không ngờ cha và ông ta lại quen biết nhau.
“Đúng vậy. Hồi trẻ chúng ta khá thân, sau ông ấy nửa chừng xuất gia học đạo, mấy năm nay nổi danh khắp trấn Đông Hưng. Người thường chẳng mời được đâu!” Cha cười đầy thần bí. “Nhưng ta thì chắc có thể.”
Trong mắt cha, mời được Thanh Huyền Tử là điều đáng tự hào, cũng là để khoe với tôi. Tôi hiểu rõ tâm lý ấy, làm cha mẹ, ai chẳng muốn tỏ ra cao minh trước mặt con cái.
“Cha thật lợi hại, ngay cả Thanh Huyền Tử cũng mời được!” Thật ra làm Bát Tiên bấy lâu nay, tôi chưa từng nghe ai nhắc tới ông, nhưng không tiện làm mất thể diện cha, đành giả vờ kinh ngạc.
“Đợi Thanh Huyền Tử đến, ta sẽ giới thiệu cho con. Sau này con khiêng quan tài cũng sẽ bớt trở ngại nhiều.” Cha cười rạng rỡ.
Tôi cũng cười, giả vờ ngưỡng mộ: “Thật cảm ơn cha quá!” Thật lòng mà nói, tôi không thấy Thanh Huyền Tử có gì ghê gớm, chỉ cảm giác ông khác mấy đạo sĩ kia một chút, không quá thực dụng.
“Có khi hai cha con bị lừa rồi chăng? Bà nội tôi nói, đạo sĩ bây giờ đều là giả, đạo sĩ thật thì đều ẩn cư trong núi sâu chẳng bao giờ ra ngoài.” Kiều Y Tư xen vào.
Lời cô vừa dứt, sắc mặt cha trầm xuống: “Cô bé, đừng nói bừa. Thanh Huyền Tử bản lĩnh rất cao. Xác chết thối rữa, ông chỉ cần vẽ lá bùa dán lên quan tài, mùi lập tức biến mất.”
“Chỉ là phép nhập môn thôi, vẽ Thanh phù chưa phải chân đạo. Nếu là đạo sĩ thực sự thì…” Cha càng nói mặt càng sa sầm. Cũng khó trách, từ giọng ông đã nghe ra sự ngưỡng mộ đối với Thanh Huyền Tử. Nay bị Kiều Y Tư nói thế, lòng ông tự nhiên không vui.
Tôi vội kéo Kiều Y Tư, cười nói với cha: “Bạn con đầu óc có chút vấn đề, hơi tự cho mình đúng thôi.” Vừa nói tôi vừa chỉ vào đầu cô.
Kiều Y Tư cũng nhận ra sắc mặt cha không ổn, lè lưỡi ngồi im, nhưng lại véo mạnh vào hông tôi, như để xả giận vì tôi nói cô đầu óc có vấn đề.
Tôi nhịn đau, trừng mắt lườm cô một cái, rồi quay sang cha: “Vậy quyết định thế nhé. Phong thủy nhờ lão Tú Tài, việc khiêng quan tài thì để lão Vương tìm người, còn nghi lễ thì mời Thanh Huyền Tử. Con cũng nhân cơ hội học lỏm chút đạo pháp, biết đâu sau này còn có đất dụng võ được.”
Câu nói sau cùng chẳng khác nào nịnh cha một trận, khiến ông vui vẻ cười liên tục, miệng nói “tốt, tốt, tốt”. Thật vậy, có cha mẹ nào không mong giúp ích được cho con cái chứ? Thương thay lòng cha mẹ!
Sau đó, chúng tôi ăn chút điểm tâm. Tôi cầm theo tờ sinh thần bát tự cha đưa, đi đến nhà lão Tú Tài. Việc dời mộ của chính mình, tôi không thể tham dự trực tiếp, chỉ có thể lấy thân phận hiếu tử hiếu tôn mà góp mặt. Ngay cả việc chọn ngày lành, tôi cũng không thể tự làm, nếu không sẽ khiến tổ tiên phật ý.
Đến nơi, thấy lão Tú Tài đang khiêng cái ghế nhỏ ngồi trước cửa, gác chân chữ ngũ, bên cạnh đặt bàn trà, miệng ngân nga điệu hát, đôi mắt láo liên nhìn sang trái.
Tôi thuận mắt nhìn theo, liền thấy quả phụ Lưu đang ngồi xổm trước cửa nhà mình đánh răng. Vì vừa mới ngủ dậy, mấy chiếc cúc áo trước ngực chưa cài kín, lộ ra mảng da trắng nõn đầy đặn.

Chương 77: Dời mộ (Phần 4)
“Ây da! Lão tú tài, gần trăm tuổi rồi mà còn có tinh lực nghĩ mấy chuyện ấy cơ à!” Tôi bước đến trước mặt lão, cố tình nói to cho Lưu quả phụ nghe thấy.
Quả nhiên, Lưu quả phụ vừa nghe, liền đứng phắt dậy, hất cả cốc nước trong tay vào mặt lão, chửi: “Chân đã bước vào quan tài rồi mà còn không đứng đắn, coi chừng chết rồi chẳng có ai khiêng lão lên núi đâu!”
“Đúng là đàn bà thôn dã, nói năng thô tục, làm mất cả thể diện nho nhã!” Lão tú tài đứng bật dậy, mắng lại một câu, rồi liếc sang tôi, vẻ không hài lòng: “Tiểu Cửu, lần này lại có chuyện gì tìm lão phu?”
“Cha tôi mơ thấy nhà tổ tiên bị dột, muốn dời mộ. Tôi đến nhờ ông chọn ngày lành tháng tốt, tiện thể tìm cho tổ tiên một ngôi đất phong thủy tốt hơn.” Tôi ngồi xuống bên cạnh lão, rót chén trà uống.
“Dột ư? Đây chẳng phải là điềm lành đâu!” Lão tú tài sắc mặt nghiêm lại, cũng ngồi xuống.
“Ý ông là sao?” Tôi hỏi.
“Nước thuộc âm, lâu ngày ngấm vào quan tài tức là âm khí nặng, mà âm khí quá nặng sẽ ảnh hưởng đến trường khí của mộ phần, gây bất lợi cho hậu nhân, e là sẽ sinh bệnh tật.” Vừa nói, lão vừa bảo tôi đưa bát tự ngày sinh, rồi nhặt vài hòn đá trên đất, bày thành hình con rùa. Sau đó, lão bấm đốt ngón tay tính toán, bỗng kinh hô: “Tiểu Cửu, nhà cậu sắp xảy ra đại sự rồi!”
“Khỉ thật, nhà tôi chỉ có ba người, ông đừng dọa tôi!” Tôi ngẩn người, khó tin vào lời ấy. Nhà tôi xưa nay vẫn bình bình lặng lặng, không tính là thuận lợi, nhưng cũng chẳng có biến cố gì. Chỉ là hồi đầu năm học, mẹ tôi bất ngờ mắc bệnh, chân gặp vấn đề, không xuống giường nổi, cứ nằm liệt. Bác sĩ nói giống như trúng gió, nhưng lại không hẳn.
Nhà không có tiền, cha tôi phải vay mượn họ hàng, đưa mẹ đi bệnh viện huyện. Kết quả bác sĩ cũng nói giống trúng gió, có lẽ cả đời phải nằm giường, còn phải uống thuốc đều đặn, nếu ngừng thì bệnh sẽ nặng thêm.
Từ đó tới nay, tôi vẫn nghĩ mẹ bị trúng gió, không nghĩ gì khác, chỉ muốn kiếm nhiều tiền để bệnh của bà không nặng thêm. Nay lão tú tài nói nhà tôi sắp có chuyện lớn, tôi lập tức liên tưởng đến mẹ.
“Làm sao ta dám lừa cậu? Hình rùa đã hiện rõ thế này, tự cậu lại đây xem, vị trí Khôn chẳng phải có vấn đề sao?” Lão tú tài chỉ tay vào vị trí Khôn. Quả nhiên viên đá ở đó có vết nứt nhỏ.
Cái gọi là hình rùa, chính là một cách chiêm bói để đoán cát hung. Thường thì thầy phong thủy, ở nông thôn gọi là “địa tiên”, trước khi chọn ngày sẽ gieo một quẻ, coi như cách tự bảo vệ mình. Nếu quẻ hung, họ thường từ chối, bởi ai cũng tiếc mạng sống.
Khôn vị chính là một trong tám quẻ trong Bát quái của Kỳ môn độn giáp. Đầu rùa tượng trưng cho dương, đuôi tượng âm, thân chia tám hướng: Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài.
Có câu quyết truyền: “Càn tam liên, Khôn lục đoạn, Chấn ngẩng vạc, Cấn úp bát, Ly trung hư, Khảm trung mãn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.” Nghe như khẩu quyết Bát quái, nhưng trong đó chứa nhiều thông tin huyền bí.
Không bước chân vào nghề này thì khó hiểu nổi. Như câu “Khôn lục đoạn”: Càn tượng trưng cho trời, tức cha; Khôn tượng trưng cho đất, tức mẹ. Chỉ cần gieo một quẻ là nhiều điều đã hiện ra. Đạo lý cụ thể khó nói, nhưng thường khá linh nghiệm.
Hôm nay, viên đá ở vị trí Khôn lại vô tình có vết nứt, đúng ứng với “Khôn lục đoạn”, hiển nhiên là điềm dữ.
Có người sẽ nói: “Vậy lúc bày thì để ý một chút chẳng phải tránh được sao?”
Nhưng chiêm bốc vốn coi trọng “tùy ý mà làm”, mới có thể hiện ra chân thực. Nếu cố tình sắp đặt thì chẳng khác nào bịt tai trộm chuông. Một số địa tiên thiếu lương tâm, vì muốn làm chủ nhà vui mà cố tình bày quẻ tốt, nói toàn lời hay, chủ nhà vui vẻ thì phong bao cũng dày hơn.
Tôi nhìn theo tay lão tú tài, quả thật vị trí Khôn có vấn đề, liền hỏi: “Có cách nào hóa giải không?”
Lão lắc đầu: “Đây là thiên ý, không thể phá. Nếu thật sự phải dời mộ, thì trong nghi lễ phải làm cho chu toàn, mọi thứ đều phải đủ lễ nghi, có thể hóa giải bớt phần nào. Nếu không dời, tổ tiên có thể trách tội, khi đó xảy ra chuyện gì thì chẳng ai biết trước. Dù dời hay không, nhà cậu chắc chắn sẽ gặp nạn. Quyết định là ở các người.”
Tôi chắp tay, đưa lão phong bao: “Đa tạ ông đã thẳng thắn!”
Lão nhận rồi xua tay: “Khỏi khách sáo. Nếu đã dời mộ mà có điềm dữ, chắc chẳng địa tiên nào dám giúp nhà cậu chọn đất. Cậu đã là con cháu hiếu thuận thì chớ vướng vào. Để lão phu lo cho! Nhưng… lão có một điều kiện.”
“Tôi e không hay đâu! Quẻ đã hiện hung, ông mà nhúng tay thì lỡ xảy ra chuyện, tôi không muốn vậy. Hơn nữa, cha tôi nghe xong chắc cũng chẳng còn muốn dời mộ nữa.” Trong lòng tôi vốn không muốn dời mộ, định chỉ tu sửa lại mộ, rồi làm lễ cầu cúng.
“Không đơn giản thế đâu. Tổ tiên đã báo mộng cho cha cậu, tức là đến mức không dời không được. Nếu không, sao lại làm phiền hậu nhân? Lão phu thấy mộ này chắc chắn phải dời. Cậu chỉ cần nói: có chấp nhận điều kiện của lão phu hay không?” Lão tú tài giọng nặng nề.
“Điều kiện gì?” Tôi hỏi.
“Lưu quả phụ mắng cũng đúng. Lão cả đời không vợ không con, chết rồi e thật chẳng ai khiêng lên núi. Điều kiện là: khi lão chết, cậu phải lo tang sự cho lão, nhất định phải đưa lão lên núi thật long trọng. Sống thì lão uất ức, chết lão nhất định phải được mai táng rạng rỡ, không thể sống kiếp này uổng phí.” Nói rồi, lão vuốt râu, tựa như đã xem nhẹ sinh tử.
Nghĩ cũng phải, lão đã gần trăm tuổi, sớm muộn cũng phải nghĩ đến tang sự. Thân thể trông vẫn cường tráng, sao bỗng nhắc đến cái chết? Tôi liền hỏi nguyên do.
“Lão từng gieo quẻ cho chính mình, không qua nổi năm nay. Thay vì âm thầm chết trong nhà, chi bằng giúp cậu dời mộ. Dù có chết, vẫn có người lo tang, coi như lão lời rồi!” Lão cười hề hề.
“Ông vẫn khỏe lắm, đừng nói bậy, còn sống được nhiều năm nữa!” Nói xong, tôi quay về nhà, vốn chẳng định cho lão nhúng tay. Dù sao, lão tú tài cũng coi như nửa thầy của tôi, tang sự của ông tôi đương nhiên sẽ lo, chẳng cần coi đó là điều kiện.

Chương 78: Dời mộ (phần 5)
Về đến nhà, tôi đem lời của lão tú tài kể lại cho cha nghe. Nghe xong, ông do dự một chút rồi nói: “Dù sao chúng ta cũng là con cháu của ông ấy, cho dù có bị trách phạt thì cũng chẳng phải chuyện lớn! Nhưng mà nếu dời mộ thì mới dễ xảy ra chuyện lớn, có khi cái ‘chuyện lớn’ đó chính là một mạng người. Chi bằng chỉ tu sửa lại phần mộ thôi. Dù gì mộ phần của ông ấy cũng đã nhiều năm, có chỗ thấm nước. Giờ tu sửa lại thì sẽ không còn rò rỉ nữa.”
Tôi thấy cha nói rất có lý, nên định ngày mai nhờ lão Vương giúp sửa sang lại mộ phần.
Bàn bạc xong, tôi lại hỏi Kiều Y Tư bao giờ thì đi. Nói vậy tuy có hơi thẳng, nhưng con gái ở mãi trong nhà tôi cũng không hay. Huống chi tôi chưa lấy vợ, nếu để người ngoài thấy thì chắc chắn sẽ bàn tán.
Cô ấy lườm tôi một cái rồi nói: “Tôi không có chỗ nào để đi, tạm thời ở nhà anh. Chơi chán rồi thì sẽ sang Khúc Dương tìm bà nội.”
Nhà tôi đang bận lo việc tu sửa mộ phần, chuyện không ít. Cô ấy cứ ở lại thì cũng bất tiện. Tôi khuyên nhủ nửa ngày trời, vậy mà cô nàng nhất quyết không chịu đi, bảo rằng khó khăn lắm mới được ra ngoài, sao có thể dễ dàng sang Khúc Dương. Cuối cùng, hết cách, đành tạm cho cô ở lại.
Tu sửa mộ phần thì dĩ nhiên phải có rượu thịt ngon để chiêu đãi người đến giúp. Nhà tôi ba bữa cơm phần lớn toàn rau, hiếm khi có thịt. Không phải vì nhà tôi chú trọng ăn uống thanh đạm, mà là nghèo, thường ngày chẳng mấy khi ăn nổi thịt.
Trưa hôm đó, tôi đi ra thị trấn mua ít rượu thịt. Tiện thể ghé bệnh viện hỏi Quách Béo xem có tin tức gì của Trình Tiểu Trình không. Tiếc rằng vẫn bặt vô âm tín.
Mua đồ xong về, tôi tìm lão Vương, kể sơ về việc sửa mộ, bảo ông ta kiếm thêm một người phụ giúp là được. Lão Vương sảng khoái đồng ý ngay.
Tưởng rằng mọi chuyện sẽ thuận lợi, nào ngờ tối đó cha tôi lại mơ thấy ông nội. Trong mơ, ông bảo ngôi nhà thấm nước ngày càng nặng.
Chưa hết kỳ lạ, chính tôi cũng mơ thấy ông nội. Ông toàn thân ướt sũng, nói với tôi rằng mộ phần bị thấm nước, muốn tôi tìm cho ông một chỗ ở khác. Nhưng vì sợ dời mộ sẽ gặp chuyện, chúng tôi vẫn kiên quyết chỉ sửa sang lại thôi. Một là kinh tế không dư dả, hai là lời cha nói cũng có lý, tu sửa chắc sẽ hết rò rỉ.
Sáng hôm sau, tầm hơn tám giờ, lão Vương dẫn Cao Lão đến nhà tôi. Ăn vội bữa sáng, tôi để Kiều Y Tư ở nhà chăm sóc mẹ, còn tôi, cha cùng lão Vương bọn họ mang theo cuốc, ít nến, vàng mã, giấy vàng cùng lễ vật đi đến mộ ông nội.
Mộ ông nội tôi không chôn ở nghĩa địa trong làng, mà ở một gò đất cách nhà chừng hơn trăm mét. Đó là một quả đồi nhỏ, cảnh quan xung quanh cũng khá tốt, ở giữa lõm xuống. Lúc ấy, thầy địa lý nói nơi đó là “miệng rồng”, phát rất nhanh. Vì thế cha đã tốn không ít bao lì xì. Vậy mà mười tám năm trôi qua, chẳng thấy phát đạt chút nào. Nghĩ đi nghĩ lại, rõ ràng thầy địa lý khi xưa đã ăn tiền oan.
Chúng tôi đến mộ, nhìn qua bên ngoài thì thấy vẫn bình thường, dáng bầu dục, chẳng hề có dấu hiệu thấm nước. Lão Vương liền hỏi: “Tiểu Cửu, trông vẫn bình thường mà, có cần thật sự tu sửa không?”
Tôi cúi xuống, bốc một nắm đất trên mộ, bóp thử thì khô ráo, trong lòng hơi nghi ngờ, liền hỏi cha: “Cha có nhầm không? Đất mộ khô thế này, chẳng giống như ông nội nói trong mơ là thấm nước.”
Cha tôi cũng tỏ vẻ nghi hoặc: “Mộ của ông nội là do chính tay ta nhờ người đào, huyệt mộ cũng do ta cùng thầy địa lý xem xét. Sao mà nhầm được?”
Thế là chúng tôi ngẩn người ra đó. Người đã mời đến rồi, chẳng lẽ lại để họ chạy không công? Bất đắc dĩ, tôi cùng cha quỳ trước mộ, đốt giấy vàng, nến, vàng bạc mã, miệng khấn đủ lời hay lẽ đẹp, rồi chuẩn bị động thổ.
Theo lệ, nhát cuốc đầu tiên phải do con cháu ruột thịt của người mất đào xuống. Cha tôi nhận cuốc từ lão Vương, giơ lên chuẩn bị bổ xuống. Nhưng cuốc mới đến nửa chừng thì cha bỗng “ái da” một tiếng đau đớn, cây cuốc trượt khỏi tay, rơi xuống sau lưng.
Tôi vội nhìn cha, thấy trên chân ông có một con nhện đen to bằng ngón tay cái, bám chặt. Chân nó màu sắc kỳ lạ, ánh lên sắc xanh nhạt. Tôi nhặt một cành cây, chọc vào con nhện, cảm giác cứng rắn.
“Tiểu Cửu, đừng chọc bậy! Những con vật nhỏ ở mộ phần có thể chính là do ông nội cậu hóa thành. Nếu lỡ giết chết, e rằng ông sẽ trách tội.” lão Vương vội ngăn tôi.
Nói vậy cũng không phải không có cơ sở. Trong Đạo giáo có thuyết: người có ba hồn: thiên hồn, địa hồn, mệnh hồn. Người chết thì thiên hồn về trời hóa thành nhật nguyệt tinh tú; địa hồn xuống âm phủ hóa thành quỷ thần, chờ ngày đầu thai; còn mệnh hồn có thể hóa thành những con vật nhỏ, quanh quẩn trông coi bên mộ phần.
Ở nông thôn, nhiều chuyện là thế, người ta nói gì thì tin nấy. Tôi cũng chẳng ngoại lệ. Đã có truyền thuyết thì hẳn không phải vô cớ mà có.
Tôi dìu cha sang một bên nghỉ ngơi, rồi cúi xuống thổi mấy hơi mạnh vào con nhện, mong nó rời khỏi chân cha. Nhưng nó cứ bám chặt, chẳng buông.
“Giờ làm sao đây?” tôi nhìn sang lão Vương.
“Nhát cuốc đầu tiên, cậu đào đi!” lão Vương nhặt cuốc đưa cho tôi: “Cậu là cháu đích tôn, có thể thay cho cha.”
Tôi hiểu đạo lý ấy, cũng chẳng nghĩ nhiều. Cầm lấy cuốc, tôi hít sâu mấy hơi. Sợ lại có gì chui ra như lúc nãy, tôi dùng cuốc gạt sạch lá cây, cành vụn quanh mộ.
Rồi giơ cuốc chuẩn bị bổ xuống. Ngay lúc đó, trên người tôi thoáng một cảm giác lạ, lạnh buốt. Tiếp theo, rõ ràng như có luồng khí lạnh lẽo từ sau lưng áp sát đến.
Tôi rợn cả người, vội quay đầu. Sau lưng trống trơn, chẳng có gì cả. Lão Vương đứng bên, khó hiểu hỏi tôi có chuyện gì.
Tôi không trả lời, quay lại, giơ cuốc chuẩn bị đào. Thế nhưng cơn lạnh ấy lại ập đến, lần này càng rõ rệt. Tôi hoảng hốt, bèn hỏi lão Vương: “Trên mộ này có luồng khí lạnh, ông có thấy không?”
Lão Vương lắc đầu: “Tiểu Cửu, chẳng lẽ rượu hôm trước vẫn chưa tỉnh à? Chúng tôi nóng muốn chết, làm gì có khí lạnh?”
Quái quỷ thật, ban ngày ban mặt mà chẳng lẽ có ma? Tôi thở ra vài hơi, mặc kệ nóng lạnh gì nữa, giơ cuốc đào xuống mộ.
Cuốc vừa chạm đất thì cơn lạnh ập tới mãnh liệt. Cả người tôi chao đảo, cảm giác rõ ràng như có ai đó đẩy mạnh từ sau lưng.
“Ai đấy?” tôi buông cuốc, lập tức quay phắt lại. Phía sau vẫn trống không. Nhưng cảm giác rõ rệt có người vừa đẩy tôi. Tôi vội hỏi lão Vương: “Vừa nãy sau lưng tôi có cái gì không?”
Ông lắc đầu: “Không có. Tôi thấy cậu vừa vung cuốc thì người hơi nghiêng về phía trước, tôi còn tưởng cậu chưa quen dùng cuốc đấy.”

Chương 79: Dời mộ (phần 6)
Nghe xong lời ấy, toàn thân tôi toát mồ hôi lạnh. Giữa ban ngày ban mặt mà vô cớ bị thứ gì đó đẩy một cái, nghĩ lại thôi cũng thấy sợ. May mà tôi từng trải qua vài chuyện quái lạ nên nhanh chóng trấn tĩnh, giơ cuốc định tiếp tục đào xuống.
Đúng lúc đó, bụng tôi truyền đến một cảm giác khác lạ, kế tiếp là một cơn đau dữ dội, tựa như ruột gan bị xé toạc. Mặt tôi tái nhợt, mồ hôi lớn như hạt đậu lăn dài trên trán, hai chân bủn rủn, ngồi sụp xuống.
“Cửu Nha Tử, con sao vậy?” giọng cha tôi, lão Vương, và Cao Lão cùng vang lên.
Tôi một tay ôm bụng, một tay xua xua, khó khăn nói: “Bụng... có chút đau.”
Trong lúc nói, tôi thoáng nhìn thấy mắt cá chân cha mình sưng to dị thường, gần như bằng cả bắp đùi, bề mặt sáng bóng lấp lánh, như thể pha lê. Tôi hoảng hốt hét lên: “Cha! Chân cha bị sao thế kia?”
Nghe tôi nói, mọi người đều nhìn xuống chân ông, lập tức lùi mấy bước, vẻ mặt hệt như gặp quỷ, lắp bắp: “Lớn quá... mắt cá chân ông to khủng khiếp...”
Cha con tôi liên tiếp gặp chuyện kỳ quái, không phải kẻ ngốc cũng hiểu việc tiếp tục sửa sang mộ là bất khả. Tôi quay sang lão Vương đang ngẩn ra mà quát: “Lão Vương, mau đốt vàng mã đi! Nói với cụ là mộ này chúng ta không sửa nữa, chờ ngày lành dời mộ.”
“Lão Vương! Đừng đứng ngây ra thế, nhanh lên đốt vàng mã!” Tôi gấp gáp hô thêm lần nữa.
“Ờ... ờ, được, tôi đốt ngay đây!” lão Vương giật mình hoàn hồn, gật gù, giọng còn run, rõ ràng cũng bị cảnh tượng vừa rồi dọa không nhẹ.
Ngay sau đó, lão lấy cuốc khỏi mộ, châm vàng mã, nến, giấy tiền, miệng không ngừng lẩm bẩm lời hay ý đẹp. Tôi cùng cha thì khó nhọc bò đến bên bia đá, quỳ xuống, miệng liên tục khấn: “Con trai bất hiếu, ít hôm nữa chọn ngày lành nhất định tìm cho người một ngôi nhà mới.”
“Cháu bất hiếu, ít hôm nữa chọn ngày lành nhất định tìm cho người một ngôi nhà mới.”
Lạ thay, khi lão Vương đốt hết vàng mã, nến giấy, cơn đau bụng của tôi bỗng dịu hẳn, còn chân cha tôi cũng bớt sưng. Có những chuyện quả thật rất huyền hoặc.
Ai nấy tâm trạng nặng nề, chẳng ai nói thêm gì, chỉ thu dọn đồ nghề rồi cùng nhau trở về. Dù lão Vương và Cao lão hầu như chưa tốn sức, tiền công vẫn phải trả. Tôi rút 200 tệ cho mỗi người, họ nhất quyết từ chối, nhưng tôi nói đây là phép tắc, buộc phải nhận. Họ đành miễn cưỡng cầm.
Về đến nhà, bụng tôi đã không còn đau. Tôi liền bước vào phòng mẹ. Bà đang nghỉ trên giường, còn Kiều Y Tư ngồi bên cạnh, tay cầm chiếc máy nghe nhạc cũ của tôi hồi đi học, loáng thoáng phát ra ca khúc “Đại Địa” của Hoàng Gia Cư.
Tôi đi đến, vỗ nhẹ vai cô ấy, khẽ hỏi: “Mẹ tôi có biểu hiện gì lạ không?”
Cô tháo tai nghe, nghi hoặc nhìn tôi: “Không có mà, sao các anh về nhanh thế? Sửa xong rồi à?”
Tôi lắc đầu, tâm trạng nặng nề nên chẳng giải thích, chỉ yên tâm vì mẹ không có gì khác thường, rồi đi thẳng sang nhà lão Tú Tài.
Tôi kể hết những gì vừa xảy ra ở mộ. Sắc mặt lão trầm xuống, nói: “Trong tình cảnh này, nhà các cậu chỉ có cách chuẩn bị dời mộ. Bằng không, tai họa sau này sẽ càng nhiều.”
“Thật sự không còn cách nào khác ư?” tôi không cam lòng hỏi.
Lão ngẫm nghĩ rất lâu, rồi lắc đầu: “Tiểu Cửu, từ xưa có câu: ‘Nhất tổ, nhị mệnh, tam phong thủy.’ Lão nghĩ bệnh của mẹ cậu e rằng có liên quan đến mộ phần của ông cậu. Nếu dời đi, biết đâu bệnh tình bà sẽ chuyển biến tốt hơn.”
“Thật sao?” tôi chụp chặt lấy tay lão, gấp gáp hỏi: “Nếu dời đi, bệnh mẹ tôi sẽ thuyên giảm thật ư?”
“Ai da! Cậu làm gì thế, bóp đau tay lão rồi!” lão hất mạnh tay tôi, rồi nói tiếp: “Việc này lão cũng chẳng dám khẳng định. Nhưng theo lẽ thường, vận số một gia đình gắn liền với phần mộ tổ tiên. Mẹ cậu đột ngột phát bệnh, giờ cha con cậu lại mơ cùng một giấc mộng, thêm cả những chuyện lạ ở mộ, bảo không liên quan thì lão cũng không tin.”
“Vậy bây giờ chúng tôi phải làm sao?” tôi hỏi.
“Dời mộ. Lão sẽ giúp ông cậu chọn một huyệt đất tốt. Không dám hứa vinh hoa phú quý, nhưng cơm no áo ấm thì lão đảm bảo.” lão vuốt râu.
“Nhưng lần trước ông gieo quẻ thấy đại hung. Nếu giờ chúng ta dời mộ, liệu có xảy ra nhân mạng không? Nhà tôi thực sự không chịu nổi biến cố nữa. Có cách nào tránh được không?” tôi buồn bã nói.
“Người Trung Hoa xưa nay vốn trọng lễ, mà trong các lễ, tang lễ là phức tạp nhất. Trong tang lễ, dời mộ lại càng phải kỹ lưỡng. Chỉ cần các cậu làm đủ lễ nghĩa, thì cũng không sao. Huống chi ý ông cậu đã rõ ràng: nhất định phải dời. Các cậu không còn lựa chọn nào khác.”
Nói rồi, lão ngắm nghía tôi một hồi, chậm rãi: “Tiểu Cửu, nếu tìm địa tiên khác, e rằng sẽ sinh rắc rối. Nhưng lão thì khác, với kiến thức trong đầu lão, chuyện gì cũng có thể hóa hung thành cát.”
Nghe lão khẳng định nhiều lần, tôi dự định sẽ tự mình đóng vai địa tiên. Dù sao quẻ của lão đoán là đại hung, nếu chính lão tham gia, e rằng sẽ phạm xung, có thể xảy ra chuyện.
Hơn nữa, có một lý do quan trọng hơn: sau khi dời mộ, bệnh mẹ tôi có lẽ sẽ thuyên giảm. Làm con, đừng nói phạm xung, dẫu lấy mạng đổi cũng chẳng sao. Thân thể tóc da nhận từ cha mẹ, làm con phải gánh vác.
Nghĩ vậy, tôi xua tay với lão: “Lão Tú Tài, lần này để tôi làm địa tiên, ông đừng nhúng tay. Nếu xảy ra chuyện gì, nhà tôi e gánh thêm tội.”
Lão cười khẽ, không nói thêm. Đến lúc tôi ra cửa, lão gọi giật lại, gãi đầu cười hề hề: “Tiểu Cửu, có mang theo tiền không? Lão lại thèm rượu rồi, định xuống trấn mua vài cân. Tiếc là trong túi chẳng còn đồng nào, cậu cho lão vay chút được chứ?”
“Hôm qua chẳng phải tôi đã tặng ông phong bao hai trăm tệ sao? Nhanh thế đã hết à?” tôi nghi hoặc. Vốn dĩ lão rất kiệm, tính tình lại kiêu ngạo, dẫu có đói mấy ngày cũng hiếm khi mở miệng vay tiền. Giờ sao lại khác thường thế này?

Chương 80: Dời mộ (7)
“Cái tiền đó à, hôm qua lão phu chỉ lỡ tay sờ một cái vào chỗ đó của quả phụ Lưu, thế mà bị bà ta chém sạch một khoản!” lão tú tài mặt mũi đầy hối hận, vừa nói vừa giơ tay đưa lên mũi hít hít như còn lưu luyến mùi hương.
“Tôi lạy, ông gần trăm tuổi rồi mà còn nghĩ đến cái chuyện đó à!” Tôi cạn lời, lôi trong túi ra ba trăm tệ đưa cho ông, nói: “Trên người tôi chẳng còn bao nhiêu, ông tiêu dè sẻn chút, không đủ thì tìm tôi lấy thêm!”
Lão tú tài nhận tiền, nét mặt nghiêm lại, trịnh trọng nói: “Lão phu nhất định sẽ không phụ sự ký thác của cậu.”
Tôi có chút khó hiểu, vốn chỉ nói bâng quơ thôi, sao ông lại nghiêm túc như vậy? Nhưng cũng chẳng nghĩ nhiều, xoay người bước ra ngoài, chuẩn bị lên thị trấn sắm mấy thứ cần thiết để dời mộ.
Tôi lấy của cha hai nghìn tệ, thuê một chiếc xe máy, chạy quanh thị trấn gần nửa ngày, rốt cuộc cũng sắm đủ đồ dùng cho việc dời mộ. Tiện đường ghé qua bệnh viện thăm dò tình hình của Quách Béo, dặn nó nghỉ ngơi cho tốt, mấy hôm nữa đến nhà tôi phụ khiêng quan tài. Việc nhờ nó tôi đã cân nhắc kỹ, xưa nay có câu: “thịt nhiều, tiền nhiều, phúc khí cũng nhiều” nên mới quyết định để nó tham gia.
Nó nghe vậy mặt liền biến sắc, hỏi: “Chết ai rồi?”
Nếu không phải nó còn đang thương tích đầy mình, tôi thật muốn đá cho vài cái. Tôi cau có đáp: “Là dời mộ, mộ ông nội tao có vấn đề. Chờ chọn được ngày lành tháng tốt, mày đến giúp một tay là được!”
Nó thở phào, lập tức gật đầu đồng ý. Sau đó, chúng tôi lại trò chuyện thêm về Trình Tiểu Trình. Nó có phần khó chịu, nói: “Con nhỏ trà xanh đó, năm xưa nhục mạ anh như thế, sống chết của nó anh còn quan tâm làm gì?”
“Tuy cô ấy vô tình, nhưng tao không thể vô nghĩa. Huống chi, dù sao cũng là một mạng người. Ngày mai mày đến trường của chúng ta dò hỏi một chút xem sao. Nói gì thì nói, Trình Tiểu Trình cũng từng là mối tình đầu của tao, tao không mong cô ấy xảy ra chuyện.” tôi thản nhiên đáp.
“Cửu ca, em thật sự chịu thua anh, đến loại con gái trà xanh đó mà còn vấn vương.” Quách Béo bĩu môi chê bai, nhưng rốt cuộc vẫn gật đầu nhận lời ngày mai đi dò la.
Tôi lắc đầu, rời khỏi phòng bệnh của anh, vừa hay chạm mặt Trương Viện Viện đi từ phía đối diện tới. Tôi cười híp mắt chào một tiếng: “Cô y tá nhỏ, đừng có làm hư thằng em tôi đấy nhé!”
Chưa đợi cô nổi giận, tôi “vút” một cái chạy mất. Đàn bà đúng là loài sinh vật kỳ quái, thật sự chọc không nổi. Nhớ đến ở nhà còn có Kiều Y Tư, tôi lại thấy phiền não, cô ta cứ bám mãi chẳng chịu đi, rốt cuộc có ý gì đây?
Tôi lang thang thêm vòng nữa ở thị trấn, nhớ Kiều Y Tư dường như rất thích nhạc Hoàng Gia Cư, liền bốc đồng mua cho cô một cuộn băng cassette. Sau đó, xách theo một đống đồ lỉnh kỉnh, thuê xe máy chạy thẳng về nhà.
Vừa bước vào, tôi vứt đồ vào phòng, liền thấy cha, Kiều Y Tư, và lão tú tài đang ngồi cùng nhau chuyện trò rôm rả, thỉnh thoảng còn vang lên tiếng cười, khiến tôi khó hiểu, chuyện dời mộ nặng nề thế kia, sao còn cười nổi?
Thấy tôi về, cha kéo tôi đến trước mặt lão tú tài, nói: “Cửu Nhi, mau cảm ơn lão tú tài đi. Ông ấy đã chọn được ngày giờ và tìm được huyệt đất mới cho ông nội con rồi. Ông bảo huyệt đất này sẽ vượng hậu nhân đấy.”
“Ý gì vậy?” tôi nghi ngờ hỏi.
“Trong lúc con lên thị trấn, lão tú tài đã chọn xong ngày, tìm xong huyệt rồi!” cha tỏ ra không vui.
“Con mẹ nó, lão tú tài, ông sao lại không giữ quy củ của địa tiên? Tôi đâu có đưa ông hồng bao mở hàng, cũng chẳng mời ông, sao tự tiện nhúng tay vào? Không sợ bị trừng phạt à?” tôi nổi giận. Trong nghề địa tiên đúng là có quy củ như thế: chủ nhà phải đích thân mời, đưa hồng bao khai lễ thì địa tiên mới được nhận việc, nếu không sẽ bị báo ứng.
Thật ra, nguyên nhân tôi tức giận không hẳn vì quy củ, mà vì tướng mai rùa của ông ta hiển thị đại hung, nghĩa là ông không thích hợp can dự vào. Nay ông lại chen vào, chắc chắn sẽ xảy ra chuyện, như vậy nhà tôi càng thêm tội nghiệt nặng nề.
“Tiểu Cửu, sao cậu lại nói thế? Lão phu đâu có phạm quy. Cậu quên thứ này à?” lão tú tài lôi ra ba tờ Mao gia gia, lắc lắc trước mặt, nói: “Tiền này là cậu đưa hồng bao cho lão phu, đương nhiên lão phu có thể xem đất cho nhà cậu.”
“Con mẹ nó, đó là tôi cho ông mượn, sao tính là hồng bao được?” tôi gào lên.
“Cậu chẳng lẽ quên lúc lão phu nhận tiền đã nói gì à? Thế này không tính là phạm quy!” lão tú tài cười thần bí, rồi không nói thêm, ngồi bên cạnh cha tôi, nhấp nháp trà, còn phát ra tiếng “chụt chụt” đầy hưởng thụ.
“Các ông nói gì vậy? Sao tôi chẳng hiểu gì hết?” Kiều Y Tư xen vào.
“Không liên quan đến cô!” tâm trạng tôi đang bực, liền móc cuộn băng Hoàng Gia Cư đưa cho cô ta, nói: “Ra chỗ khác nghe nhạc đi, chuyện ở đây cô đừng xen vào.”
Cô ta cầm lấy, ngẩn ra, đột nhiên hét lên một tiếng, lắp bắp hỏi: “Cửu gia, đây… đây là anh tặng tôi sao?”
Tôi gật đầu, chẳng buồn nói thêm.
“Cảm ơn anh nhiều lắm!” cô ta bật dậy, chạy lại bên tôi, không thừa động tác, chỉ bất ngờ hôn chụt lên má tôi một cái, sau đó mặt đỏ bừng bỏ chạy vào phòng mẹ tôi.
Tôi ngây người, một cuộn băng Hoàng Gia Cư thôi mà, đến mức thế sao? Mãi nhiều năm sau tôi mới hiểu, vì sao khi ấy Kiều Y Tư lại chủ động như vậy, trong lòng mỗi người phụ nữ đều có một thần tượng chôn sâu, mà của Kiều Y Tư chính là Hoàng Gia Cư, chưa từng thay đổi. Cô chỉ nghe nhạc của ông, một ca khúc có thể nghe hàng ngàn hàng vạn lần mà chẳng hề chán.
Thấy ánh mắt quái lạ của cha và lão tú tài, tôi ngượng ngùng cười: “Cô ấy phát điên thôi, hai người đừng để tâm. Chúng ta bàn tiếp chuyện vừa rồi đi.”
“Lão phu thấy lòng cậu đang lâng lâng lắm, còn tâm trí đâu mà nói chuyện tiếp?” lão tú tài cười hề hề.
Tôi không muốn dây dưa thêm, đành cười khổ, nói: “Tôi hiểu tâm trạng ông lo cho hậu sự của mình. Nói thẳng, tôi luôn coi ông như nửa thầy nửa bạn. Dù ông không chen vào chuyện này, tôi cũng sẽ lo liệu tang sự cho ông. Giờ ông làm thế, chi cho khổ vậy?”
“Tiểu Cửu, cậu không hiểu đâu. Lão phu có tính toán riêng. Để người khác vô cớ lo tang sự cho mình, sẽ mắc nợ, kiếp sau phải trả. Thà rằng trước khi chết tự kết thúc món nợ này, kiếp sau mới thoải mái tự do.” lão tú tài hờ hững nói.
“Ông… đúng là cổ hủ cứng nhắc!” tôi tức giận quát.
“Cậu đừng nóng. Lão phu đã suy tính kỹ. Việc dời mộ này, nếu nhờ địa tiên bói toán, mười người thì chín chẳng ai dám xem đất cho ông nội cậu. Nếu tự cậu đứng ra, nghi lễ dễ xảy ra sai sót, lỡ phạm xung thì mộ chẳng dời được mà còn dễ có người mất mạng. Lão phu khuyên thêm một câu: lần dời mộ này, không chỉ phải tìm đạo sĩ cao tay, mà còn cần một người quản lễ giỏi, bát tiên cũng phải cân nhắc thật kỹ. Tướng rùa không bao giờ hiển hiện vô cớ đâu.” lão tú tài nói một tràng dài, hơi thở đã yếu, giữa chừng còn ho liên tục.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 13 others
Bộ này thuần tâm linh, phong thủy, không phép thuật không tu tiên nên có vẻ ít thím để ý nhỉ
Reactions: Yeuemsratnhieu and Thợ Sơn
Bộ này thuần tâm linh, phong thủy, không phép thuật không tu tiên nên có vẻ ít thím để ý nhỉ
Đọc cuốn mà bác. Chắc phải một thời gian đẩy traffic mới đc chú ý nhiều hơb
Reactions: hackem01
Bộ này 2k chương hả bác. :big_smile: . Bác tính dịch hết luôn hả bác
BdgiW7R.png
Bộ này 2k chương hả bác. :big_smile: . Bác tính dịch hết luôn hả bác
BdgiW7R.png
Dịch hết chứ
Reactions: im.lou, tiendatannd, loohcs99 and 9 others
Dịch hết chứ
MjfezZB.png
được bác. Chờ dịch hết xong đọc. Mà bác có định cho phép lấy làm epub không bác. Tại mình hay đọc offline ấy
u40wsAh.png
cuốn , đừng drop nha bác
Reactions: Thợ Sơn
Chương 81: Dời mộ (phần 8)
Lão Tú Tài nói xong thì hít một hơi thật sâu, im lặng một lúc rồi bảo: “Tiểu Cửu, chuyện địa tiên thì cậu khỏi phải lo, lão phu chắc sẽ không xảy ra chuyện gì lớn đâu. Cậu hãy dồn tâm sức vào những việc khác, nhắc nhở bọn họ phải cẩn thận hơn một chút.”
Nghe xong, trong lòng tôi ngũ vị tạp trần, chẳng biết nên đáp lại thế nào. Quả thật, như lão nói, việc dời mộ có quá nhiều điều phải kiêng kị, chỉ cần sơ sẩy một chút thôi là rắc rối sẽ ập đến.
Cha tôi ngồi bên cạnh, nghe mà mù mờ chẳng hiểu gì, liền hỏi chuyện gì xảy ra. Lão Tú Tài vừa định mở miệng thì tôi đã xua tay ngăn lại, ý bảo đừng nói cho cha biết, kẻo ông lại thêm lo lắng.
Ngày hoàng đạo mà lão chọn là trưa 12 giờ 45 phút ba ngày sau để động thổ. Lão nói thời điểm ấy dương khí cực thịnh, thích hợp làm việc âm như dời mộ. Tôi hiểu ý ông, 12 giờ 45 theo cách tính giờ xưa chính là ngọ thời tam khắc.
Trong dân gian có câu “ngọ thời tam khắc khai trảm”, nghĩa là lúc ấy xử chém phạm nhân. Đạo gia cho rằng đó là khi dương khí mạnh nhất trong ngày. Còn theo thiên văn học hiện đại thì đỉnh điểm dương khí có hơi khác một chút. Mỗi môn phái lại có một cách lý giải riêng, chẳng ai thuyết phục được ai, nên mới dẫn đến cảnh “tam dặm bất đồng tục” trong tang lễ.
Sau đó, tôi cùng lão bàn bạc thêm vài việc vụn vặt. Đã lỡ để ông xen vào, tôi cũng đành bó tay, chỉ còn cách đưa ông một phong bao đỏ gọi là lễ nghi. Lão cười hề hề nhận lấy, bảo tôi đừng mang gánh nặng tâm lý quá, cứ thuận theo tự nhiên là được.
Tối hôm ấy, lão ở lại ăn cơm cùng nhà tôi, còn uống chừng nửa bình rượu, mặt đỏ hây hây. Tôi sợ ông say rồi nổi hứng chạy sang nhà quả phụ Lưu bị lừa thêm tiền, nên lúc tiễn ra cửa, tôi nhắc: “Lão Tú Tài, ra khỏi đây thì nhớ về thẳng nhà, đừng ghé lung tung.”
Tôi nói rất bóng gió, nào ngờ ông nghe xong liền trợn mắt, râu ria phùng phình: “Lão phu đọc tứ thư ngũ kinh, há lại có cái suy nghĩ bẩn thỉu như cậu! Hậu sinh thời nay thật khiến lão phu thất vọng vô cùng!”
Nói xong, ông hầm hầm bỏ đi.
Nói thật, nhìn điệu bộ ấy, tôi còn tưởng ông lừa mình. Nhưng nghĩ lại ánh mắt ông nhìn quả phụ Lưu, tôi thấy chuyện bị bà ta chém mất hai trăm đồng tám phần là thật. Dẫu sao, tính tình bà ấy tôi còn hiểu, tuy sinh hoạt có phần buông thả, nhưng chưa từng vòi tiền ai, trừ phi… lão Tú Tài thật sự đã làm cái chuyện ấy.
Tôi chỉ biết lắc đầu, bất lực với ông già này, rồi quay lại phòng. Còn ba ngày nữa mới tới ngày lành, thời gian cũng dư dả, chỉ có điều chuyện chọn người bát tiên cùng tri khách khiến tôi đau đầu.
Bình thường bát tiên đều theo tôi ăn cơm, khoảng chục người. Nếu chỉ mời một nửa, chắc chắn bên còn lại sẽ không vui. Mà lão Tú Tài đã nhắc phải lựa chọn kỹ, e rằng quan tài cũng chẳng dễ khiêng, không phải ai cũng khiêng được.
Suy nghĩ rất lâu, tôi quyết định chọn theo tướng mạo: những kẻ có vẻ dữ tợn sát khí, người có quý khí, và kẻ mang phúc tướng, ba loại này mới khiêng. Bởi vì họ mang trường khí đặc biệt, nếu thực sự xảy ra chuyện quái lạ, thì so với người thường, họ cũng dễ hóa giải hơn.
Còn quản lễ, tôi tính nhờ Lang Cao. Chỉ không biết vị sở trưởng ấy có chịu nể mặt không. Tôi gọi điện cho anh ta, vừa cất tiếng chào “Lang sở trưởng”, đã hỏi ba ngày nữa có rảnh không.
Đầu dây bên kia nghĩ một lúc, rồi đáp: “Trần Bát Tiên, có việc thì cứ nói thẳng, nếu gấp lắm thì tôi có thể trống một ngày.”
Tôi nói: “Ba ngày nữa, tôi phải dời mộ cho ông nội, thiếu người làm quản lễ, chẳng tìm được ai hợp. Anh có thể giúp tôi một lần không?”
Anh ta ngập ngừng: “Chuyện này à… tôi là trưởng công an, đi làm quản lễ, để người ta biết sẽ có lời ra tiếng vào, khó xử lắm!”
Nghe vậy, tôi thất vọng, chỉ “ờ” một tiếng rồi gác máy. Đành phải nghĩ cách khác. Trong đầu lật đi lật lại danh sách quen biết, mà chẳng ai hợp vai trò quản lễ cả, đúng là khó chết đi được.
Đang bối rối thì điện thoại lại reo. Nhìn màn hình, là Lang Cao. Chẳng lẽ anh ta đổi ý? Tôi vội bắt máy, vừa “alo” thì đầu bên kia hơi khựng lại rồi nói: “Trần Bát Tiên à, cậu chẳng phải tìm không ra tri khách sao?”
Tôi “ừ” một tiếng, rồi kể sơ qua chuyện dời mộ. Anh ta nghe xong liền nói ngay: “Cởi bộ cảnh phục xuống thì tôi cũng chỉ là dân thường thôi. Lần trước còn nợ cậu một ân tình, lần này coi như trả.”
Anh ta đã nói thế thì tôi cũng không khách sáo. Lang Cao vốn thuộc loại có ân tất báo, nếu tôi còn vòng vo khách khí, e là anh ta lại mắng thêm. Tôi chỉ dặn: “Quản lễ phải đến từ tối hôm trước.”
Anh ta “ừ” một tiếng. Tôi nhân tiện hỏi thêm có ai gần đây tự tử không. Anh ta bảo không có. Nghe vậy, tôi mới thở phào, tin tức trong tay công an chắc chắn linh thông hơn dân thường. Anh ấy đã nói không có thì tám phần là không có.
Nhưng ngay lúc tôi chuẩn bị gác máy, một câu của Lang Cao lại khiến tim tôi treo lơ lửng: “Mấy hôm trước, ở Nhị Trung hình như có một nữ sinh định tự tử, không chết, nhưng chẳng bao lâu sau thì hóa điên rồi.”
Nhị Trung, chính là trường cấp ba tôi từng học.
Điện thoại rơi khỏi tay tôi, “bộp” một tiếng xuống đất. Hóa điên? Trình Tiểu Trình hóa điên rồi sao? Cô ấy điên rồi?
Khoảnh khắc ấy, tôi cảm giác như tận thế. Trong đầu hiện lên bóng dáng cô, mái tóc dài chấm eo, đôi mắt sáng trong, mày ngài thanh tú, nụ cười như hoa… từng câu từng chữ của cô như cuốn phim lướt qua trí óc tôi.
Tôi có thể chấp nhận việc cô tìm bạn trai khác, có thể chấp nhận việc cô đi lấy chồng, nhưng duy chỉ một chữ điên, tôi tuyệt đối không thể chấp nhận!
Cả người tôi rơi vào u ám cực độ. Tôi nhặt điện thoại lên, định bắt xe chạy thẳng tới Nhị Trung thì cha tôi bước ra, ngăn lại: “Tiểu Cửu, nửa đêm rồi còn định đi đâu?”
“Nhị Trung!” tôi đáp khẽ.
“Xảy ra chuyện gì sao? Nói cha nghe xem. Dù có đi, nửa đêm cũng chẳng giải quyết được gì. Hơn nữa, việc dời mộ của ông nội vẫn còn phải trông cậy vào con.” cha tôi đặt tay lên vai, siết nhẹ.
“Cô ấy điên rồi… thật sự điên rồi…” chân tôi nhũn ra, ngồi sụp xuống đất, khóe mắt ươn ướt. Hồi đi học, tuy cô chia tay tôi, nhưng trong lòng tôi vẫn luôn có cô. Không biết đó có phải tình yêu, chỉ biết rằng mỗi lần nhìn thấy cô, tâm trạng tôi lại tốt hẳn lên. Kể cả lúc cô sánh đôi cùng Chu Khai Nguyên, tôi vẫn không thấy khó chịu, bởi tôi thật lòng mong cô hạnh phúc.
“Bạn gái cũ à?” cha tôi tò mò hỏi. Tôi không nói gì, chỉ khẽ gật đầu.
“Con mới mười tám, tình cảm còn mơ hồ lắm. Phản ứng thế này cũng chẳng lạ. Đợi dời mộ cho ông xong, con cứ đi thăm cô ấy một chuyến.” cha châm một điếu thuốc, rồi đưa cho tôi một điếu khác, khẽ nói: “Cha thấy cô Kiều hình như có ý với con đó. Chuyện tình cảm, cha chẳng can thiệp được, con tự cân nhắc đi.”

Chương 82: Dời mộ (phần 9)
Cha nói xong thì vỗ nhẹ vai tôi một cái, rồi quay người vào phòng. Tôi đứng ngây người ngoài sân rất lâu.
Mối tình đầu, chưa chắc đã là tình yêu thật sự, nhưng chắc chắn là lần đầu tiên một người được nếm trải mùi vị của tình.
Đêm đó, tôi không ngủ được, trong đầu suy nghĩ lộn xộn. Cuối cùng vẫn nghe lời cha: phải dời mộ cho ông nội xong rồi mới đi thăm Trình Tiểu Trình. Dù sao cô ấy đã phát điên một thời gian, cũng chẳng thiếu thêm mấy hôm nữa, còn mộ ông nội là chuyện trước mắt, quan trọng hơn cả.
Sáng hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, tôi rửa mặt bằng nước lạnh, đầu óc tỉnh táo hơn chút. Nghĩ lại thì, Lăng Cao đã biết chuyện bên Nhị Trung, thì chắc hẳn Quách Béo cũng biết. Nhà nó chỉ cách trường có mười phút chạy xe. Tôi bèn gọi điện hỏi nguyên nhân.
Nó ậm ừ mãi, cuối cùng mới thốt ra được một câu: “Em không muốn anh có bất kỳ dính dáng nào với nó, nên mới giấu anh.”
Ý nó, tôi hiểu. Nó sợ tôi còn tình cũ chưa dứt. Tôi không trách nó, chỉ dặn nó hôm trước ngày dời mộ thì đến nhà tôi. Lo xong chuyện ông nội rồi, nó đi cùng tôi qua trường một chuyến. Quách béo đồng ý ngay.
Cúp máy, tôi ngồi trong phòng một lúc. Ngẩng đầu lên thì thấy cha đã bưng bữa sáng ra. Ông nói: “Tiểu Cửu, còn hai ngày nữa dời mộ rồi. Quan tài mới cho ông nội vẫn chưa đâu ra đâu. Bây giờ mà đặt làm thì không kịp. Ý cha là… đi ‘mua lại’ một cái về.”
Tôi cau mày: “Không mua mới được sao? Sao lại phải đi mua lại từ nhà khác?”
Cha thở dài: “Quan tài mới đắt lắm. Nhà ta giờ chỉ còn đúng mười ngàn, một cỗ quan tài mới phải ba, bốn ngàn. Nếu mua lại một cỗ nhỏ, chỉ tầm một ngàn là xong.”
“Có ai chịu bán không?” tôi hỏi.
“Có chứ. Lão Vương bảo bên làng Lưu có người phát tài, định làm hẳn quan tài to cho cha mẹ. Cái quan tài nhỏ cũ bỏ thì tiếc, giữ lại thì không lành, nên tính bán rẻ đi.” Cha chau mày, giọng mang chút áy náy.
Thực ra, cái gọi là quan tài lớn – nhỏ, chính là loại mười tấm với mười sáu tấm. Nghe thì tưởng quan tài mười sáu tấm to hơn, nhưng thật ra ngược lại, nó nhỏ và mỏng hơn nhiều.
Làm quan tài vốn rất cầu kỳ, không phải thợ mộc nào cũng đủ bản lĩnh. Quan tài ngày xưa đều thẳng góc cạnh, về sau cải thành “năm gờ ba tròn”, mà kiểu dáng này đòi hỏi gỗ cực kỳ chuẩn. Làm quan tài mười tấm thì dùng mười tấm ván, ván phải dày mới ra dáng. Còn mười sáu tấm thì dùng mười sáu tấm ván ghép lại, như拼图 (ghép hình), thành ra mỏng hơn, nhìn cũng kém sang, khác nào so biệt thự với nhà đất nện.
Ở quê, người chết nằm quan tài càng to, càng dày thì mới “an”, con cháu cũng nở mày nở mặt. Nhưng với đám Bát tiên chúng tôi, quan tài chỉ là quan tài, to nhỏ gì cũng thế, miễn khiêng nhẹ là mừng.
Nói dài dòng thế, nhưng quay lại chuyện chính: tôi hiểu cha tự trách, vì theo tục làng, quan tài khi dời mộ phải to hơn quan tài cũ. Mà điều kiện nhà tôi khó khăn, quan tài mười hợp ít nhất cũng tám, chín ngàn, tốt hơn thì cả chục ngàn, thậm chí vài chục ngàn. Không thể so được.
Tôi vỗ vai cha: “Vậy thì mua lại đi. Con tin ông nội sẽ hiểu cho mình.”
Cha gật đầu, rồi mượn điện thoại gọi cho đạo trưởng Thanh Huyền Tử, nói sơ về việc dời mộ. Đạo trưởng nhận lời ngay, còn bảo tiền công cứ trả như thường lệ, ông không thể phá quy củ.
Người cần mời gần như đã đủ, giờ chỉ còn thiếu một thầy bếp và tám người khiêng quan tài.
Theo lệ, nấu nướng thường do người thân lo. Nhưng dời mộ hôm đó, tôi với cha phải làm hiếu tử hiếu tôn, mẹ lại nằm liệt giường, cơm nước chẳng biết nhờ ai. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi cắn răng quyết định nhờ quả phụ Lưu nấu. Dù bà ấy dung mạo hơi kỳ quái, nhưng tay nghề thì ổn. Tôi bàn với cha, cả hai đều thấy được.
Cha liền gọi lão Vương cùng mấy người trong thôn đi làng Lưu mang quan tài về. Còn tôi ở nhà tính chuyện chọn Bát tiên.
Xem tướng mạo, Quách Béo có thể tính một. Lão Vương mặt mày dữ dằn cũng coi như một. Sáu người còn lại thì bí. Nông dân quanh vùng đa phần lam lũ, làm gì có tướng quý, tướng phúc. Cuối cùng, tôi nghĩ ra mẹo: vẽ mặt. Quý khí với phúc khí thì không giả được, nhưng vẽ cho mặt họ trông dữ tợn thì chắc cũng đủ “áp tà”.
Quyết xong, tôi gọi điện cho Cao Lão cùng vài người, báo ngày giờ: sáng hôm đó đến nhà tôi ăn sáng, giữa trưa thì động thổ.
Hai ngày tiếp theo, cả nhà tôi bận rộn chuẩn bị. Kiều Y Tư thì ở cạnh mẹ tôi, chăm sóc chu đáo. Lạ là cô nàng suốt ngày đeo cái máy nghe nhạc, làm gì cũng cắm tai nghe. Nhiều lần tôi gọi nhờ lấy đồ mà cô chẳng nghe thấy, bực muốn đập luôn cái máy.
Tối hôm trước ngày dời mộ, Quách Béo xuất hiện. Đầu nó còn quấn băng, tay xách một túi to. Vừa bước vào cửa đã gào ầm lên: “Cửu ca, anh chơi không đẹp tí nào! Tiền viện phí của em sao anh lại đi đóng?”
Nói rồi, nó ném thẳng vào tay tôi một xấp tiền, đúng mười ngàn.
Tôi sững ra, mới nhớ: hôm tôi xuất viện, có tiện tay đóng giúp nó khoản tiền đặt cọc. Hai anh em giằng co mãi, nó kiên quyết bắt tôi nhận, còn nói nếu không nhận thì tình nghĩa anh em coi như chấm hết. Bất đắc dĩ, tôi đành cầm.
Mười ngàn trong nhà vốn đã hao hụt gần hết mấy ngày chuẩn bị, chỉ còn lại chút tiền công. Đến chuyện tiền mừng (bao đỏ), tôi với cha còn phải đau đầu tính bớt đi cho đỡ tốn.
Giờ thì tốt rồi, Quách Béo trả lại, nhà tôi bớt hẳn căng thẳng. Cũng có tiền để lo bao đỏ chu đáo.
Nhà nghèo là thế: bất kể tang hay hỉ, tiền nong lúc nào cũng phải tính toán rành rẽ.

Chương 83. Dời mộ (phần 10)
Không bao lâu sau khi Quách Béo đến, Lang Cao và đạo trưởng Thanh Huyền Tử cũng theo tới. Vì tôi và cha phải giữ đạo hiếu, không tiện tham gia nhiều việc, nên tôi giao toàn quyền cho Lang Cao, để anh ta phân công nhân sự, phát bao lì xì, tính công xá. Tôi chỉ ngồi một bên nghe.
Đang nghe, bỗng trong phòng vang lên một tiếng hét thảm chói tai. Tôi quay sang nhìn thì Quách Béo biến mất, mười phần chắc tám là nó lại bày trò gì đó. Tôi áy náy cười với Lang Cao, bảo anh ta tiếp tục, rồi vội bước vào phòng mình.
Vừa bước vào, tôi thấy Kiều Y Tư mặt mày u ám, đôi mắt gắt gao nhìn chằm chằm Quách Béo đang nằm lăn trên giường. Cô không nói một lời, xông lên thẳng, đá một cú vào hông nó, mắng: "Tên mập chết tiệt từ đâu ra thế này, còn không mau cút khỏi giường của bà đây, không thì ta phế ngươi ngay bây giờ!"
Quách Béo rú lên một tiếng, thấy tôi xuất hiện liền “vèo” một cái trốn sau lưng tôi. Tôi thề là chưa từng thấy một cục thịt nào chạy nhanh như thế. Nó run rẩy hỏi: "Cửu ca… vị này có phải… vợ anh không vậy?"
Tôi gõ một cái lên đầu nó, giải thích: "Vợ cái đầu mày! Cô ấy không có chỗ ở, tạm thời ở nhờ nhà tao thôi."
Tưởng rằng sau cú đá vừa rồi nó sẽ ngoan ngoãn, ai ngờ vừa dứt lời, bản tính dê xồm của Quách Béo lại trồi lên. Nó chỉnh lại quần áo, xoa xoa chỗ vừa bị đá, rồi cười hề hề nói: "Người đẹp, nhà Cửu ca điều kiện không tốt, hay là tới nhà anh đi? Anh biết đủ loại mát-xa, cạo gió, xoa bóp là sở trường, còn tuyệt nhất là…"
Chưa kịp nói hết câu, tôi lại được chứng kiến cảnh “chữ sắc trên đầu là lưỡi dao”. Kiều Y Tư tức giận quát: "Con mẹ ngươi, dám trêu ghẹo bà à!"
Nói xong, cô tung thêm một cú đá vào bụng nó. Cảnh tượng đó khiến tôi hơi xót ruột. Tôi từng nếm qua sức mạnh đôi chân của cô nàng này, cú đá giận dữ chắc chắn còn kinh khủng hơn. Tôi liếc sang, chỉ thấy Quách Béo ôm bụng ngồi thụp xuống đất, mồ hôi ròng ròng, miệng kêu la thảm thiết.
Trong thoáng chốc, tôi chỉ muốn chuồn ngay khỏi căn phòng này, một kẻ háo sắc, một người ghét sắc như thù, ở chung thì kiểu gì cũng có chuyện, chưa biết chừng Quách Béo sẽ bị đánh sống dở chết dở mất.
Vì không dám trêu chọc Kiều Y Tư, tôi chỉ còn cách kéo Quách Béo ra ngoài, an ủi nó một hồi, rồi kể lại cho nó nghe cảnh tôi gặp gỡ cô ấy. Nghe xong, Quách Béo lập tức nảy sinh cảm giác “đồng bệnh tương lân”.
Vừa bước ra cửa, nó vẫn ôm bụng, lầm bầm chửi: "Cửu ca, con đàn bà độc ác này phải đuổi đi, giữ lại chỉ tổ tai họa!"
Tôi vừa đi vừa khuyên: "Thôi nào, cô ấy cũng đáng thương, cái tính mạnh mẽ đó chẳng qua là để tự bảo vệ mình thôi."
Ra tới phòng khách, tôi kéo Quách Béo ngồi xuống, cấm tiệt nó không được trêu chọc Kiều Y Tư nữa, rồi tiếp tục nghe mọi người bàn việc.
Mãi đến hơn 10 giờ đêm, mọi việc mới được định đoạt xong xuôi. Điều này khiến tôi phải nhìn Lang Cao bằng con mắt khác: anh ta quả thật có tài sắp xếp, tính toán tiền công, bao lì xì đều đâu ra đó, tôi không tìm ra một chỗ sai.
Hôm sau, sáng sớm, Cao Lão dẫn theo năm người “Bát Tiên” tới, toàn gương mặt quen. Vừa thấy tôi, anh ta đã mắng: "Trần Bát Tiên, cậu hại tôi khổ quá rồi!"
Tôi ngạc nhiên hỏi chuyện gì.
Cao lão nói: "Vừa nghe tin nhà cậu dời mộ, mấy Bát Tiên tranh nhau tới, ai cũng nói không cần tiền. Nhưng cậu lại bảo tôi chỉ gọi năm người. Thế là tôi phải lựa năm tên khỏe mạnh trẻ trung, còn lại đều bị từ chối. Giờ bọn họ nhìn tôi bằng ánh mắt đỏ như mắt thỏ. Tất cả đều do cậu gây ra đấy. Sau này cậu phải đứng ra giải thích, nếu không tôi chẳng thèm nhận cậu là đầu lĩnh của bọn tôi nữa!"
Tôi ngượng ngùng cười, hứa: "Được, xong việc dời mộ, tôi sẽ mời cả đám đi ăn một bữa ở trấn, coi như tạ lỗi."
Thật ra lúc gọi điện cho Cao Lão, tôi đã đoán trước sẽ xảy ra chuyện này. Giờ trong nhóm Bát Tiên có kẻ theo tôi kiếm ăn, nếu tự mình gọi người chắc chắn sẽ làm phật lòng kẻ khác. Thế nên giao hẳn cho Cao Lão, coi như tôi được thảnh thơi.
Ăn sáng qua loa xong, Lang Cao liền sắp xếp cho lão Tú Tài dẫn Lão Vương cùng đám Bát Tiên đi đào huyệt mới. Còn tôi, cha và Thanh Huyền Tử thì mang dụng cụ tới mộ ông nội.
Lão Tú Tài tính toán giờ động thổ là 12 giờ 45. Trước đó, chúng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, chờ đúng lúc phá đất.
Vừa tới mộ, sắc mặt Thanh Huyền Tử liền sa sầm, nói: "Trần Bát Tiên, mộ này âm khí nặng như thế, lẽ ra phải dời đi từ mấy năm trước, sao kéo dài tới tận bây giờ?"
Tôi cười gượng, kể cho ông nghe chuyện mấy hôm trước ở mộ. Nghe xong, ông càng trầm mặc, không nói thêm, chỉ cúi đầu bày đàn pháp ngay trước mộ.
Pháp đàn của ông vô cùng đơn giản: một tấm vải vàng, một lư hương, ba nén hương thơm và một cái chuông trừ tà. Đặc biệt, bên cạnh còn đặt một bát nước trong veo, không chút tạp chất.
Tôi hỏi đó là gì, ông đáp: "Nước vô căn. Sau khi đào được hài cốt phải dùng nó rưới lên để xua đi âm khí."
Về loại nước này tôi biết rất ít. Nghe nói chỉ cần hứng nước mưa chưa rơi xuống đất thì đã gọi là vô căn thủy. Có người lại bảo phải là sương sớm mới thật sự chuẩn. Ở nông thôn, những chuyện thế này chẳng thể tranh cãi rạch ròi, ai theo cách của người nấy.
Bày pháp đàn xong, Thanh Huyền Tử hỏi giờ sinh ngày tháng của tôi và cha, rồi tính toán một hồi. Ông nhìn tôi với ánh mắt kỳ lạ, nói: "Trần Bát Tiên, số mệnh cậu vốn định sẵn là cử nhân, sao lại bước chân vào nghề Bát Tiên này?"
Tôi bật cười: "Thôi đi, đừng chọc tôi nữa. Tôi mà cử nhân gì chứ? Cùng lắm là cử nhân… bới đất thôi!"
Nói thế nhưng trong lòng tôi vẫn có phần khâm phục. Ông đoán cũng khá chuẩn: từ tiểu học đến cấp hai, tôi luôn đứng nhất lớp. Nếu không có thành tích đó, với hoàn cảnh gia đình tôi, làm gì có cơ hội học tiếp lên cấp ba. Đúng ra sau khi tốt nghiệp cấp hai, con đường học hành của tôi đã phải chấm dứt.
Chỉ vì lên cấp ba tôi sa vào nghiên cứu “Lục Đinh Lục Giáp”, thành tích mới tụt dốc không phanh, nếu không thì biết đâu tôi đã thật sự có cơ hội làm cử nhân. Đời mà, ba phần số mệnh, bảy phần dựa vào bản thân.
Thanh Huyền Tử thấy rõ thần sắc của tôi, chỉ lắc đầu, không nói thêm. Ông lấy từ túi bát quái ra năm thanh gỗ đen sì. Thanh thứ nhất cắm ngay giữa mộ, bốn thanh còn lại cắm ở bốn hướng Đông, Nam, Tây, Bắc, cách mộ chừng một thước.
Sau đó, ông lấy ra một dây mực, buộc vào cây gỗ giữa, kéo sang cây gỗ phía Tây vòng một vòng, rồi lần lượt vòng qua cây ở phương Nam và Bắc.
Vừa vòng xong, ông lẩm bẩm niệm chú, sắc mặt chợt biến, tay vỗ mạnh lên cây gỗ phía Đông, quát lớn: "Tật!"

Chương 84. Dời mộ (phần 11)
Chữ “Tật!” vừa dứt khỏi miệng Thanh Huyền Tử, bầu không khí quanh mộ lập tức trở nên kỳ dị. Cảm giác ấy rất khó tả, chỉ thấy lông tơ trên tay tôi dựng đứng, nổi cả da gà, khiến tôi không khỏi rùng mình kinh ngạc.
Chưa kịp nghĩ thêm, Thanh Huyền Tử đã chấm một giọt nước vô căn, nhỏ lên sợi dây đen căng giữa mộ. Giọt nước theo sợi dây trượt dần về phía Đông, đi được chừng bảy tám phân thì rơi xuống đất, thấm vào phần mộ.
Ông nhặt một vật gì đó dưới đất, vạch ngay chỗ ấy thành một vòng tròn nhỏ. Tôi tò mò hỏi làm gì thế, ông đáp: "Đây chính là sinh môn của huyệt, nhát cuốc đầu tiên phải đào ở đây. Nếu không, sẽ khiến người chết không vui, dễ sinh ra dị sự."
Ông còn giải thích thêm: vừa rồi những động tác ấy chính là để tìm ra sinh môn. Năm cây gỗ đen kia gọi là tầm sinh trượng, cắm bốn phương một trung tâm, bày thành trận pháp để định sinh môn.
Thú thật, tôi chẳng hiểu mấy trận pháp của Đạo gia, cũng không có hứng thú. Ở nông thôn, nhiều lễ nghi ma chay nghe qua cũng thấy phiền. Thậm chí tôi còn nhớ câu Kiều Y Tư từng nói, đa phần chỉ là mấy gã đạo sĩ giả vờ. Nhưng với Thanh Huyền Tử, tôi phải thừa nhận: ông ta quả thật có bản lĩnh.
Sau khi định xong sinh môn, Thanh Huyền Tử ngồi xếp bằng cạnh đàn pháp, bắt đầu tụng kinh, nói là để giúp hồn ông nội tôi thuận lợi trong việc dời mộ.
Tôi và cha không nói gì thêm, chỉ hướng về mộ ông lạy ba lạy. Sau đó, chúng tôi dựng một tấm bạt nhựa phơi lúa, lấy bốn cọc gỗ chống lên che trùm cả mộ. Bởi quan tài khi đào lên tuyệt đối không được để ánh nắng chiếu vào, kẻo tổn thương hồn phách của ông nội.
Rồi chúng tôi tiếp tục chuẩn bị. Tới gần trưa, lão Tú Tài dẫn đám Bát Tiên trở lại. Ông ghé tai cha tôi nói mấy câu gì đó, tôi không nghe rõ, chỉ thấy cha tươi mặt hẳn, chắc chắn là tin tốt.
Người gần như đã tới đủ, chúng tôi chờ đến đúng 12 giờ 45. Thanh Huyền Tử nói có thể bắt đầu phá đất. Theo thứ tự tôn ti thì nhát cuốc đầu tiên phải do cha tôi thực hiện. Nhưng chẳng hiểu lão Tú Tài lên cơn gì, nhất quyết bắt tôi ra tay.
Không còn cách nào, tôi đành cầm cuốc, chuẩn bị bổ xuống. Nhớ lại những trải nghiệm kinh hoàng lần trước, lần này tôi cẩn trọng vô cùng. Trước tiên đốt ít vàng mã, rồi quỳ trước mộ khấn: "Ông ơi, hôm nay cháu thay ông dời sang nhà mới, chỗ ở sau núi, cũng gần mộ cụ Thái Công. Xin ông phù hộ cho việc dời mộ được thuận buồm xuôi gió, an yên tốt lành."
Khấn xong, tôi mới bổ cuốc. Mọi chuyện suôn sẻ, chẳng có gì bất thường xảy ra. Ngay khi lưỡi cuốc bổ xuống, đám Bát Tiên xung quanh liền cầm cành cây dài, quất liên tục quanh bốn phía mộ.
Thanh Huyền Tử đứng ở chỗ tảng đá thờ trước mộ, tay lắc chuông trừ tà, miệng đọc: "Lao manh no cơm rượu, già trẻ chủ nhà đều hưởng phúc; đào mộ đào ra đất vàng, đất vàng xây thành Tử Cấm Thành, trong thành sinh chân long, huyệt sâu vững chãi chống trời!"
Dứt lời, ông làm một động tác kỳ lạ: ngón trỏ và giữa tay trái khép lại, chỉ thẳng vào chỗ tôi vừa phá đất, rồi lập tức quay sang hô lớn với Lão Vương: "Giết gà trống, tế thần minh!"
Lão Vương nào dám chần chừ, vội vác con dao bếp và một con gà trống. Ông ta cắt phựt cổ gà, máu đỏ phun ra, cầm con gà đi vòng quanh mộ một vòng, rồi bôi máu lên tảng đá thờ, cuối cùng nâng con gà lên vái ba cái về phía mộ.
"Trần Bát Tiên, cậu có thể buông cuốc được rồi!" Thanh Huyền Tử gọi tôi, đồng thời ra hiệu cho Cao Lão châm pháo.
Việc đốt pháo trong lễ động thổ này rất hệ trọng: tràng pháo phải nổ liền một mạch, không được đứt ngắt. Nếu bị ngắt coi như điềm xấu, là có chỗ thất lễ với người chết.
Lo xa, tôi đã cố ý mua loại ngắn nhất, chỉ tầm 20 phân, châm một cái là nổ hết trong 10 giây. Dù trong mắt người ngoài có thể bảo nhà tôi keo kiệt, nhưng sau vụ quái sự mấy hôm trước ở mộ, tôi chỉ mong tránh thêm rắc rối.
Nào ngờ, đúng lúc pháo chỉ còn hơn một phân, bỗng nhiên… tắt ngóm!
Cả đám sững sờ. Cao Lão định tiến lên đốt lại, nhưng Thanh Huyền Tử xua tay: "Đã vậy thì chứng tỏ người chết không muốn. Chắc chắn còn chuyện gì chưa xử lý ổn thỏa. Cứ chờ xem đã."
Nói rồi, ông quay sang tôi, hỏi: "Trần Bát Tiên, lúc phá đất, trong lòng cậu có phải nghĩ chuyện khác không?"
Tôi ngẩn người, chưa hiểu ý ông. Mãi ba bốn giây sau mới chợt nhận ra: quả thật lúc nãy trong đầu tôi toàn lo lắng về chuyện quái dị lần tu sửa mộ trước đó, sợ nó tái diễn, đến nỗi chẳng tập trung vào việc phá đất. Thì ra trục trặc là từ chỗ tôi!
Tôi gật đầu, bèn cầm nửa cân vàng mã, tới trước tảng đá thờ quỳ xuống, vừa đốt vừa khấn: "Ông ơi, cháu nhỏ dại, mong ông đừng trách. Chờ dời mộ xong, trong ba năm tới, cháu nhất định sẽ lập bia mộ cho ông cùng các bậc tổ tiên!"
Lời này vừa là xin lỗi, vừa là lời hứa với ông.
Thanh Huyền Tử bảo tôi đứng dậy: "Giờ thử đốt lại một tràng pháo nữa. Nếu lại tắt, thì buộc phải hoãn, chọn ngày khác mới được."
Tôi hiểu ý ông. Dời mộ khác hẳn việc an táng, dị sự nhiều vô kể. Nếu hồn người chết đã tỏ vẻ bất mãn, hậu nhân chỉ có thể tuân theo. Cố tình làm trái sẽ gặp họa.
"Trần Bát Tiên, khi đốt pháo, cha con cậu phải thành tâm, tuyệt đối không nghĩ chuyện khác." Thanh Huyền Tử dặn: "Người châm pháo cũng vậy."
Chúng tôi đồng thanh vâng lời. Tôi và cha đứng bên trái mộ, mắt dán chặt xuống, trong đầu chỉ nghĩ đến việc dời mộ, không dám nảy ra ý nào khác. Có những thứ thật sự huyền bí, chẳng thể lý giải.
Lúc này, Thanh Huyền Tử lấy từ túi bát quái ra một viên đá đen nhỏ, đặt lên tảng đá thờ, nói nó có thể trấn giữ cô hồn dã quỷ gần mộ. Ông niệm thêm vài câu chú, rồi hô lớn: "Đốt pháo!"
“Đùng đoàng…” tiếng pháo nổ dồn dập vang lên.
Chúng tôi nín thở, mắt không rời chuỗi pháo, chỉ lo sợ nó lại xảy ra sự cố…

Chương 85. Dời mộ (phần 12)
Dưới ánh mắt chăm chú của mọi người, tràng pháo ấy nổ trọn vẹn, êm xuôi. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Việc dời mộ phải từng bước chuẩn xác, tuyệt đối không thể sai sót.
"Đào!" Thanh Huyền Tử quát lớn.
Đám Bát Tiên nghe lệnh, đồng loạt vung cuốc xới đất. Quách béo mới đào được mấy nhát đã mồ hôi nhễ nhại, thỉnh thoảng lại liếc trộm tôi, ánh mắt vô tội như muốn nói: “Cửu ca, em không đào nổi nữa rồi…”
Tôi làm lơ. Tên này mà không bắt làm việc nặng thì mỡ càng ngày càng chồng chất, nên tôi mặc kệ. Tôi cùng cha quỳ cạnh mộ, cứ cách bảy phút lại dập đầu cảm tạ Bát Tiên đã giúp tổ tiên nhà tôi “chuyển nhà”.
Vì sao là bảy phút? Bởi chữ bảy (七) đồng âm với chữ khởi (起), ở quê tôi “đào mộ” còn gọi là khởi mộ.
Mộ ông nội chôn cũng nông, đất lại tơi, nên chỉ mất chừng bốn mươi phút đã lộ ra hình dáng nắp quan tài. Quan tài chôn lâu năm mục nát chẳng còn hình dạng, trên mặt còn lổm ngổm mấy con dòi trắng, nhìn mà buồn nôn.
Thấy vậy, Thanh Huyền Tử kéo dài giọng hô: "Hiển quan! Ngừng cuốc! Con cháu hiếu tử quỳ lên tạ ơn!"
Tôi và cha đứng dậy, do quỳ lâu nên chân tê dại. Tôi lôi từ túi ra chín phong bao đỏ, phát cho mỗi Bát Tiên một người, rồi biếu Thanh Huyền Tử một phong dày hơn, theo lệ.
Thú thật, tôi nghĩ công đào mộ là do Bát Tiên vất vả nhất, đáng lẽ họ phải được nhiều hơn. Nhưng kỹ thuật của Thanh Huyền Tử thì không ai thay thế được. Cuộc đời vốn thế, thợ có tay nghề lúc nào cũng nhàn nhã mà tiền lại nhiều hơn. Điều này càng cho thấy, học một nghề vẫn là quan trọng nhất.
Phát xong tiền mừng, cha tôi còn tặng mỗi người thêm một bao thuốc Bạch Sa mười đồng. Đáng nói là, thuốc lá phát khi khởi mộ phải ngon hơn thường ngày. Nhà tôi làm đám dời mộ lần này toàn mua loại năm đồng, riêng khâu khởi mộ thì lão Tú Tài bắt mua hẳn một cây loại ngon, để “cho ông nội thấy con cháu coi trọng việc dời mộ”.
Làm xong thủ tục, chúng tôi cảm tạ mọi người, rồi đốt ít vàng mã bên cạnh mộ, chuẩn bị khiêng quan tài.
Thanh Huyền Tử quan sát một vòng, khoát tay: "Nghi lễ phá đất đã xong. Quan tài phải qua giờ Ngọ mới được đưa lên. Giờ đi ăn cơm trưa, tiện thể mang quan tài mới ra đây, rồi lát nữa sẽ “nhặt long thể” (tiếng lóng, tức gom xương cốt)."
"Tại sao vậy?" tôi hỏi.
Ông đáp: "Động thổ lúc 12 giờ 45 là để mượn dương khí chính Ngọ xua sạch uế khí trong mộ. Bây giờ tà khí đã tan, chỉ còn lại long thể. Nếu giờ gom xương, dương khí giữa Ngọ sẽ làm tổn thương long thể, hậu nhân sẽ bị ảnh hưởng."
Nghe xong, tôi mới vỡ lẽ, thấy cũng học được điều mới. Nhưng giữa đạo sĩ với Bát Tiên vốn không hợp, nên tôi không tiện hỏi thêm, đành dẫn mọi người về nhà.
Người ta nói: “Giàu trong núi sâu vẫn có bà con xa, nghèo giữa phố chợ chẳng ai đoái hoài.” Nhưng câu này áp vào nhà tôi thì không hẳn. Dù nghèo, nhưng dịp dời mộ này cũng có bảy tám họ hàng đến, mang chút tiền mừng dự tiệc. Tất nhiên cũng nhờ cha tôi xưa nay sống tử tế.
Về đến nhà, Lang Cao đã bảo bếp nấu sẵn tiệc. Đếm ra có năm bàn: một trong nhà chính, bốn đặt ngoài sân.
Thấy tôi, Lang Cao kéo tôi ra một góc, lộ vẻ khó xử: "Trần Bát Tiên, tiệc này khó sắp xếp quá…"
"Sao vậy?" tôi hỏi.
"Theo lẽ, tám vị Bát Tiên ngồi bàn trong nhà thì hợp rồi. Nhưng Thanh Huyền Tử lại có tiếng tăm, là thầy phong thủy chủ trì việc dời mộ, để ông ấy ngồi ngoài sân thì khó coi quá…"
Quả thật nan giải. Bữa sáng chỉ là đãi cơm bạn bè, không câu nệ. Nhưng trưa nay mới là chính tiệc, phải theo nghi lễ. Nếu sắp xếp không khéo sẽ đắc tội. Chỉ một chỗ ngồi sai cũng đủ khiến Thanh Huyền Tử phật ý, trở mặt ngay. Người cùng nghề ai cũng hiểu điều này.
Dù chỉ là một bữa ăn, nhưng hệ lụy thì không nhỏ. Tôi liền hỏi: "Thế còn các bàn khác sắp sao?"
"Họ hàng và người giúp việc thì xếp ngoài sân. Dân trong làng cũng vậy. Bàn tiệc đều có ghi tên, chắc không lộn." Lang Cao đáp.
"Còn nhà tôi thì sao?" tôi gặng hỏi.
"Vốn tôi định xếp cho nhà cậu một bàn riêng. Nhưng cha cậu bảo không có họ hàng đến, tôi tính toán rồi chỉ bày năm bàn. Giờ bỗng có bảy tám người họ đến, vừa khít chiếm mất bàn ấy. Thế nên cậu, cha cậu, cả cô Kiều kia… e là phải đứng mà ăn thôi!" Lang Cao đưa mắt nhìn vào trong nhà, phân trần.
Ban đầu tôi muốn để Thanh Huyền Tử ngồi cùng bàn với nhà mình. Nhưng giờ ngay cả nhà tôi cũng chẳng còn chỗ, thế thì thật khó xử. Ép Thanh Huyền Tử ngồi bàn chủ tiệc thì vô lý, với tính khí ông ấy chắc chắn không chịu.
"Anh có cách nào không?" tôi hỏi vội, đẩy khó khăn về phía Lang Cao. Quả thật sắp xếp tiệc tùng là chuyện đau đầu nhất, sơ suất chút là đắc tội cả chủ lẫn khách, nên làm quản lễ cũng chẳng dễ dàng gì.
Lang Cao cẩn trọng đề nghị: "Hay là… cậu nhường chỗ cho Thanh Huyền Tử? Dù sao cậu là đầu lĩnh của Bát Tiên…"
"Không được!" tôi gạt phắt: "Tám vị Bát Tiên nhất định phải ngồi bàn chính, đây là nguyên tắc, không thể đổi. Nghĩ cách khác đi!"
Lang Cao nghĩ ngợi một lát rồi nói: "Vậy chỉ còn cách để lão Tú Tài, cậu và người nhà ngồi cùng Thanh Huyền Tử ở một chỗ riêng. Bàn ghế có thể đi mượn. Thức ăn thì không đủ nhiều, nhưng có lão Tú Tài gần trăm tuổi bồi tiếp, Thanh Huyền Tử chắc cũng không để bụng."
Tôi suy tính, thấy cũng hợp lý. Có hơi thiệt cho lão Tú Tài, nhưng ông vốn không câu nệ. Nói rõ rồi bù đắp sau cũng được.
"Được, cứ vậy đi!" tôi gật đầu.
Lang Cao liền quay đi lo liệu.
Tôi châm điếu thuốc, thong thả bước vào nhà. Gặp họ hàng liền chào hỏi. Vừa tới gần, tôi đã thấy đám Bát Tiên và cả Thanh Huyền Tử đều đứng lấp ló trước cửa chính, chẳng ai chịu bước vào. Thấy tôi đến, họ đồng loạt sững lại, mặt có vẻ gượng gạo…
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 13 others
Chương 86. Dời mộ (phần 13)
"Tiểu Cửu, cậu đến đúng lúc, tôi có việc gấp phải về nhà một chuyến, khỏi chuẩn bị cơm trưa cho tôi!" Lão Vương vội vã bước tới.
Tôi liếc nhìn ông ta. Diễn xuất kém quá, ý ông rõ rành rành: muốn nhường chỗ trong bàn tiệc cho Thanh Huyền Tử.
"Làm gì có chuyện không ăn cơm? Như vậy trái hết lễ nghĩa!" Tôi thản nhiên đáp, cũng không vạch trần.
"Nhà tôi nhắn, con gái thứ ba hôm nay từ ngoài về, tôi phải đi đón, lát nữa quay lại!" Cao lão cũng chen vào.
Không chỉ họ, mấy người Bát Tiên khác cũng lần lượt kiếm cớ. Ý tứ rất rõ: họ muốn bỏ chỗ ngồi, nhường bàn chính cho Thanh Huyền Tử, khỏi để tôi khó xử.
Tôi khoát tay, đưa mắt nhìn Thanh Huyền Tử. Ông ta chỉ cười mỉm, im lặng quan sát xem tôi xử lý thế nào.
"Hôm nay ai dám bỏ đi tức là không nể mặt Trần Cửu tôi! Tất cả ngồi vào bàn chính mà ăn cho đàng hoàng!" Tôi quát một tiếng. Vốn định nói nhẹ, nhưng nghĩ đến đám đàn ông này, nói nhẹ chắc chẳng ai nghe.
Vừa dứt lời, mặt Thanh Huyền Tử trầm xuống, lộ rõ vẻ giận dữ. Tôi bước lại gần, kéo tay ông: "Đạo trưởng, xin cho tôi mượn bước nói chuyện."
Nói thật, khi Thanh Huyền Tử nổi giận, gương mặt ông nghiêm nghị, khí chất chẳng tầm thường, chắc hồi trẻ cũng là bậc anh tuấn hiếm có.
Ông vẫn im lặng, tôi vừa lôi vừa nịnh: nào là đạo pháp của ông xưa nay chỉ Thái Thượng Lão Quân mới sánh được, nào là dung mạo ông mang tướng đế vương, chỉ tiếc trời cao bạc đãi, bắt ông xuống phàm trần làm đạo sĩ.
Đến gần cổng nhà, thấy Lang Cao, cha tôi và lão Tú Tài đứng đó. Tôi lén liếc vào trong: quả nhiên có bày sẵn một bàn, nhưng thức ăn kém xa bàn chính, chỉ có năm bát, mà mỗi bát chỉ đầy nửa.
Thanh Huyền Tử nổi nóng, chỉ tay mắng: "Trần Bát Tiên, bần đạo ở trấn Đông Hưng này cũng có chút danh tiếng, đến đâu làm tang sự cũng được ngồi bàn chính, ăn cao lương mỹ vị. Nay đến nhà cậu dời mộ, lại cho ta ngồi đây, ăn mấy món cỏn con này ư?"
"Ngài đừng vội giận, thử xem tôi mời ai cùng dùng cơm với ngài?" Tôi làm dấu với lão Tú Tài.
Lão Tú Tài nghiêm mặt, khác hẳn thường ngày, hỏi: "Thanh Huyền Tử, nếu lão phu cùng ông đồng bàn, ông có chịu chăng?"
Không ngờ, vừa nghe ông mở miệng, thái độ Thanh Huyền Tử thay đổi 180 độ. Nếu chỉ là “kính lão”, cùng lắm ông sẽ gượng gạo đồng ý, trong lòng chắc vẫn khó chịu. Nhưng giờ đây thì khác hẳn: Ông vội chắp tay cúi mình, hệt như được ân sủng: "Cầu còn không được, cầu còn không được! Được cùng ngài đồng bàn là vinh hạnh của tiểu đạo!"
Thế là sóng gió nhỏ trong bữa tiệc coi như qua đi. Tôi thầm thở phào. Ai chưa làm chủ tiệc sẽ không hiểu, chỉ cần Thanh Huyền Tử thực sự bỏ đi, tôi cũng chỉ còn nước há hốc mồm nhìn, bởi lỗi nằm ở gia chủ, chẳng trách ông được.
Trong bữa ăn, tôi rất hiếu kỳ về thái độ đặc biệt của ông đối với lão Tú Tài. Ban đầu họ không chịu nói, sau này lão Tú Tài uống say, tôi dò hỏi mãi mới vỡ lẽ: hồi trẻ Thanh Huyền Tử từng theo học lão nửa năm, coi như ân sư nhập môn.
Qua ba tuần rượu, lão Tú Tài ngồi cùng Thanh Huyền Tử, còn tôi với cha cầm mấy túi ni-lông, mấy cây thuốc, chia cho mỗi bàn tám bao thuốc, tám cái túi. Túi ni-lông để khách gói đồ ăn thừa mang về, tập tục quê tôi là một bàn tám người, đồ ăn không hết thì chia đều. (Ngày nay hay ngồi mười người một bàn, cá nhân tôi thấy vậy hơi thất lễ với truyền thống.)
Ăn xong, tôi đưa bà quả phụ Lưu, người nấu nướng hai trăm tệ tiền công, rồi cho ba người trong làng tới giúp mỗi người năm chục, coi như cảm ơn.
Đang lúc lo toan khách khứa, Lang Cao ghé lại: "Nhà cậu có tám người họ hàng đến, mỗi người mừng ba trăm, cậu tính đáp lễ thế nào? Việc này phải qua chủ nhà quyết, tôi không dám tự tiện."
Tôi nghĩ một lát rồi bảo: "Mỗi người trả lại một trăm, coi như hồi lễ. Dù sao cha tôi trước kia cũng từng dự tiệc ở nhà họ, cũng tốn kém nhiều."
Ở quê tôi, đó là tục lệ: đám hiếu hỷ, khách mừng bao nhiêu, chủ nhà phải trả lại một phần, nhiều ít do chủ quyết định. Người giàu thì rộng rãi, có khi không lấy tiền mừng mà còn tặng ngược lại. Nhà nghèo như tôi thì vẫn phải nhận, rồi mới trả lại chút ít cho phải phép.
Sau bữa cơm, Thanh Huyền Tử lo chuyện quan tài. Đám Bát Tiên thì ngồi trong nhà khoác lác tục tĩu: kẻ khen vợ người ta đẹp, kẻ kể chuyện bậy bạ. Tôi bước vào đúng lúc lão Vương hỏi Quách béo chuyện độc thân, nó đáp: "Không thấy chua xót, chỉ thấy… mỏi tay thôi."
Cả đám cười bò. Tôi nghe mà chỉ biết lắc đầu: “Ít thủ dâm đi thì tay đâu còn mỏi!”
Tôi vỗ tay cắt ngang: "Ăn uống xong rồi thì lo việc chính. Trước tiên khiêng quan tài trống ra mộ ông nội, xong việc dời mộ tối nay ở lại ăn cơm. Nhà tôi có ba miệng, thức ăn còn nhiều bỏ đi thì phí, mọi người giúp ăn cho hết."
Nói nghe quê kệch, nhưng ở nông thôn vốn quen vậy, thực lòng chẳng có ý gì khác.
"Tiểu Cửu, đồ trong quan tài chuẩn bị xong chưa?" Lão Vương hỏi.
"Thanh Huyền Tử lo hết rồi, chỉ chờ các anh khiêng thôi." Tôi đáp, rồi đi ra cửa. Chủ nhà nhiều việc, đâu rảnh ngồi tán nhảm với họ.
Cả nhóm Bát Tiên đi theo tôi. Quan tài đặt bên trái nhà, mua về sợ phơi nắng hư nên phủ tấm bạt nhựa. Lúc chúng tôi tới, Thanh Huyền Tử đang bỏ đồ vào trong, cũng giống như tang lễ bình thường.
"Đến rồi à? Chuẩn bị khiêng ra mộ nhặt long thể thôi!" Ông ngẩng lên chào.
Vì là dời mộ, nắp quan tài không được đậy xuôi mà phải úp ngược, rồi buộc chặt bằng long thừng. Quan tài trống khởi hành phải có ba hồi trống dẫn đường, việc gõ trống ấy là của quản lễ.

Chương 87. Dời mộ (phần 14)
Lang Cao đi trước cùng Thanh Huyền Tử, tay cầm một chiếc chiêng đồng, gõ ba tiếng. Đám Bát Tiên từ từ khiêng quan tài trống, thẳng tiến về mộ ông nội tôi. Suốt dọc đường yên ắng lạ thường, ngay cả tiếng chim kêu, côn trùng rả rích cũng thưa thớt, tĩnh lặng đến rợn người.
Đến mộ, khi quan tài vừa đặt xuống đất, tôi và cha quỳ rạp nghênh đón. Sau đó, tôi lại phát cho Bát Tiên mỗi người một phong bao, tiếp đó là một tràng pháo nổ giòn.
"Trần Bát Tiên, lát nữa cậu theo ta vào huyệt lấy long thể." Thanh Huyền Tử nhìn tôi nói, rồi quay sang cha tôi: "Việc 'sưởi giường' cho người chết, ông làm."
Tôi và cha đều ngẩn người, liền hỏi: "‘Sưởi giường’ là gì?"
Ông đáp: "Người chết nhiều năm, xương cốt lạnh lẽo. Không thể đặt vào quan tài băng giá, kẻo làm long thể thêm hàn khí. Cần có hậu nhân nằm trong quan tài làm ấm, bằng không coi như bất hiếu, dễ khiến vong linh bất mãn."
Cha tôi nghe xong gật đầu, lại hỏi cách làm.
"Ông cầm bảy tờ giấy vàng, tay trái bốn, tay phải ba, rồi nằm trong quan tài. Chỉ khi xương cốt đã lấy ra hết, ông mới được bò ra, để di cốt nhập quan."
Nghe vậy, cha tôi hơi giật mình, đứng sững một lát, cuối cùng cắn răng: "Được, tôi nằm ngay bây giờ!"
Chúng tôi cùng nhau mở nắp quan, cha cầm giấy vàng, chui vào nằm. Không đậy nắp lại, mà phủ một tấm vải đen lên trên.
Tôi thấy ông bước vào, có phần do dự, liền nói: "Cha, nếu sợ thì để con thay."
Cha mỉm cười: "Cửu nhi, con cứ theo đạo trưởng vào nhặt xương ông nội. Cha nằm đây không sao."
Tôi gật đầu, dặn lão Vương và mấy người khác trông nom cha, rồi đứng sau lưng Thanh Huyền Tử, đợi lệnh.
Ông đưa mắt quét qua từng người, ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo: "Một vài vị Bát Tiên, nếu thấy xương cốt e sẽ phạm xung."
Tôi vỗ đùi cái đét. Trước đó lão Tú Tài đã nhắc tôi phải lưu tâm khi chọn Bát Tiên. Tôi vốn định bôi mặt họ vài nét để trông dữ dằn hơn, tránh phạm xung, nhưng mải ăn cơm lại quên khuấy.
Tôi vội nói ý tưởng này với Thanh Huyền Tử. Ông cân nhắc rồi đáp: "Cậu béo kia một mặt phú quý, có phúc khí hộ thân thì được. Lão Vương tướng mạo đặc biệt, sát khí nặng cũng ổn. Còn mấy người khác, nếu vẽ như cậu nói chắc cũng tránh được."
Thời gian gấp rút, tôi không hỏi thêm, chạy ngay về nhà lấy bút lông với mực để vẽ mặt cho Bát Tiên.
Vừa vào phòng lấy đồ, có lẽ động tĩnh lớn quá, mẹ nghe thấy bèn gọi: "Cửu nhi, có phải con đó không?"
"Vâng." Tôi đáp, ôm đồ chạy sang phòng mẹ.
Vào thì thấy Kiều Y Tư vẫn ngồi đầu giường, tai đeo máy nghe nhạc như mọi khi. Mẹ thì tựa vào gối, nhìn tôi bước vào, cả hai cùng đưa mắt nhìn.
Mẹ nói: "Cửu nhi, sinh thời ông con đối đãi ta chẳng tệ. Nay dời mộ, ta phải ra xem. Con cõng ta ra mộ."
Tôi vốn định khuyên, vì chân mẹ yếu, nhưng nghe giọng điệu không phải xin mà là lệnh, tôi đành nuốt lời, nhờ Kiều Y Tư đỡ mẹ lên lưng mình.
Người mẹ nhẹ bẫng, chừng tám mươi cân. Hồi chưa bệnh, bà còn 110 cân. Giờ gầy sọp thế này, tôi nhìn mà lòng quặn thắt. Người ta nói tương tư dày vò, nhưng với tôi, tận mắt thấy người thân gầy mòn từng ngày, mà bất lực không làm gì được, đó mới là thống khổ.
Tới nơi, mọi người thoáng sững lại, song không ai phản đối. Tôi chọn tảng đá sạch cách mộ hai mét cho mẹ ngồi, kê thêm vài vật phía sau để bà tựa.
Vừa xong, Thanh Huyền Tử vẫy tôi lại, hỏi: "Trần Bát Tiên, cô gái ngồi cạnh mẫu thân cậu là ai? Ta thấy cô ấy chẳng phải nữ tử tầm thường."
"À, ông nói Kiều Y Tư à? Cô ấy là một cổ sư, coi như bạn của tôi. Không chỗ ở, nên tạm trú nhà tôi, tiện chăm sóc mẹ." Tôi giải thích. Rồi chợt nhớ, lúc ăn trưa cô ngồi cạnh ông, sao khi ấy không hỏi? Tôi thắc mắc, liền nêu ra.
Ông gật đầu: "Lúc đó ta mải trò chuyện cùng ân sư, không để ý."
Nói rồi, ông nhìn tôi chằm chằm một lúc, rồi lại quan sát Kiều Y Tư thật lâu. Cuối cùng, ông nhìn tôi kỳ lạ: "Cậu và cô gái ấy có tướng phu thê. Sau này e sẽ là vợ chồng. Nhưng thân phận cô ấy là cổ sư, ta cũng có nghe ít nhiều, con đường hai người không dễ đi. Nếu có thể, ta khuyên nên tránh xa, kẻo bất lợi cho cậu. Dĩ nhiên, đây chỉ là lời bàn theo tướng, cậu nghe cho biết."
Tôi chỉ cười gượng, không muốn bàn sâu. Giờ tôi còn tránh cô ấy không kịp, nói chi chuyện lấy làm vợ? Quả là trò cười lớn.
Nhưng nghĩ lại, lời ông nói lại giống hệt bà cụ nuôi trùng kia từng nói. Cả hai cùng khẳng định Kiều Y Tư có duyên phu thê với tôi. Điều khiến tôi nghi hơn là: bà cụ kia chẳng hề nhìn thẳng tôi lấy một lần, vậy mà vẫn đoán trúng?
Thanh Huyền Tử còn phải ngắm kỹ lâu mới dám nói ra. Chẳng lẽ bà cụ kia tướng thuật đã đạt cảnh giới thượng thừa, chỉ thoáng liếc là thấy được vận mệnh người? Nghĩ đến mà rùng mình, mãi chưa hiểu nổi.
Đang miên man, Thanh Huyền Tử vỗ vai tôi: "Tướng thuật chớ để trong lòng quá. Giờ lo việc dời mộ đã."
"Vâng." Tôi đáp, rồi bảo lão Vương cầm cuốc, moi sạch đất quanh quan tài.
Mấy người nghe xong làm theo, nhưng không dám vén tấm vải đen. Họ chỉ đưa cuốc vào trong, mò mẫm gạt bùn ra.
Không mở vải cũng có lý do: lúc đầu khai quật, thấy nắp quan đã mục nát. Nếu lỡ nhấc vải, nắp sập, ánh sáng rọi vào thi cốt sẽ làm xương bị cháy nứt, xúc phạm vong linh. Phơi hài cốt dưới nắng là đại tổn âm đức, bởi thế, gặp mộ lâu năm, lúc nạo đất, Bát Tiên thường không dám vén vải.

Chương 88. Dời mộ (phần 15)
Khoảng bảy tám phút sau, từ dưới tấm vải đen vọng lên tiếng “bộp”, là bùn đất rơi vào trong quan tài.
"Đừng đào nữa, ngừng tay lại!" Thanh Huyền Tử quát đám Bát Tiên, rồi ngoắc tôi: "Trần Bát Tiên, cậu theo ta đi nhặt long thể."
Tôi bước tới, ông đưa cho tôi hai tấm vải, một đỏ một đen, vuông vức chừng một mét. Vải sờ vào hơi ráp, chẳng mượt như vải thường. Tôi liền hỏi dùng làm gì.
Ông nói: "Long thể lấy ra từ quan tài không thể lộ ánh sáng. Phải bọc trong vải đỏ, rồi phủ thêm vải đen lên."
Tôi "ồ" một tiếng, nhận lấy, cầm trong tay mà thấy lạnh cả người, rợn tóc gáy.
Không nói thêm, ông thắp ba nén hương, hai cây nến, cắm bên tảng đá cúng trước mộ, rồi vái ba lạy. Miệng khấn:
"Long Vương miếu thủy đồng,
Hôm nay mở cửa hầm,
Trần lão gia nghe rõ,
Chúng tôi chẳng phải tặc nhân."
Giọng ông kỳ lạ, nửa hát nửa đọc, âm điệu quái dị.
Nói xong, ông ra hiệu cho tôi. Tôi bước lại, nhận ba nén hương từ tay ông.
"Thay ông cậu dâng hương, lòng phải chí thành."
Tôi quỳ xuống, dập ba lạy, miệng khấn: "Ông nội trên trời linh thiêng, xin phù hộ việc dời mộ thuận buồm xuôi gió. Ngày sau cháu thành đạt, ắt vì ông mà treo biển thêm phúc."
Khấn xong, tôi cắm ba nén hương vào đá cúng.
Rồi Thanh Huyền Tử sai Lang Cao mang chậu nước tới, nhỏ vài giọt “nước vô căn” vào, bảo tôi rửa tay. Sau đó ông vỗ ba cái lên trán, hai vai tôi, đọc chú. Lại buộc thêm dải vải đen ở cánh tay trái và bên hông.
Vẻ mặt ông nghiêm trọng: "Trần Bát Tiên, từ giờ cậu chỉ là cháu hiếu tử. Không được tham dự bất kỳ việc nào khác trong dời mộ. Dù trời có sập, cũng phải nhớ thân phận này. Nếu để ông cậu cho rằng lòng không chí thành, lỡ xảy ra chuyện, bần đạo không chịu trách nhiệm"
Tôi gật: "Biết rồi!" Rồi chỉ tay vào mặt lão Vương với đám Bát Tiên, ý hỏi có thể vẽ mặt cho họ không.
Ông đáp: "Để cô gái kia vẽ đi! Thân phận cô ta đặc biệt, hiệu quả càng tốt."
Nói đoạn, Thanh Huyền Tử vẫy gọi Kiều Y Tư, kể sơ tình hình cho cô ấy.
Nghe xong, Kiều Y Tư mừng rỡ, suýt nhảy cẫng lên, la lớn: "Việc này vui ghê!"
Tôi thật muốn tát cho cô ta một cái. Giữa lúc căng thẳng nặng nề thế này, lại bảo là “vui”. Nhưng mang thân phận hiếu tử, tôi chẳng tiện mở miệng. Chỉ thấy Thanh Huyền Tử cười khổ, chẳng chấp, rồi móc trong túi bát quái ra một lá bùa vàng, đặt lên đá cúng, lấy hòn sỏi chèn lại, dặn đám lão Vương: "Nếu lá bùa lay động, lập tức hô to: ‘Trần Cửu, mau về đi, cha ngươi ở nhà đợi cơm!’"
Nghe thấy kỳ quặc, tôi liền hỏi: "Tại sao?"
Ông đáp: "Nếu bùa rung, nghĩa là quanh đây có cô hồn dã quỷ. Ta là đạo sĩ, chúng không dám tìm, chỉ có thể đến lôi hồn cậu. Nghe được tiếng gọi ấy, vừa trấn áp cô hồn, vừa giúp cậu tỉnh lại."
Tôi nghi hoặc: "Không đến nỗi vậy chứ? Dù sao tôi cũng là Bát Tiên, trên người ít nhiều có đạo khí, chúng chắc không dám đến gần?"
Ông nói: "Dải vải đen buộc ở tay và hông là để che lấp đạo khí của cậu. Một là tránh khí ấy tổn thương linh hồn ông cậu; hai là biểu lộ quyết tâm hiếu tử. Làm con cháu hiếu thảo đâu có dễ."
Giải thích xong, ông kéo tôi vòng sang bên trái mộ. Vừa đến nơi, ông lấy ra chiếc ô giấy dầu màu đen, bật ra, rồi bảo tôi vén vải đen chui xuống.
Tôi không chần chừ, mở vải chui ngay vào huyệt. Trước hết đưa chân trái dò xuống huyệt mộ, bùn đất chưa dọn sạch, còn ẩm ướt, giẫm xuống dính cả đế giày. Tôi chẳng nghĩ nhiều, đưa chân phải men theo vách huyệt trượt xuống.
Theo lời lão Tú Tài, huyệt ông nội không rộng, chỉ có thể nằm nghiêng. Tôi trượt hẳn xuống, thân hình co lại theo thế nằm nghiêng, rồi trượt sâu hơn.
Vừa vào trong, cảm giác đầu tiên: tối om, lạnh buốt. Từng luồng hàn khí phả vào mặt. Chỉ cách một tấm vải, mà như hai thế giới. Tôi rùng mình, muốn rút cánh tay trái khỏi dưới người, chợt chạm vào vật mềm nhũn, ẩm ướt bên cạnh, chính là quan tài. Tôi vội bất động. Quan tài mục nát, chỉ khẽ dùng lực là có thể gãy nát, sẽ khó xử lý.
Nói thật, dù đã làm Bát Tiên một thời gian, nhưng tình cảnh trước mắt vẫn khiến tôi sởn tóc gáy. Trong huyệt mộ tối đen như mực, bên cạnh lại là quan tài ông nội. Lão Tú Tài từng đoán: dời mộ ắt xảy biến cố. Hiện giờ vẫn ổn, song tôi lo lúc nhặt xương sẽ gặp chuyện.
Khoảng một hai phút sau, Thanh Huyền Tử cũng xuống, ở phía đối diện huyệt. Ông mang theo chiếc đèn pin nhỏ dùng hai cục pin con.
Ở trong tối quá lâu, chỉ một ánh sáng vàng yếu ớt cũng quý như cứu tinh. Nhờ đó, tôi nhìn rõ tình cảnh quanh mình: Trên đầu là tấm vải đen dày, từ dưới nhìn lên không thấy chút ánh sáng. Bên trái là vách huyệt, khô ráo; dưới thân nằm là huyệt mộ, còn ẩm. Bên phải là quan tài, bị dòi trắng bu chen chúc gặm nhấm, khoét thành từng lỗ chằng chịt. Có con bò cả lên ngực tôi, tôi không dám phủi, sợ động đến linh hồn ông. Đành nghiêng sát vào vách mộ, cố né đi.
"Trần Bát Tiên!" Từ phía đối diện, Thanh Huyền Tử gọi khẽ.
"Làm thế nào bây giờ?" Tôi cũng hạ giọng.
"Trước khi xuống, ta đã đoán, phía đuôi quan tài cách vách huyệt hai tấc. Trước hết thử xem nắp quan có đẩy nổi không." Ông nói.
Tôi "ừ" một tiếng, nhét hai tấm vải vào ngực áo, rồi trườn tới, đầu chạm vách huyệt thì dừng lại. Tôi đặt tay lên nắp quan, cảm giác nhớp nháp, trong lòng bàn tay có thứ gì đó đang bò, chắc là dòi.
Tôi thử ấn. Nắp quan mềm nhũn, không trượt ra mà lún thẳng xuống trong.
Tôi thấp giọng gọi: "Mềm nhão, đẩy không nổi, giờ sao đây?"

Chương 89: Dời mộ (phần 16)
Tôi chờ một lát, bên kia vẫn không có động tĩnh gì, bèn cất tiếng gọi sang: “Đạo trưởng, nếu thật sự không được thì ta tìm một tấm vải đen lớn hơn, che trọn phần mộ lại, thế thì dễ dàng lấy long thể hơn.”
“Hồ đồ!” Thanh Huyền Tử quát khẽ, rồi giải thích: “Chỉ có che kín phần mộ mới giữ được âm khí của ông nội cậu không phát tán. Như vậy xuống âm gian ông mới không bệnh tật. Nếu che quá rộng thì bất lợi, chẳng những hại người chết mà còn ảnh hưởng phong thủy cả làng các người.”
Nghe lời ấy, tôi cũng thấy có lý. Giữa ban ngày dương khí thịnh, lỡ làm tổn hại ông thì sao. Tôi bèn dè dặt nói: “Hay là tối ta lại lấy long thể, chắc thuận tiện hơn bây giờ?”
Thanh Huyền Tử lắc đầu: “Ban đêm âm khí nặng, cô hồn dã quỷ càng nhiều, dễ sinh chuyện. Chỉ có cách này mới được an toàn.”
Nói rồi ông rọi đèn pin sang phía tôi. Tôi cúi nhìn, thấy trên nắp quan tài, bàn tay mình vừa đặt xuống đã bị dòi bọ bò kín. Tôi giật nảy người, rút tay về, vội vàng hất mạnh.
“Giờ phải làm thế nào?” tôi hỏi.
Bên kia quan tài im lặng một lúc rồi đáp: “Trần Bát Tiên, cậu cũng theo nghề này đã lâu, gan phải đủ lớn mới được. Ta với cậu đục vài lỗ hai bên quan tài, thò tay vào mò lấy long thể. Chỉ cần đủ hai trăm linh sáu khúc xương là xong.”
Tôi rùng mình khi nghe thế. Thò tay mò xương cốt trong quan tài, nghe thôi đã dựng tóc gáy. Ngẩn người thật lâu, tôi vẫn không dám. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, ngoài cách này chẳng còn đường nào khác, đành nghiến răng đồng ý.
Tôi dịch người xuống thấp, đưa tay áp vào vách quan tài. Chỉ khẽ dùng sức, gỗ kêu răng rắc, như xé một tấm vải, dễ dàng tách ra một mảnh bằng bàn tay. Mộ phần vốn nhỏ hẹp, xoay người đã chật, huống hồ còn thêm mảnh gỗ chẳng biết vứt đâu. Tôi liều liều, tiện tay ném luôn vào trong quan tài.
Đưa tay thăm dò bên trong, hơi ẩm nặng nề, ướt sũng. Hèn gì ông trong mộng từng than nhà dột nước, hóa ra quan tài đã ngấm ẩm từ lâu. Tôi không dám sờ sát vào thành gỗ, cứ quờ quạng trong khoảng không, mãi chẳng thấy gì, chắc thi thể đã mục rữa hết.
Nói thật lòng, trong tình cảnh này, tôi sợ hãi vô cùng. Nhưng nhớ đến bệnh tình của mẹ có khi liên quan đến phần mộ ông, tôi lại cắn răng, run rẩy đưa tay lần xuống. Bất chợt chạm phải thứ gì cứng, tròn dài, sờ kỹ, giống hệt một khúc xương chân.
Không nghĩ ngợi, tôi kéo ra ngay, nhờ ánh đèn pin chiếu đối diện mà nhìn rõ: quả thật là một khúc xương. Tôi vội lấy khăn đỏ trong ngực, cẩn thận bọc lại.
Có lẽ vì đã theo nghề Bát Tiên, nên nhìn xương cốt tôi chẳng thấy ghê sợ, thậm chí còn thấy gần gũi kỳ lạ, chính tôi cũng không giải thích nổi.
Xong khúc xương đầu tiên, tôi lại thò tay vào lần nữa. Những chỗ với tới được đều trống rỗng, chẳng còn vật cứng nào. Tôi đành đổi sang phía khác, bẻ tiếp một khe ở vách quan tài, tiếp tục mò tìm.
Lặp đi lặp lại hơn ba chục lần, khoét không biết bao nhiêu lỗ, khi thì được ba bốn khúc, khi thì tám chín khúc. Suốt gần một giờ, số xương bọc trong vải đỏ ngày càng nhiều. Tôi đếm sơ sơ được một trăm linh hai khúc, bèn ghé sát quan tài hỏi nhỏ: “Đạo trưởng, tôi được 102 khúc, bên ngài sao rồi?”
“Hình như cũng 102!” Thanh Huyền Tử đáp.
“Còn thiếu hai khúc nữa, để tôi mò kỹ lại xem.”
Nói đoạn, tôi lại thọc tay vào, lần khắp từ đầu quan đến cuối, không chừa ngóc ngách nào. Nhưng tìm khắp vẫn chẳng thấy thêm.
“Đạo trưởng, trong quan tài không còn xương. Có khi chỗ tối quá, ta đếm nhầm chăng?” tôi thăm dò.
Ông im lặng một hồi rồi bảo: “Có lẽ vậy. Thôi, ta cứ bọc long thể lại, bên ngoài phủ thêm vải đen, lúc ra ngoài chớ để ánh nắng chiếu vào.”
Ở trong huyệt gần hai tiếng, tay chân tôi tê cứng cả. Nghe vậy, chỉ còn một cảm giác duy nhất: nhẹ nhõm như được giải thoát.
Tôi gói xương thật kỹ, trong là vải đỏ, ngoài bọc vải đen. Đứng dậy, xé tấm vải che trên đầu, ánh nắng chói chang ập tới, làm mắt lóa đi, phải chớp mấy lần mới dần thích ứng.
Ngẩng lên nhìn sang, Thanh Huyền Tử bên kia thân đầy bùn đất, tay xách một bọc lớn, chẳng còn dáng vẻ bậc cao nhân đắc đạo. Chúng tôi chỉ biết nhìn nhau cười khổ, chẳng ai thốt một lời.
“Ra rồi, ra rồi! Bọn tiểu Cửu ra rồi!” tiếng lão Vương vọng đến.
Tôi ngẩng theo tiếng nhìn thấy lão cùng đám Bát Tiên ngồi quanh chiếc quan tài mới, mặt mày vẽ vằn dữ tợn, miệng ngậm thuốc lá, khói bay mịt mù, trông tự tại vô cùng.
“Cửu Nha Tử, xong chưa?” lão Vương bước lại hỏi.
Tôi gật đầu, đáp không chắc chắn: “Chắc là xong rồi!” vừa nói vừa ra hiệu nhờ ông kéo tôi lên.
Vừa leo lên khỏi huyệt, đang định phủi bùn đất trên người thì Quách Béo đã thò đầu lại gần, cười gian: “Cửu ca, ở dưới mộ lâu thế, đào được vàng không?”
“Cút!” Tôi chẳng buồn nhìn, giơ chân đá thẳng vào mông nó.
“Cửu ca, huynh đệ ở trên lo cho anh bao lâu, anh lại đối xử thế, để em biết giấu mặt vào đâu đây!” Quách Béo giả vờ than thở.
Tôi quá quen trò này. Mỗi lần nó nói “biết giấu mặt vào đâu” thì y như rằng có việc nhờ vả. Hồi còn đi học đã vậy. Tôi cắt ngang: “Có gì thì nói thẳng!”
“Cửu ca, xem khuôn mặt đẹp trai của em đây!” nó vừa nói vừa quay mặt.
Tôi liếc lên, phì cười thành tiếng. Trên mặt nó có vẽ một con rùa, nét vẽ còn khéo. Đặc biệt con rùa lại không có đầu, ý mỉa mai khỏi bàn. Chẳng cần đoán cũng biết thủ bút của Kiều Y Tư.
“Đang việc chính, đi rửa mặt đi!” Tôi phẩy tay bảo.
Nhưng Quách Béo vội kéo tôi lại, tay chỉ về phía Kiều Y Tư, giọng nức nở: “Cửu ca, cô ấy không cho! Lần trước em rửa đi một lần, cô ấy đá đỏ cả mông, còn dọa lần sau sẽ đá mạnh hơn. Anh thương em, nói hộ vài câu đi. Đàn ông đầu đội trời chân đạp đất, mặt lại vẽ rùa, coi sao được? Nhìn lão Vương với mấy người kia kìa, toàn nét vẽ oai phong hết!”
Tôi đưa mắt nhìn về phía Kiều Y Tư. Cô nangg đang đeo tai nghe, ngồi cạnh mẹ, thấy tôi nhìn thì khẽ gật đầu, không nói nửa lời.
Lạ thật. Từ ngày tôi tặng nàng cuốn băng nhạc Hoàng Gia Cúc, tính tình như thay đổi hẳn. Thường thì rảnh rỗi là chọc ghẹo tôi vài câu, nay lại tránh mặt, lặng lẽ như người khác. Chỉ một cuốn băng thôi mà đổi khác cả con người sao? Không tin được.
Nhưng bảo cô ta đổi tính thì cũng không hẳn. Nhìn bộ mặt Quách Béo bị vẽ thế kia thì khó mà hiểu nổi. Tôi đành mặc kệ, bảo nó: “Thôi đi rửa đi, chẳng cần vẽ làm gì.”
Đúng lúc ấy, Thanh Huyền Tử vẫy tôi lại: “Trần Bát Tiên, sang đây. Ta ghép xương, đếm lại xem đủ chưa.”

Chương 90: Dời mộ (phần 17)
Tôi đi đến bên Thanh Huyền Tử, đưa bọc xương trong tay cho ông, hỏi: “Chắc là không thiếu đâu nhỉ?”
“Cái này không nói trước được, cứ xem rồi hẵng hay.” ông nhận lấy bọc, bảo lão Vương cùng đám Bát Tiên kéo một tấm vải đen lớn che quanh chiếc quan tài mới, chừng ba bốn mét vuông. Rồi ông gọi cha tôi bước ra khỏi quan tài, tự mình đưa tay thăm thử bên trong, gật gù hài lòng, hẳn vì hơi người đã sưởi ấm quan tài thêm phần ấm áp.
Sau đó, Thanh Huyền Tử bảo Lang Cao đi tìm thêm vài dụng cụ chiếu sáng. Đám Bát Tiên vừa giữ vải đen, vừa cầm đèn pin soi rực rỡ, biến chỗ che tạm thành một căn phòng sáng choang.
Ông mở bọc, trải khăn đỏ ra, rảy lên xương mấy giọt “nước vô căn”, rồi thắp ba nén hương cắm bên quan tài, trầm giọng hô: “Con cháu hiếu thuận, quỳ nghênh long thể nhập quan!”
Tôi và cha không dám chậm trễ, vội quỳ sát bên quan tài, đầu cúi sát đất, chẳng dám ngẩng lên.
Quỳ trên nền đất độ nửa giờ, Thanh Huyền Tử lên tiếng: “Trần Bát Tiên, đứng lên xem thử, có phải thiếu hai khúc xương không?”
Nghe vậy, tôi đứng dậy nhìn vào trong. Những khúc xương trắng được xếp thành hình người, nhưng kỳ lạ thay đôi chân lại có vấn đề, như thiếu thứ gì đó, trông cả hình thể không được trọn vẹn.
“Hình như thiếu mất vài khúc.” tôi ngắm kỹ rồi nói.
“Bần đạo vừa đếm, tổng cộng có 204 khúc, thiếu đúng hai khúc, e là xương mắt cá chân.” Thanh Huyền Tử liếc nhìn tôi, rồi hỏi tiếp: “Ông nội cậu khi sinh thời có bệnh tật chân cẳng gì không?”
“Không có, cha tôi lúc sống thân thể rất khỏe mạnh, chân tay chưa từng có vấn đề gì!” cha tôi vội chen vào.
“Vậy thì chắc chắn là thiếu hai khúc mắt cá chân. Giờ chỉ còn cách mở quan tài tìm. Nếu không tìm ra, e rằng con cháu sau này sẽ gặp họa về chân cẳng.” Thanh Huyền Tử lẩm bẩm.
Lời nói vô tình, nhưng người nghe thì để bụng. Vừa nghe tới chuyện “chân cẳng có vấn đề”, tôi lập tức nghĩ đến mẹ. Không nói thêm nửa lời, tôi ra hiệu cho lão Vương phủ vải đen lên quan tài, rồi bước về phía huyệt mộ.
“Lão Vương, lấy mấy cái cuốc đến, đập nắp quan tài đi!” tôi ra lệnh.
“Đập quan tài e rằng không lành, như vậy có phần bất kính chăng?” lão Vương lưỡng lự hỏi.
“Không sao, long thể đã đưa ra, huyệt mộ này chỉ còn là ngôi mộ trống, chẳng còn tác dụng gì. Hơn nữa đây là để tìm long thể, không có gì kiêng kỵ. Cứ nghe lời Trần Bát Tiên, đập nắp quan tài ra!” Thanh Huyền Tử tiến lại, đứng giữa tôi và lão Vương.
“Được thôi!” lão Vương đáp, rồi quay sang đám Bát Tiên hô lớn: “Anh em, lên đồ, đập quan tài!”
Bảy tám người hùng hổ xông lại, mỗi người một cây cuốc, cùng nhau nện xuống. Chưa đầy một phút, nắp quan tài đã bị phá vụn, từ bên trong lập tức tràn ra mùi tanh nồng nặc.
Tôi cau mày nhìn sang Thanh Huyền Tử, thấy ông cũng đầy kinh ngạc. Ông hỏi: “Trần Bát Tiên, trước đó cậu có ngửi thấy mùi này không?”
Tôi lắc đầu. Đúng là chỗ tôi thấy lạ: lúc ở dưới huyệt, chỉ toàn mùi đất ẩm nồng nặc, nào có mùi hôi thối thế này.
Tôi bước lên một bước, nhìn kỹ: trong quan tài tối sẫm, hơi nước bốc mịt, mơ hồ thấy lớp áo tang chưa mục hết, dòi bọ lúc nhúc bò lổm ngổm, khiến nhiều người Bát Tiên lợm giọng, quay mặt nôn ọe.
Nhìn cảnh ấy, da thịt tôi tê rần, nghĩ đến cảnh mình từng thò tay mò mẫm trong đó mà run rẩy, hỏi Thanh Huyền Tử bằng giọng lạc đi: “Đạo trưởng, rốt cuộc đây là chuyện gì?”
“Lúc ta ở trong huyệt, chắc tâm trạng căng thẳng quá nên bỏ sót mùi hôi. Còn chỗ hắc khí này, ắt là do âm khí tích tụ.” Thanh Huyền Tử cau mày giải thích.
Nói rồi, ông lấy trong túi bát quái một đạo phù, châm lửa, miệng niệm chú, rồi ném vào quan tài. Nhưng kỳ lạ thay, lá bùa vừa rơi vào thì tắt ngấm, chẳng khác gì bị dập trong nước.
Thấy phù chú mất hiệu nghiệm, tôi lo ông bỏ dở, liền sầm mặt nói: “Giờ làm thế nào? Không tìm được hai khúc xương ấy thì mộ phần ông nội không thể dời sang mộ mới!”
Lời này chẳng khác gì khẳng định: nhất định phải tìm cho bằng được. Bởi tôi hiểu, việc dời mộ liên quan trực tiếp đến bệnh tình của mẹ. Bà nằm liệt giường, ban đầu cũng từ chỗ mắt cá chân phát bệnh. Giờ lại thiếu đúng xương mắt cá, lẽ nào chỉ là trùng hợp?
Thanh Huyền Tử nhìn tôi, đáp: “Vừa rồi chúng ta dùng vải đen che trên mộ, giữ nguyên được khí trường, nên mới yên ổn mà vào được. Giờ khí trường bị phá vỡ, âm khí tản ra, phàm là người sống hít phải đều sẽ sinh bệnh. Xuống mộ lúc này là không thể. Chỉ có thể dùng gậy tre dài mà tìm.”
Nghe ra cũng hợp lý, tôi bèn tìm mấy cây tre dài, đưa cho những người gan to, bảo họ dò tìm trong quan tài. Nhưng tìm một hồi lâu chẳng phát hiện thứ gì cứng cả. Giữa ban ngày ban mặt mà cứ như gặp ma, rõ ràng quan tài chưa mục, hai khúc xương ấy tuyệt đối không thể tan biến, vậy rốt cuộc đi đâu?
Cuối cùng, tôi nghiến răng nói với mọi người: “Đừng tìm nữa, để tôi xuống.”
“Không được! Tuyệt đối không được! Âm khí trong quan tài quá nặng, mà cậu lại là cháu ruột, nếu xuống, sau này thân thể chắc chắn sẽ sinh bệnh.” Thanh Huyền Tử vội ngăn lại.
“Cửu Nha Tử, lời Thanh Huyền Tử có lý. Cậu mà xuống, sẽ để lại căn bệnh về sau.” lão Tú Tài cũng khuyên.
Đám Bát Tiên nhao nhao khuyên can, ý chung là không cho tôi xuống mộ.
“Nhưng hai khúc xương ấy liên quan đến bệnh của mẹ, tôi tuyệt đối không thể bỏ qua!” tôi chẳng để ý lời khuyên, vén quần định nhảy xuống.
Lúc ấy, cha tôi tiến đến, đặt tay lên vai tôi, trầm giọng nói: “Cửu nhi, để cha đi. Mẹ con theo cha nửa đời, chưa hưởng được ngày nào yên ổn. Là chồng, cha phải xuống tìm cho bà. Hơn nữa đây lại là mộ phần của ông nội con, cha là con trai, càng có trách nhiệm. Cha già rồi, lỡ mang bệnh thì vẫn còn con gánh vác. Nhưng nếu con bị gì, thì nhà này mất nửa bầu trời.”
“Cha, người đã có tuổi, chỉ hít một hơi âm khí thôi e cũng không chịu nổi. Con còn trẻ, sức đề kháng mạnh hơn, đừng tranh với con. Người hãy ở lại chăm sóc mẹ.” tôi kéo cha lại, rồi ngoảnh sang hô: “Lão Vương, giúp tôi giữ cha lại.”
Lão Vương ngẩn người một thoáng, rồi gượng gạo bước tới, nhìn tôi với cha, chép miệng nói: “Cửu Nha Tử, hai cha con đừng tranh nữa. Hay để tôi xuống thì hơn!”
“Không được, đây là việc nhà tôi.” tôi và cha đồng thanh.
Chuyện này, nhìn qua ai cũng hiểu: hễ xuống dưới, chắc chắn chẳng có kết cục tốt đẹp. Ở điểm này, tính cha tôi giống hệt tôi, không bao giờ chịu để người khác thay mình gánh hiểm nguy.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 15 others
Thấy tk Quàng A Tũn đọc được 2 chap. Ma mị phết. Thì ra là truyện dịch.
up cho thím chờ chap mới, trước bộ âm gian thương nhân em cũng theo dõi đến khi thím ko đăng ở voz nữa
Reactions: Thợ Sơn
:angry: cuốn quá, mong không bị rốp
Chương 91: Dời mộ (phần 18)
Ba người chúng tôi tranh cãi hồi lâu mà chẳng đi đến được thống nhất. Cuối cùng, Thanh Huyền Tử lên tiếng: “Nếu trong ba người phải chọn một người xuống mộ, bần đạo cho rằng Trần Bát Tiên là thích hợp nhất. Thứ nhất, cậu ấy trẻ, sức lực hơn hẳn hai người kia. Thứ hai, cậu ấy là Bát Tiên, vận khí cũng vượng hơn đôi phần.”
Nghe vậy, lão Vương lập tức không phục: “Tôi cũng là Bát Tiên, lại còn theo nghề này lâu hơn hắn. Vận khí so ra phải hơn mới đúng. Để tôi xuống thì hơn, cả bọn Bát Tiên này không thể mất đi Cửu Nha Tử.”
Thanh Huyền Tử khoát tay, giọng thản nhiên: “Lão Vương, ông làm Bát Tiên bao nhiêu năm, có mấy khi làm nên chuyện? Còn Trần Bát Tiên thì khác. Mới vào nghề chẳng bao lâu, mà đã làm được không ít việc lớn. Một là trị được sát bào, việc ấy ngay cả bần đạo cũng chẳng làm nổi. Hai là lần ‘chôn sống’ ở thôn Vương Trang, danh tiếng vang dội khắp thị trấn Đông Hưng. Lúc ta đến Ấu Tử thôn, gặp bao người đều nhắc: thôn này có nhân tài, cứu được mạng người chỉ bằng chiếc quan tài. Nghe mà ta còn thấy hổ thẹn.”
“Tính cả hai việc ấy, vận khí trên người Trần Bát Tiên át hẳn ông. Vậy nên bần đạo vẫn đề nghị để cậu ấy xuống mộ. Nhưng, đó chỉ là ý riêng của ta. Quyết định thế nào, các người tự thương lượng.”
Nói xong, ông chắp tay sau lưng, mắt dán xuống huyệt, không buồn nhìn chúng tôi nữa. Tôi quay sang cha và lão Vương, chắp tay quỳ xuống, nước mắt lưng tròng: “Cha, lão Vương, đừng tranh nữa, để con xuống! Cha mẹ đã nuôi nấng con mười tám năm, làm con chưa báo đáp được gì. Nay may mắn tìm ra căn nguyên bệnh của mẹ, xin cha cho con làm chút việc vì mẹ! Con cầu xin cha!”
Cha nhìn tôi thật lâu, châm một điếu thuốc, hít một hơi sâu, vẫn chẳng nói lời nào. Lão Vương khẽ đẩy vai cha tôi, nói nhỏ: “Lão Trần, Cửu Nha Tử đã có lòng hiếu thảo như vậy, thì để cậu ấy xuống thôi.”
Cha bỗng ném điếu thuốc xuống đất, giọng gắt gỏng: “Hiếu tâm cái gì? Nó có từng nghĩ đến nỗi lòng làm cha của tôi không? Rõ ràng biết trong mộ có vấn đề, mà tôi lại phải mắt trơ trơ nhìn con trai mình nhảy xuống? Nếu nó xảy ra chuyện gì, tôi với mẹ nó còn sống nổi nữa không? Nó thật sự có hiếu, thì phải để tôi xuống!”
Tính cha tôi vốn cứng cỏi, một khi đã quyết thì chẳng cách nào lay chuyển. Tôi biết nói lý chẳng ích gì, đành dùng biện pháp mạnh, quay sang gọi: “Lão Vương, Lão Cao, mau giữ cha tôi lại, kéo ông đi!”
Nghe xong, lão Vương cùng mấy người liền thừa lúc cha tôi sơ ý, giữ chặt hai tay, kéo mạnh về sau. Vài người nữa phụ vào, kẻ giữ tay, kẻ giữ chân, gồng mình khiêng cha tôi ra ngoài. Ông vùng vẫy, mắng như trút giận: “Lão Vương, đồ chột mắt kia! Nếu con trai ta có mệnh hệ gì, đời này ta với ngươi không đội trời chung! Mau thả ta ra, thả ra!”
Cha vừa bị kéo đi, tôi đang định xuống mộ thì phía sau bỗng vang lên tiếng khóc nức nở. Tôi giật mình quay lại, mẹ đang ngồi ôm mặt rấm rứt, Kiều Y Tư bên cạnh khẽ dỗ dành.
Tim tôi thắt lại. Sao có thể quên mất mẹ chứ. Tôi khe khẽ gọi: “Mẹ…”
Mẹ chẳng nói gì, chỉ khóc. Tôi cố gắng mỉm cười: “Mẹ đừng lo, con sẽ không sao đâu. Con còn muốn được hiếu thuận với cha mẹ nhiều nữa mà!”
Nghe vậy, mẹ ngẩng lên, ánh mắt loang loáng, giọng khàn khàn mà kiên quyết: “Cửu nhi, con mà dám xuống mộ, mẹ sẽ lăn ngay xuống sườn núi này!”
Từ nhỏ đến lớn, ấn tượng của tôi về mẹ là người ít lời, tình thương dành cho tôi luôn lặng thầm. Có lần hồi tiểu học, tôi đánh nhau với bạn cùng lớp. Trận ấy hòa, chẳng ai thắng thua. Không ngờ bạn ấy kéo mẹ tới, một mụ đàn bà chanh chua dữ tợn. Trên đường tan học, bà ta chặn tôi lại, không nói không rằng, tát tôi mấy cái nảy lửa.
Về nhà, tôi kể với mẹ. Bà chỉ bảo tôi nghỉ ngơi, rồi lặng lẽ đi ra ngoài. Hơn một giờ sau trở về, tóc tai rối bời, người đầy vết bầm. Tôi gặng hỏi, bà không nói.
Hôm sau tới lớp, bạn kia cùng mẹ lại tìm tôi. Nhưng vừa nhìn thấy người mẹ ấy, tôi chết sững: hai mắt bà ta sưng như mắt trâu, mặt tím bầm loang lổ, tay còn bó bột. Bà vừa khóc vừa xin lỗi tôi, hứa sẽ không dám động đến tôi nữa.
Về nhà, nghe lỏm cha mẹ nói chuyện, tôi mới biết: mẹ đã đi tìm bà ta, đánh cho một trận nên thân để trả thù cho tôi, cũng vì thế mà chính mình lãnh không ít thương tích.
Nhà tôi nghèo, không mua nổi đồ chơi đẹp, không có cặp sách mới, chẳng may được áo quần tươm tất. Nhưng trong ngôi nhà nhỏ bé ấy, tôi luôn cảm nhận được hơi ấm gia đình. Khác hẳn những nhà giàu có mà lạnh lẽo tình cảm.
Tôi yêu mái nhà này, yêu cha mẹ mình hơn cả mạng sống. Tôi không bao giờ muốn họ phải chịu thêm tổn thương nào. Mẹ nói thế, tôi hiểu bà rất nghiêm túc. Nếu tôi dám bước xuống mộ, bà sẽ thực sự gieo mình từ triền núi.
Tôi chết lặng, không dám nhúc nhích. Giọng mẹ, yếu ớt mà rành rọt: “Căn bệnh này, mẹ rõ hơn ai hết. Có chữa được hay không, mẹ cũng rõ. Nhìn hai cha con vì mẹ mà lao tâm khổ tứ, đêm nào chờ cha con ngủ, mẹ mới dám khóc. Bao lần mẹ từng muốn chết đi để khỏi liên lụy các con… nhưng mẹ lại không cam lòng. Mẹ còn muốn thấy con cưới vợ sinh con, thành gia lập nghiệp. Mẹ muốn nhìn thấy con trai mình có tương lai, và hơn hết, muốn thấy con trưởng thành khỏe mạnh… Mẹ còn muốn…”
Nói đến đây, mẹ òa khóc nức nở, chẳng thành tiếng. Có lẽ đây là lần đầu tiên từ khi ngã bệnh, bà thổ lộ hết lòng mình. Trong tôi trào dâng nỗi hối hận khôn nguôi. Bấy lâu nay chỉ lo kiếm tiền mua thuốc, mà quên mất tâm tư của mẹ.
Tôi nhẹ bước đến, ôm chặt lấy bà. Nước mắt không kìm nổi, nóng hổi, mằn mặn, tuôn dài trên má. Tôi nghẹn ngào: “Mẹ, xin mẹ đừng nghĩ quẩn. Ngày con thành gia lập nghiệp, con còn cần mẹ đứng ra chủ trì mọi việc. Xin mẹ đừng có ý nghĩ dại dột…”
Nói đến đây, tôi bật khóc. Khóc như một đứa trẻ mới lên vài tuổi, khóc đến nức nở.
Từ ngày bước chân vào nghề phu quan tài, tôi chưa từng có một đêm yên ổn. Khi gánh quan tài, sợ vô tình mạo phạm người chết hay chủ tang. Khi chủ trì tang sự, lại lo lỡ lễ tiết, để người sống trúng sát. Lần ở thôn Vương Trang, tôi sợ không cứu nổi Vương Khiết, làm tổn thương lòng người nhà.
Giờ phút ôm mẹ trong tay, lòng tôi bỗng lặng như nước. Nỗi khóc không chỉ vì lời dọa tự tử của mẹ, mà còn vì nỗi cay đắng, bất lực của một kẻ gánh nghề phu quan tài. Người đời chỉ thấy vẻ ngoài, mấy ai hiểu được những nhọc nhằn sau lưng. Trước cảnh ngộ này, ngoài khóc, tôi chẳng biết phải làm gì hơn.
Chương 92: Dời mộ (phần 19)
Không khí bỗng lặng hẳn đi. Không ai nói một lời, tất cả chỉ im lặng nhìn tôi và mẹ. Ngay cả Kiều Y Tư cũng hiếm hoi tháo tai nghe, ngồi một bên lặng lẽ quan sát.
Mẹ vỗ nhẹ lưng tôi, khẽ bảo: “Cửu nhi, con mười tám tuổi rồi, đã là người lớn. Khóc thế này không sợ thiên hạ chê cười à?”
Tôi vội lau nước mắt, ngẩng lên nhìn quanh. Mọi người đều chăm chăm nhìn tôi, ánh mắt có chút khác lạ. Tôi cười gượng, định mở miệng mà chẳng biết nói gì.
Mẹ mỉm cười, giọng dịu dàng: “Cửu nhi, thôi thì cứ dời mộ ông nội con đi. Người sẽ không trách con đâu. Con chưa ra đời, ông đã luôn miệng nhắc đến cháu trai. Lúc lâm chung, ông còn thở than, nuối tiếc nhất đời này là không kịp gặp cháu đích tôn.”
Tôi sững lại, lắp bắp: “Vậy… bệnh của mẹ thì sao?”
Mẹ đưa tay vỗ nhẹ lên má tôi, chậm rãi nói: “Nằm trên giường quen rồi. Chỉ cần hai cha con con không chê mẹ là gánh nặng, thì mẹ sẽ nằm đó, nhìn Cửu Nha Tử của nhà ta dựng vợ gả chồng, chờ ngày bế cháu.”
Nói xong, bà lại xoa đầu tôi.
Nghe thế, tim tôi nhói buốt. Nước mắt một lần nữa không kìm nổi mà tuôn rơi. Trên đời này, có mấy ai nhìn thấy hy vọng chữa bệnh mà tình nguyện buông bỏ? Gần như không có. Nếu có, thì người ấy nhất định là mẹ. Vì tình mẹ bao giờ cũng là sự hi sinh vô điều kiện, không màng đến bản thân.
Tôi còn đang chìm trong vòng tay mẹ, sau lưng chợt vang lên giọng hốt hoảng của Quách Béo: “Cửu ca! Không xong rồi, lão Tú Tài định xuống mộ kìa!”
Tôi giật nảy, quay phắt lại, thấy lão Tú Tài đang men theo mép huyệt mà trượt xuống.
“Lão Tú Tài, đừng xuống đó!” Tôi hét lớn, dặn Kiều Y Tư chăm sóc mẹ rồi vội vàng lao về phía mộ.
Vừa tới nơi, ông đã đứng dưới huyệt, sắc mặt hơi tái xanh, có lẽ vì mùi hôi thối quá nồng. Ông ho khan một tiếng, ngẩng lên nhìn tôi, khẽ nói: “Cửu Nha Tử, đừng ngăn. Nếu lão phu chết, hãy lo tang sự cho ta. Nếu có thể, hãy chôn theo bàn huyền không. Lão phu cả đời làm địa tiên, ăn cơm hẩm, mặc áo vá. Hy vọng sau khi chết còn được mang theo một món bảo vật, coi như không uổng kiếp này.”
Dứt lời, mặc kệ tôi kêu gào, ông đã nhấc chân bước vào trong quan tài.
Tôi quýnh lên, gào gọi liên tiếp, ông chẳng buồn ngoái lại. Đang định nhảy xuống theo, Quách Béo đã giữ chặt lấy tôi, quát: “Cửu ca, lão Tú Tài xuống rồi! Anh mà xuống nữa, chỉ thêm một người mang bệnh!”
Tôi nổi đoá, tung một cú đấm thẳng vào mặt nó, gầm lên: “Buông ra! Mẹ kiếp, buông tao ra! Lão Tú Tài từng bói, nói lần dời mộ này sẽ có đại họa! Mày buông tao ra, nếu không ông ấy sẽ chết mất, thật sự sẽ chết mất đó!”
“Cửu ca, tỉnh lại đi! Ông ấy đã xuống rồi, anh có xuống cũng chẳng cứu được gì đâu!” Quách Béo ôm chặt, mặc tôi đấm liên tiếp bảy tám phát, vẫn không nhả tay.
Đánh đến mệt, chân tôi mềm nhũn, ngồi phịch xuống đất, đôi mắt đỏ hoe dán chặt vào bóng dáng lão Tú Tài, miệng lẩm nhẩm cầu khấn đừng có chuyện gì.
Chỉ thấy ông lom khom, tay cầm một que gỗ to bằng ngón tay cái, khều khều lục lọi trong quan tài. Thỉnh thoảng lại ho khan dữ dội. Tìm một lúc lâu, ông nhíu chặt mày, ngẩng lên nhìn tôi.
Vừa thấy mặt ông, tim tôi thót lại. Mặt ông loang lổ từng mảng xanh bầm to bằng ngón tay cái, trông quái dị khôn tả.
“Lão Tú Tài! Lên mau! Sắc mặt ông thay đổi rồi, ở thêm nữa là mất mạng thật đó!” Tôi hét như gào.
Ông chỉ cười nhạt, chẳng đáp, tiếp tục cúi người, dùng que gỗ khều lên một mảnh vụn. Đưa lên nhìn, toàn giòi bọ trắng xoá, rồi ném bỏ, lại kiên nhẫn tìm tiếp.
Tôi không chịu nổi nữa, hất Quách Béo ra, lao thẳng tới chỗ Thanh Huyền Tử. Không nói không rằng, giáng ngay một cú đấm vào mặt ông ta, quát lớn: “Mẹ kiếp, ông nhìn sư phụ mình nhảy xuống mộ, mà không cản? Đây là chuyện của nhà tôi, cần gì một người ngoài phải lấy mạng bồi? Nếu phải chết, thì cũng là tôi chết!”
Tôi đánh ông ta, bởi trong thâm tâm, tôi thấy việc lão Tú Tài xuống mộ có phần trách nhiệm của ông. Tất cả mọi người đều đứng cách xa, chỉ có Thanh Huyền Tử ở ngay cạnh miệng huyệt. Nếu ông chịu ra tay ngăn, đã chẳng xảy ra cảnh này.
Thanh Huyền Tử không né, để mặc cú đấm nện thẳng. Ông lảo đảo một chút, rồi khàn giọng: “Bữa cơm trước, ân sư đã dặn bần đạo: lần dời mộ này tất có đại họa. Ông không muốn thấy ai trong các người gặp nạn, nên đã bàn với ta, lấy mạng mình để chặn kiếp này, mong cho cậu có một mái nhà yên ổn. Trong lòng ân sư, cậu đã là hậu nhân rồi.”
Nghe xong, tôi sững người. Hóa ra lão Tú Tài tham dự vụ này, là để thay tôi gánh họa. Nước mắt lần nữa trào ra, hôm nay tôi khóc quá nhiều. Bình thường, dẫu chuyện lớn đến đâu, cũng chẳng rơi lấy một giọt, vậy mà nay lại khóc hết lần này đến lần khác.
Thanh Huyền Tử xoa gò má, mắt căng thẳng nhìn chằm chằm xuống mộ, thân hình khẽ run, đủ biết ông cũng lo lắng cho sư phụ.
Tôi men theo ánh mắt ông nhìn xuống, chỉ thấy lão Tú Tài đã chui ra khỏi quan tài, đang lom khom lần mò trong huyệt. Bóng dáng một cụ già gần trăm tuổi, đơn độc mò mẫm giữa hơi lạnh tử khí, khiến lòng tôi thắt lại.
“Ta tìm được rồi! Tìm được rồi!” Ông bỗng reo lên, giơ cao hai khúc xương cổ chân, cười vang, “Lão phu cuối cùng cũng tìm thấy các ngươi!”
Nhưng tôi không thể vui mừng. Trái lại, tim như rơi xuống đáy vực. Bởi gương mặt ông lúc này đã chẳng còn là mặt người nữa: chi chít vết loang xanh thẫm, nếp nhăn chằng chịt, như thể ác quỷ bò ra từ địa ngục. Đáng sợ nhất là trên mặt ông, bảy tám con giòi bò ngoằn ngoèo, mà ông hoàn toàn không hay biết.
Tôi vừa chạy về phía ông, vừa hét to: “Mau! Lại đây giúp một tay, kéo lão Tú Tài lên!”
Chúng tôi mỗi người nắm một cánh tay, ra sức kéo ông lên. Thân già xương giòn, vừa kéo đã nghe tiếng rắc, khớp trật ra.
Ông kêu đau, càu nhàu: “Đồ chết bằm! Nhẹ thôi, xương cốt già này chịu sao nổi các ngươi lôi thế chứ!”
Tôi trừng mắt nhìn Quách Béo. Tật ẩu đoảng quen rồi, nhưng cũng vì sốt ruột muốn cứu ông mà thành ra vậy.
Sau một hồi chật vật, cuối cùng cũng kéo được lão Tú Tài lên. Ông ngã vật ra đất, thở dốc từng hơi, miệng vẫn lầu bầu chửi: “Cái thứ âm khí khốn kiếp, nặng đến mức lão phu dưới đó không dám thở mạnh một cái!”

Chương 93: Dời mộ (phần 20)
Nhìn lão Tú Tài nằm bẹp dưới đất, lòng tôi chua xót vô cùng. Tôi vội đỡ ông ngồi dậy, hỏi dồn: “Lão nhân gia, cơ thể thấy thế nào rồi?”
Ông phẩy tay, hít một hơi thật sâu, đáp: “Không sao cả, chỉ là mặt căng cứng thôi!”
Nói xong, ông đưa hai khúc xương cổ chân cho tôi, dặn: “Mau gói lại, để ánh nắng chiếu vào sẽ làm ông nội cậu bị thương.”
Dứt lời, bàn tay ông rũ xuống bất lực. Tôi giật bắn, tưởng ông tắt thở, vội đưa tay dò mũi, còn hơi thở.
Tôi nhận lấy xương, quay lại hô to: “Mau! Đưa lão Tú Tài đến bệnh viện!”
Đúng lúc ấy, cha tôi sầm mặt đi tới, không nói không rằng, tát bốp một cái đau điếng vào mặt tôi, mắng: “Cửu Nha Tử, mày coi mày gây ra cái họa gì đây? Bảo tao xuống, mày nhất quyết không cho. Giờ lão Tú Tài có mệnh hệ nào, coi về nhà tao không đánh chết mày!”
Nói xong, cha cùng lão Vương khiêng lão Tú Tài đi. Trên mộ còn lại tôi, Quách Béo, Thanh Huyền Tử, mẹ và Kiều Y Tư.
Tôi đưa tay xoa má, trong lòng ngổn ngang trăm mối, đầu óc rối loạn. Thanh Huyền Tử vỗ vai tôi, kéo tôi về thực tại, nói: “Đưa xương cổ chân cho ta.”
Tôi trao xương, liếc nhìn chỗ lão Tú Tài chui lên. Bên trong thành huyệt có một lỗ nhỏ to bằng nắm tay, trong đó đọng một vũng nước. Hẳn hai khúc xương ấy bị ngâm ở đó.
“Trần Bát Tiên, lại xem này. Trên xương có vết răng rất nhỏ.” Thanh Huyền Tử gọi.
Tôi cúi nhìn, quả nhiên trên xương chi chít vết cắn li ti, hình dạng giống răng chuột. Tôi hỏi: “Chẳng lẽ chuột tha xương vào cái hang nhỏ đó?”
Ông gật đầu: “Chắc vậy. Nếu không, ông nội cậu cũng không liên tiếp báo mộng.”
Nghĩ kỹ cũng đúng. Tổ tiên ở dưới âm phủ nếu sống không yên ổn, thường sẽ báo mộng cho con cháu. Ông nội liên tục báo mộng, hẳn vì trong mộ không thể yên nghỉ, thêm vào đó hai khúc xương bị chuột tha mất, nên ông mới nôn nóng đòi dời mộ.
Chúng tôi tất bật một lúc. Thanh Huyền Tử rắc ít “nước vô căn” lên xương cổ chân, mở tấm vải đen, đặt lại vào đúng vị trí. Cả bộ hài cốt hoàn chỉnh hiện ra trước mắt.
Sau đó, ông ngồi ngay bên quan tài, đọc kinh, làm vài pháp sự. Rồi đóng nắp quan, đóng đinh chặt, lại đóng hai mảnh vải đỏ vào đầu và đuôi quan tài.
Tôi hỏi tại sao phải đóng vải đỏ. Ông giải thích: “Dời mộ không hoàn toàn là tang sự, cũng có thể coi là hỷ sự. Dán vải đỏ một là để lấy chút may mắn, hai là vì âm khí trong việc dời mộ quá nặng, dễ dẫn cô hồn dã quỷ đến gần. Có vải đỏ trấn áp, chúng sẽ không dám lại gần.”
Sau khi quan tài mới đã hoàn tất, cha cùng lão Vương quay lại. Sắc mặt cả hai rất khó coi. Tôi hỏi dồn: “Lão Tú Tài thế nào rồi?”
Lão Vương liếc tôi, thở dài: “Ông không chịu đến bệnh viện, sợ chết ở đó thì không được nhập đường chính. Bọn tôi đành gọi một thầy thuốc quê đến truyền nước biển. Nhìn tình hình… chắc không sống được bao lâu nữa.”
Nghe xong, hai chân tôi bủn rủn, quỳ sụp xuống đất, không thốt nổi lời nào, lòng chỉ dằn vặt tự trách. Lẽ ra tôi không nên chần chừ, phải nhảy xuống ngay từ đầu, thì đã chẳng ai gặp nạn.
“Cửu Nha Tử, đừng tự trách. Lão Tú Tài nói đó là kiếp nạn của ông, dương thọ đã tận, không liên quan gì đến con.” Lão Vương kéo tôi lên, an ủi.
Nghe thì đúng, nhưng rõ ràng việc này khởi nguồn từ chuyện nhà tôi dời mộ. Không chỉ tôi, mà mọi người đều ủ rũ, bầu không khí trĩu nặng.
Nhưng việc dời mộ vẫn phải tiếp tục. Bất đắc dĩ, tôi gượng cười, đưa phong bì đỏ cho Thanh Huyền Tử, rồi phát cho mọi người, kèm thêm điếu thuốc.
Chừng ba phút sau, Thanh Huyền Tử tìm củ cải, chín đồng tiền, bỏ xuống huyệt, lấp một lớp đất lên. Rồi ông đổ xăng lên quan tài, châm lửa đốt. Đợi cháy xong, đám Bát Tiên lấp đất, san phẳng. Thanh Huyền Tử đứng trên mộ đọc kinh, còn tôi cùng cha quỳ bên cạnh.
Xong xuôi, tôi phát mỗi người một phong bì đỏ. Đây là phong bì quan trọng nhất trong nghi lễ lấp mộ cũ, tôi bỏ vào 24 đồng, coi như tận hiếu. Những phong bì khác chỉ 12 đồng.
Chúng tôi nghỉ một lát, đợi lấy lại sức. Rồi Thanh Huyền Tử bảo Lang Cao đốt pháo, chuẩn bị khởi giá. Ông đi đầu, tay cầm gậy khóc tang, tay cầm linh chuông trừ tà, miệng lẩm bẩm chú ngữ.
Bát Tiên đứng đúng vị trí, hai người một vai, từ từ nhấc quan tài, chậm rãi bước đi. Tôi và cha theo sát bên, Kiều Y Tư cõng mẹ đi sau. Mỗi đoạn đường, cha con tôi phải vội vàng vượt lên trước, quỳ xuống đất, không được ngẩng đầu, chờ quan tài đi qua mới được đứng lên.
Vốn dĩ mẹ tôi cũng muốn quỳ lạy đón quan tài ông nội, nói rằng ông lúc sinh thời đối xử với bà không tệ, lễ nghĩa không thể sơ sót. Nhưng vì chân bà yếu, tôi bàn với Kiều Y Tư nhờ cô thay thế. Cô ngượng đỏ mặt, bảo như vậy không ổn. Nghĩ một hồi, chẳng hiểu sao lại gật đầu. Chỉ vì phải cõng mẹ, cô không quỳ được, chỉ cúi lưng thay lễ.
Mộ mới của ông nội nằm trong nghĩa địa làng, không xa lắm. Qua dốc nhỏ, vượt vài thửa ruộng là tới. Suốt quãng đường, tám người khiêng quan tài rất vững, không xảy ra sự cố nào. Ngay cả Lang Cao đốt pháo bên cạnh cũng xuýt xoa:
“Ê, lần này thuận quá, quan tài không lung lay một cái nào luôn!”
Khi khiêng tới nghĩa địa, trời đã nhá nhem tối. Đầu gối cha con tôi tê dại, trán rớm máu. Nhưng làm con cháu thì phải vậy, lễ nghi phải khiến người khuất lòng yên.
Cha con tôi thay nhau phát phong bì, đưa thuốc cho các Bát Tiên. Theo lý, khoản này không bắt buộc, vì công khiêng quan tài vốn đã có tiền công. Nhưng đây là táng lần hai, ít nhiều mang điều chẳng lành, nên tôi vẫn đưa.
Phong bì đỏ thường ngày chỉ mang tính tượng trưng, nhưng trong lễ táng lần hai, lại là thứ xua rủi, lấy hên. Nói trắng ra, là để các Bát Tiên “dính chút hỷ khí, bỏ bớt âm khí”.
Đã phát phong bì, bất kể nhiều ít, cũng là tấm lòng chủ nhà. Thường thì Bát Tiên sẽ vui vẻ nhận, nhưng cũng có người nếu thấy tiền ít sẽ làm ầm lên. Chuyện ấy khó mà nói, bởi “rồng sinh chín con, mỗi đứa mỗi tính”.
Nhưng những người theo tôi, tuy nhà nghèo, song vốn không tham lam. Chủ nhà cho bao nhiêu cũng nhận, không khó dễ. Có lẽ chính vì thế, thu nhập của bọn tôi chẳng bao giờ bằng nhóm Bát Tiên của Lưu Khải.

Chương 94: Dời mộ (phần 21)
Đám Bát Tiên nhận phong bì liền chắp tay cảm tạ, miệng nói một tràng lời cát tường. Sau đó, họ ngồi ngay đầu ruộng rít thuốc, chờ Thanh Huyền Tử làm xong đạo sự rồi mới hạ táng.
Là con cháu, chúng tôi chẳng rảnh rang được như họ. Trước khi hạ táng còn vô số việc phải lo. Tôi sắp xếp để mẹ ngồi cạnh quan tài, rồi cùng cha bước tới bên Thanh Huyền Tử, hỏi ông dự định tiếp theo sẽ làm thế nào.
Ông trầm ngâm một lúc, không trả lời ngay, mà đưa tay chỉ xuống huyệt mộ, nói: “Đất chỗ này phong thủy rất tốt. Đào ra toàn đất vàng, hầu như chẳng có viên sỏi nào. Có lẽ trong cả làng, đây là mảnh đất mộ tốt nhất. Đủ thấy ân sư đối với cậu không tệ đâu, ông ấy mà không nhường, đã để dành chỗ này cho mình rồi.”
Nói xong, Thanh Huyền Tử nhìn tôi từ trên xuống dưới, tiếp lời: “Trần Bát Tiên, ông nội cậu an táng ở đây, sau này với cậu ắt sẽ có lợi lộc lớn. Ân sư chọn mảnh đất này chắc đã tốn không ít tâm tư. Hy vọng cậu đừng phụ lòng ông.”
Tôi sững lại, lời này là có ý gì? Nghĩ một lát, tôi đoán ông đang ám chỉ chuyện cái Huyền Không Bàn. Ông e rằng tôi không nỡ bỏ vào quan tài cho lão Tú Tài làm vật bồi táng.
Tôi chắp tay, đáp: “Đạo trưởng lo xa rồi. Tuy tôi chỉ là một phu khiêng quan tài nhỏ bé, nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ thất hứa. Đã nhận lời lão Tú Tài, tất nhiên tôi sẽ làm trọn. Đừng nói là Huyền Không Bàn, cho dù là cả nghìn vạn vàng để ông bồi táng, tôi, Trần Cửu cũng chẳng nhíu mày.”
Đây là lời tận đáy lòng. Con người tôi vốn vậy: đã hứa, ắt giữ chữ tín. Trong nghề khiêng quan tài, không có tín nghĩa thì ai dám mời?
Thanh Huyền Tử ôm quyền, cười áy náy, không nói thêm. Ông rắc ngũ cốc xuống huyệt mộ, làm vài thủ pháp. Sau đó, ông ngẩn ra một chút, rồi từ túi bát quái lấy ra mười tám tờ giấy vàng, to và vàng hơn loại thường, tỏa mùi hương âm khí mơ hồ, nhìn đã biết không rẻ.
Rồi ông lấy ra một đồng tiền cổ, lỗ vuông, khắc chữ “Càn Long Thông Bảo”, bề mặt nhẵn bóng, ánh hoàng hôn chiếu vào còn phản sáng. Lại lấy thêm một sợi chỉ đỏ to bằng ngón út, trông như nhiều sợi nhỏ quấn vào, nhưng nhìn kỹ lại thành một sợi liền lạc, không thấy dấu vết xoắn nối.
Ông buộc chỉ đỏ vào đồng tiền, rồi đốt một đạo phù, hơ trên đồng tiền, miệng lẩm nhẩm chú ngữ. Lạ là chỉ đỏ chẳng hề bén lửa, bị hơ mà không sém một vệt đen. Càng lạ hơn, đọc xong chú, trán ông lấm tấm mồ hôi. Niệm vài câu mà đổ mồ hôi thì không bình thường chút nào.
Xong, ông dùng ngón tay xuyên thủng cả mười tám tờ giấy vàng, xỏ sợi chỉ đỏ qua giữa. Lại lấy thêm một đồng tiền giống hệt, luồn vào, buộc nút sống, kéo chặt. Thế là hai đồng tiền kẹp khít mười tám tờ giấy, chẳng hở chút nào.
Tôi hơi bất an. Ở nông thôn, mộ phần thường kiêng kỵ bỏ đồ đồng, chủ yếu chỉ để đồ sứ. Thế mà Thanh Huyền Tử lại cho thứ này xuống mộ ông nội, chẳng lẽ muốn hại nhà tôi?
Tôi hơi gằn giọng: “Đạo trưởng, việc hạ táng tôi cũng biết chút ít. Đặt đồng tiền vào mộ ông nội tôi e không ổn đâu?”
Ông cười nhạt: “Chỉ để đồng tiền thì dĩ nhiên không được. Nhưng đây không chỉ có đồng tiền, còn có giấy vàng và chỉ đỏ. Giấy vàng tượng trưng sự nghiệp, chỉ đỏ tượng trưng hôn nhân, đồng tiền là khóa. Ta dùng tiền đồng khóa sự nghiệp và hôn nhân lại, để khí trường mộ phần dễ truyền vào quan tài. Quan tài lại đè lên giấy vàng, như thế đảm bảo con cháu cụ Trần sẽ vững về sự nghiệp lẫn hôn nhân.”
Nghe xong, tôi kinh ngạc không nói nên lời. Trong sách “Táng Kinh” có câu: “Người được hình thể từ cha mẹ, hài cốt tụ khí, thân xác còn thì con cháu hưởng phúc. Cha mẹ và con cháu vốn cùng một khí, cảm ứng lẫn nhau, hưởng phúc như quỷ, đất tùy người mà khác, người tùy đất mà đổi.”
Nếu quả như ông nói, vật kia quả thật trọng yếu. Nó có thể cố định phong thủy huyệt mộ ngay lúc hạ táng, khỏi lo xương cốt hóa hay biến động địa mạch khiến mộ khí thay đổi, ảnh hưởng đến hậu nhân.
Nhưng vấn đề là: bình thường đạo sĩ chủ lễ sẽ không bao giờ làm thế. Bởi “có được tất có mất”, việc khóa phong thủy lâu dài trái với quy luật tự nhiên, đạo sĩ tất phải trả giá.
Tôi nghi hoặc nhìn ông, hỏi: “Đạo trưởng, quan hệ nhà tôi với ông đâu đến mức ấy?”
Ông cười gượng: “Đây là ân sư căn dặn. Lời ta nói vừa rồi cũng là ý ông muốn thử cậu. Nếu cậu đồng ý bỏ Huyền Không Bàn cho ông bồi táng, ân sư sẽ nhờ ta đặt vật gọi là ‘La Tỏa’ xuống huyệt. Còn nếu cậu từ chối, ta sẽ làm theo cách thường, đất này vẫn tốt nhưng chỉ vài chục năm sau sẽ thành mộ bình thường thôi. Cũng coi như báo đáp cậu đã lo tang sự cho ông.”
Ông thở dài, tiếp: “Ta theo ân sư mới nửa năm, nhiều suy nghĩ của ông ta thật khó lường. Nhưng đã là sư đồ, một ngày làm thầy cả đời như cha, ta sao dám trái lệnh.”
Tôi hỏi: “Vậy ông phải trả giá gì?”
“Bớt đi năm năm dương thọ!” Thanh Huyền Tử nói nhẹ tênh, như chẳng hề để tâm.
Tôi còn chưa kịp đáp, cha đã kéo tôi quỳ xuống, nói: “Cửu Nha Tử, còn không mau tạ ơn đạo trưởng.”
“Các vị làm gì vậy, mau đứng lên! Nếu muốn tạ, thì hãy tạ ơn ân sư. Ta chỉ làm theo di nguyện, không đáng để các người quỳ.” Thanh Huyền Tử vội đỡ chúng tôi dậy, ngẩng nhìn trời: “Trời sắp tối rồi, chuẩn bị hạ táng đi.”
Chúng tôi cũng chẳng nói lời cảm ơn nữa, bởi lời nói thì nhẹ, ân tình này tôi đã ghi trong lòng. Dù phong thủy mộ phần được đồn đại ghê gớm, tôi vẫn tin một câu: ba phần tại trời, bảy phần do mình. Nếu bản thân không nỗ lực, tổ tiên có che chở cũng vô ích.
Thanh Huyền Tử liền ném “La Tỏa” xuống giữa huyệt, miệng niệm chú, chân trái dậm mạnh xuống đất. Kỳ lạ thay, chỉ một cái dậm, bầu không khí cả nghĩa địa bỗng khác hẳn. Núi vẫn là núi, nước vẫn là nước, người vẫn nguyên, chẳng thêm chẳng bớt. Nhưng cảm giác lại thay đổi, một điều rất huyền diệu, chẳng thể giải thích bằng vài câu.
Chương 95: Dời mộ (phần 22)
Thanh Huyền Tử lo xong “La Tỏa”, tôi đưa ông một phong bì, bên trong có ba ngàn tệ. Ông nhận, bóp thử, rồi lại trả lại, nói:“Trần Bát Tiên, chúng ta cũng coi như nửa đồng nghiệp, đều hiểu lễ nghĩa cả. Nếu cậu thấy bần đạo còn dùng được thì xin nhận lại phong bì này.”
Tôi cười gượng: “Là tôi nông cạn rồi!”
Nói rồi tôi thu phong bì lại, móc trong túi ra một phong bì khác, trong đó có hai mươi bốn tệ. Lần này ông không từ chối, vui vẻ nhận lấy, còn chúc vài câu cát tường.
Có người chắc sẽ hỏi: “Trong túi đâu mà lắm phong bì thế?” Thật ra, làm việc này đúng là phải chuẩn bị sẵn. Hễ ai đến giúp đều phải có phong bì, nên thường ai cũng nhét đầy người. Nhà giàu hơn thì hẳn hoi mang cả túi xách, bên trong chẳng đựng gì khác ngoài phong bì. Cưới hỏi cũng vậy, chủ nhà cũng mang túi, nhưng túi ấy để đựng phong bì của người khác.
Tiếp theo là hạ táng. Tôi và cha vẫn quỳ bên huyệt, Kiều Y Tư cõng mẹ đứng phía sau, Lang Cao bên cạnh châm một tràng pháo. Thông thường, đám hạ táng phải thật náo nhiệt, có pháo hoa, có đủ trò. Nhưng nhà tôi nghèo, chẳng kham nổi mấy thứ đốt là tiền ấy, nổ vài chục tiếng đã mất mấy chục tệ, đắt quá.
Tiếng pháo đầu tiên vừa vang, Bát Tiên liền khiêng quan tài, chậm rãi đưa tới huyệt. Thanh Huyền Tử đứng bên, đọc lời chú:
“Đất báu này chẳng tầm thường,
Khương Tử Nha gọi đất Long Môn,
Gia Cát Lượng gọi Ngọa Long Than,
Viên Thiên Cang gọi Huyệt Tụ Tài,
Lý Thuần Phong gọi suối Phúc Thọ.
Đất báu này càng phi phàm,
Long Môn, Ngọa Long, Tụ Tài, Phúc Thọ,
Ắt có chân long ẩn trong đó.
Cụ Trần nhập vào đầu rồng,
Đời đời con cháu làm vương hầu.
Nhập ở lưng rồng, đời đời hiển hách.
Nhập ở đuôi rồng, đời đời ngồi ngai.
Nhập ở chân rồng, tổ tiên làm quan thanh liêm như nước.
Nhập sai chỗ, văn võ song toàn.
Tiền nhân hiển quý, hậu nhân đỗ trạng nguyên.
Đại cát đại lợi, đại phát tài,
Đời đời mãi mãi được an khang.”
Bài chú ấy, Thanh Huyền Tử đọc cực kỳ chậm, phải khớp nhịp với Bát Tiên hạ quan tài. Khi quan tài đặt xuống huyệt, câu cuối vừa vặn đọc hết, không được sớm một giây, không được chậm một giây. Lệch nhịp sẽ sinh chuyện chẳng lành. May mắn thay, Bát Tiên và Thanh Huyền Tử phối hợp rất ăn ý, không hề xảy ra sai sót.
Sau khi quan tài đặt vào huyệt, tôi và cha mỗi người bốc một nắm đất ném xuống, rồi lấp đất, đắp mộ, đặt đá tế. Nhà tôi chẳng còn lương thực thừa, nên việc dựng bia chỉ đành để sau. Kế đó, tôi và cha dọn sạch cỏ quanh mộ, cắm ba nén hương, đốt ít giấy vàng cho ông. Các mộ xung quanh cũng đều cắm ba nén hương, miệng khấn nhờ bà con cùng làng chiếu cố tổ tiên nhà tôi.
Mọi việc xong xuôi, trời đã hơn tám giờ tối. Lang Cao lại đốt một tràng pháo nữa, coi như khép lại việc dời mộ. Hoàn tất, chúng tôi vội vã thu dọn rồi quay về làng.
Tôi định mời Thanh Huyền Tử ở lại ăn cơm tối, tiện thể thanh toán tiền công. Nhưng ông bảo còn bận việc, tôi cũng không ép, trên đường về liền thanh toán xong. Trước khi đi, ông nhắc tôi sang xuân năm sau cùng ông lên Khúc Dương, tôi đã đáp ứng.
Về đến nhà, cha đi hâm cơm mời Bát Tiên bữa cơm cảm tạ. Tôi và Quách Béo chạy thẳng tới nhà lão Vương. Vừa vào đã thấy lão Tú Tài ngồi bên mép giường, sắc diện uể oải, gương mặt vẫn kinh hãi như trước.
Thấy chúng tôi, ông gượng cười, ra hiệu tôi ngồi xuống bên giường, chậm rãi nói: “Cửu Nha Tử, có phải cậu thấy việc dời mộ của ông nội cậu sau cùng rất thuận lợi?”
Tôi gật đầu, lòng đầy nghi hoặc. Vốn tưởng việc này thế nào cũng nhiều chuyện kỳ dị, ai ngờ lại trôi chảy đến thế. Tôi liền hỏi: “Sao lại vậy?”
Ông ho khan mấy tiếng, một tay vịn khung giường, một tay đặt lên vai tôi, đáp: “Vừa rồi truyền dịch xong, lão phu lại gieo quẻ một lần nữa cho việc dời mộ nhà cậu. Kết quả rất thuận lợi. Nếu đoán không lầm, có ba nguyên nhân. Một là cậu có vận lớn che thân. Hai là lão phu lấy mạng mình hóa giải kiếp nạn lúc cất quan. Ba là… có lẽ liên quan đến đám tang ở thôn Lý lần trước.”
Nói thật, trong tiềm thức tôi luôn sợ nhắc tới tang sự ở thôn Lý, nhưng đã bị đề cập, tôi lập tức hỏi ngay: “Có phải… cái loại mệnh đó không?”
“Đúng. Lão phu nay chẳng còn bao lâu, nhân lúc còn sống, cả gan nói rõ cho cậu biết. Về sau, lúc khiêng quan tài, hãy đặc biệt chú ý.”
Nói xong, ông lại ho dữ dội, bảo tôi châm cho ông điếu thuốc để tỉnh táo. Tôi không nghĩ nhiều, vội châm cho ông.
“Lão Tú Tài, cái mệnh đó không thể tùy tiện nhắc. Xin người nghỉ ngơi, đừng nói thêm. Cho dù lần trước lo liệu tang sự ấy đã gieo nhân xấu, sang xuân sang Khúc Dương, tôi hỏi ông Tưởng, với kiến thức của ông ấy, chắc hẳn biết rõ.”
Tôi thấy ông dựa lưng vào đầu giường, sắc diện khó chịu, bèn đỡ ông nằm dựa vào ngực tôi.
Ông hít sâu một hơi thuốc, ho khan rồi nói: “Cửu Nha Tử, mọi chuyện không đơn giản như cậu nghĩ. Cái mệnh đó tục gọi là ‘Tam Nguyên Đẩu Chuyển Mệnh’. Người mang mệnh này, bản thân không hề hại gì, nhưng với kẻ lo tang sự cho họ, lại gieo họa chí mạng.”
Chưa kịp để ông nói tiếp, tôi vội bịt miệng ông: “Đừng nói nữa. Tôi hiểu hết. Nói thêm sẽ chạm vào cái mệnh đó.”
Ông cố sức gỡ tay tôi, lắc đầu mạnh, giọng trầm khàn nặng nề, ý tứ rõ ràng: “Cửu Nha Tử, nếu cậu không buông, lão phu chết cũng không nhắm mắt.”
Một người gần trăm tuổi mà thốt ra bốn chữ “chết không nhắm mắt”, nếu không mãn nguyện, hơi thở sau khi tắt sẽ hóa thành sát khí. Trách nhiệm ấy tôi không gánh nổi, đành buông tay, để ông tiếp tục: “Cái gọi là Tam Nguyên tức là vận một đời người: khi mới sinh thì cát, đến trung niên thì hung, lúc lâm chung lại cát. Ba vận thế ấy vốn ai cũng có, gọi là Đại Tam Nguyên. Còn nếu chia nhỏ theo từng tuổi, cứ mười năm làm ranh giới, phân cát hung, gọi là Tiểu Tam Nguyên.
Người mang Tam Nguyên Đẩu Chuyển Mệnh không phải ai cũng có. Dù sống hay chết, đều phải ứng với hai chữ Mậu Ngọ. Cốt lõi chính là chữ ‘Chuyển’.
Một khi người đó chết, cái cát – hung – cát của Đại Tam Nguyên sẽ chuyển sang thân người lo tang. Đó coi như một kiểu “ghép” tự nhiên. Hung cát sẽ đổi chỗ, từ vốn là cát – hung – cát biến thành hung – cát – hung, rồi áp vào thân cậu.”
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 13 others
Chương 96: Song sinh hoa (phần 1)
Lão Tú Tài một hơi nói xong từng ấy chuyện, đã vô cùng yếu ớt, tựa trong lòng tôi cố gắng hít vài hơi, lại tiếp tục: “Lần trước cậu kể việc gặp ở Vương Trang cho lão phu nghe, ta liền biết cậu gặp phải hung. May thay, được tổ tiên nhà họ che chở, cuối cùng hóa giải được hạn Thái Tuế, vượt qua một kiếp hung.”
Nghe tới đây, sống lưng tôi lạnh buốt. Tôi vốn nghĩ ở Vương Trang đã hoàn toàn hóa giải vận xấu của cái mệnh ấy, không ngờ mới chỉ qua được một kiếp. Tôi vội hỏi: “Vậy… về sau thì sao?”
“Khụ… khụ… khụ…” Lão Tú Tài lại ho kịch liệt mấy tiếng, rồi nói: “Hôm nay việc dời mộ thuận lợi như vậy, chính là vì trong Tam Nguyên Đẩu Chuyển Mệnh có chữ cát, ảnh hưởng tới khí trường mộ phần. Vốn chữ cát này có thể bảo hộ cả quá trình dời mộ. Nhưng tiếc là huyệt mộ ông cậu âm khí quá nặng, chỉ dựa vào chữ cát thì không thể qua nổi kiếp nạn kia, nên… lão phu mới phải nhảy xuống.”
“Ơn nghĩa của người nặng như vậy, Tiểu Cửu này biết lấy gì báo đáp đây?” Tôi nghẹn ngào nói.
Đột nhiên, tứ chi lão Tú Tài run lên một cái, giọng ông yếu ớt đến cực điểm, hơi thở cũng mong manh dần. Ông giơ tay run run chỉ về phía cửa, đứt quãng nói: “Cửu Nha Tử… lão phu thấy ông nội cậu… thấy cả cha mẹ ta… bọn họ đang đứng ở cửa chờ lão phu… Ta… không được rồi… nhớ… nhớ đặt Huyền Không Bàn vào trong quan tài của lão phu…”
Nói xong, bàn tay ông rơi bịch xuống mép giường. Thân thể ông nghiêng tựa vào lòng tôi. Tôi cúi nhìn, gương mặt ông nở nụ cười, đôi mắt nhắm chặt, hơi thở đã dứt.
“Lão Tú Tài!” Mọi thứ đến quá bất ngờ. Vừa mới còn đang nói về Tam Nguyên Đẩu Chuyển Mệnh, thoáng chốc đã rời xa cõi đời. Nước mắt tôi rơi lã chã, từng giọt nhỏ xuống mặt ông. Kỳ lạ thay, nơi nước mắt rơi xuống, sắc xanh trên mặt ông liền nhạt đi đôi chút. Có lẽ… là ông nội tôi hiển linh?
Trời xanh công bằng với mọi người. Vận mệnh tước đi quyền làm cha của lão Tú Tài, nhưng lại để ông ra đi trong vòng tay tôi. Ít ra, ông có người đưa tiễn, không đến nỗi chết trong căn phòng hoang lạnh, đến khi xác thối rữa mới bị phát hiện. Ít ra, ông đã có “hậu nhân” lo tang, đưa xuống mồ.
Ba ngày sau, tôi đi vay cha của Quách Béo năm vạn, rồi lại vay mượn ở các Bát Tiên khác, cộng lại hơn tám vạn, tổ chức cho lão Tú Tài một tang lễ cực kỳ long trọng.
Đám tang ấy, chưa nói khắp thị trấn, chỉ trong mấy làng quanh vùng thôi, cũng đã thuộc loại xa hoa nhất. Trong một thời gian dài, hễ nhắc đến lão Tú Tài, mọi người đều cảm thán: Thật không thể tin nổi, lúc sống như ăn mày, chết rồi lại có được một tang lễ rình rang đến vậy.
Khi đóng quan tài cho ông, tôi không chỉ đặt Huyền Không Bàn vào trong, mà còn thêm cả… Bởi nguyện vọng của ông chính là đem báu vật theo xuống mồ, mà trên người tôi, thứ đáng giá duy nhất chỉ có hai món đó.
Trước khi đưa tang, bữa cơm sớm hôm ấy, cảnh tượng đến giờ tôi vẫn nhớ rành rọt. Hôm đó, có ít nhất gần ngàn người đến, không vì gì khác, chỉ để ăn một nắm cơm to bằng quả óc chó. Người ta bảo lão Tú Tài thọ lâu, ăn cơm tiễn ông cũng được hưởng trường thọ. Tuy chẳng có cơ sở khoa học nào, nhưng đó là tục lệ nơi chúng tôi, cũng coi như cầu may.
Làm xong tang sự cho ông, trên vai tôi gánh tám vạn nợ nần. Với một gia đình vốn đã nghèo rớt, nay càng thêm khốn khó. May sao cha mẹ vẫn ủng hộ, nói rằng: Ơn nhỏ phải báo đáp bằng nguồn suối.
Về sau, để tưởng nhớ, tôi lập bài vị trên bàn thờ nhà, ghi: Linh vị ân sư Lão Tú Tài. Ban đầu định ghi cả tên, nhưng hỏi khắp làng, chỉ biết họ Trần, còn tên thật, chẳng ai nhớ.
Người chết không thể sống lại. Cả nhà tôi đau buồn suốt một thời gian dài. Bảy ngày sau, khi đốt đuốc tiễn đưa lần cuối, coi như toàn bộ tang sự kết thúc. Lạ một điều, cả quá trình an táng ông lại bình yên, không một gợn sóng, không chút điềm quái dị.
Còn bệnh của mẹ, không được như tôi tưởng. Đôi chân vẫn sưng to, đau nhức, chỉ may mắn là đã có thể cử động đôi chút. Thế cũng coi như trong bất hạnh có may mắn, chứng tỏ việc dời mộ ông nội quả thực có chút tác dụng. Phong thủy đúng là có thể ảnh hưởng tới vận mệnh, sức khỏe, nhưng ảnh hưởng không quá lớn. Cuối cùng vẫn phải dựa vào chính mình mà thôi.
Nghỉ ngơi một đêm, xua tan phần nào mệt mỏi, sáng hôm sau, ăn xong bữa sáng với cha mẹ, tôi định tới trường Nhị Trung xem rốt cuộc mối tình đầu, Trình Tiểu Trình ra sao.
Không hiểu sao, trong lòng tôi cứ có dự cảm chuyến đi này sẽ rất lâu. Tôi dặn cha mẹ ở nhà chăm sóc tốt bản thân, còn chuyện trả nợ để tôi tính. Họ dặn đi dặn lại: Ra ngoài đừng làm việc trái pháp luật, gặp chuyện thì kiềm chế, chớ để nóng nảy gây họa.
Nghe vậy, tôi thừa biết Quách Béo đã mách chuyện giữa tôi và Trình Tiểu Trình cho cha mẹ. Trong lòng tôi tức lắm, ai lại muốn cha mẹ biết chuyện xấu của mình? Vậy mà nó lại đi tố giác. Nghĩ lại, cũng chỉ vì lo cho tôi, nên lần này tôi rộng lượng không đá đít nó, chỉ cầm kìm sắt nung đỏ chấm nhẹ vào mông nó một cái. So với đá một cước, dùng kìm nung đỏ chạm nhẹ mới thật sự là… từ bi.
Ăn sáng xong, cha tôi hình như cũng biết chuyến này tôi đi sẽ lâu, bèn tiễn tôi tới tận đầu làng, dúi cho tôi và Quách Béo mỗi người bốn quả trứng luộc, bảo dọc đường đói thì ăn. Lại đưa thêm ba chục quả, bảo mang biếu Trình Tiểu Trình, dù sao cũng từng là người mình thương.
Nói thật, ở nông thôn chúng tôi, trứng gà là món thể diện nhất. Đến giờ vẫn vậy. Người thân đi làm xa, cha mẹ già ở nhà đều nấu mấy quả trứng luộc nhét vào hành trang.
Trứng gà không bổ như yến sào, không ngon như vi cá, cũng chẳng sang trọng như bào ngư. Nhưng ở thôn quê, ý nghĩa của nó vượt xa mọi thứ xa xỉ phẩm. Bởi trong đó chứa chan sự quan tâm, chăm chút, và cả nỗi nhớ thương nồng nàn của người thân.
Quách Béo thì quen thói ngốc nghếch, vừa cầm trứng đã gõ lên đầu, bóc vỏ rồi nhét vào miệng. Vừa nhai vừa nói: “Bác yên tâm, con sẽ trông nom Cửu ca. Nếu anh ấy dám làm chuyện phạm pháp, con sẽ thay bác… chém anh ấy.”
Cha tôi bật cười mắng yêu: “Thằng nhóc, bớt ăn lại đi, béo thêm chút nữa thì sau này lấy vợ khó lắm đấy.”
“Bác nói thế không đúng rồi. Thầy tướng số bảo con có phúc tướng. Sau này lấy vợ, đó chính là phúc khí của cô ấy.” Quách Béo nuốt ực quả trứng, cười hì hì đáp.
Cha tôi tùy ý trò chuyện vài câu với nó, rồi quay sang tôi, hỏi: “Cửu Nha Tử, cô Kiều sáng sớm đã dậy, còn chải chuốt ăn diện cẩn thận. Con không định đưa cô ấy cùng tới Nhị Trung sao?”
Chương 97: Song sinh hoa (phần 2)
Những lời cha tôi nói, tôi đều thấy cả, chỉ là giả vờ như không biết thôi. Nói thật lòng, nếu Trình Tiểu Trình còn là người bình thường, tôi nhất định sẽ đưa Kiều Y Tư đi cùng. Đàn ông mà, tâm lý thường giống nhau: đều muốn dắt một cô gái xinh đẹp đến trước mặt người yêu cũ, rồi hả hê nói một câu: “Thấy chưa, ngày xưa cô đá tôi đúng là mù mắt, bây giờ tôi tìm được người còn tốt hơn cô nhiều.”
Tôi mới mười tám tuổi, đâu phải thánh nhân, tất nhiên cũng có tâm lý này.
Nhưng nghĩ đến việc Trình Tiểu Trình đã phát điên, tôi không thể làm chuyện ấy được. Nhỡ may chọc cho cô ấy phát bệnh nặng thêm, thì tôi chẳng khác nào cầm thú. Vì vậy, tôi lắc đầu với cha, nói: “Không đưa cô ấy đi đâu. Nếu cô ấy không muốn rời đi, thì cứ để ở lại nhà ta.”
Vừa dứt lời, tôi đã thấy Kiều Y Tư bước đến. Hôm nay cô ấy ăn mặc đặc biệt lắm: một chiếc áo dài trắng, tóc xõa vai, gương mặt kiều mị đến mức đàn ông nào nhìn cũng phải rung động.
Tôi lúng túng cười với cô ấy, khẽ gọi một tiếng: “Kiều Y Tư…”
Cô ấy phẩy tay, lạnh nhạt nói: “Đừng nói gì hết. Trên đường nhớ cẩn thận.”
Nói xong, cô quay đầu lườm Quách Béo một cái, khiến nó sợ hãi lùi mấy bước. Rồi cô nghiến răng: “Đồ chết béo, nếu Cửu gia mà rụng thêm một sợi tóc, cái mặt cậu cũng đừng giữ nữa.”
“Ôi trời ạ, chị ơi, mắt chị tinh thật đấy! Anh Cửu rụng một sợi tóc mà chị cũng biết sao?” Quách Béo há hốc kêu.
Kiều Y Tư chỉ hừ lạnh một tiếng, không thèm đáp, đôi mắt lại dán chặt lên người tôi, im lặng không nói gì.
Bị cô ấy nhìn chằm chằm như vậy, tôi thấy toàn thân khó chịu, cũng không dám mở miệng, chỉ sợ ăn đòn. Bầu không khí lập tức trở nên gượng gạo, kéo dài hơn mười giây, may mà cha tôi lên tiếng: “Cửu Nha Tử, sớm quay về nhé!”
Tôi gật đầu, không muốn tiếp tục ở trong cảnh ngại ngùng này nữa, bèn xoay người kéo Quách Béo chạy ra đường cái.
Dọc đường, Quách Béo thắc mắc: “Cửu ca, em công nhận anh đẹp trai hơn em một chút xíu thôi, sao Kiều Y Tư, con mụ chanh chua ấy lại nhìn trúng anh? Thật khó tin quá đi!”
“Cút mẹ mày đi! Mắt nào thấy cô ấy thích tao?” Tôi cười mắng, nhưng trong lòng cũng nghĩ: có lẽ mọi người đã hiểu lầm. Kiều Y Tư chỉ coi tôi như người thân thôi. Nghề nghiệp của tôi, được cô gái nào để mắt đã là may lắm. Còn Kiều Y Tư, đẹp như hoa thế kia, làm sao coi trọng tôi? Nghĩ cũng nực cười. Người ta mà, quý ở chỗ tự biết mình, đạo lý này tôi vẫn hiểu rõ.
Từ thôn Ấu Tử đến Nhị Trung, đường khá xa. Phải đi xe máy ra trấn, rồi bắt xe khách ba tiếng vào huyện, lại đổi thêm một chuyến xe buýt nữa mới tới được.
Nông thôn chúng tôi đi học cấp ba ở huyện khổ lắm. Hồi đi học, một học kỳ tôi chỉ về nhà vào hè với Tết. Chủ yếu vì tiền xe quá đắt, đi một lượt mất hơn bảy chục tệ, không nỡ tiêu.
Tôi với Quách Béo thuê hai chiếc xe máy về trấn. Tiện thể, tôi ghé cửa hàng bia mộ một chuyến. Chuyện A Đại giúp tôi báo thù lần trước, vẫn chưa kịp cảm ơn. Tiền trong tay chẳng còn bao nhiêu, tôi đành mang ba chục quả trứng định biếu Trình Tiểu Trình đưa cho bọn họ, coi như tỏ lòng cảm kích.
A Đại nói: “Trần Bát Tiên, khỏi khách sáo. Sau này có một người thân của tôi sắp mất, mong cậu dẫn người tới phụ khiêng quan tài. Bọn Bát Tiên trong vùng chỉ nghĩ đến tiền thôi.”
Tôi chẳng nghĩ ngợi gì, lập tức đồng ý, để lại số điện thoại cho hắn: “Lúc nào cần thì gọi, tôi đến ngay.”
Ra khỏi tiệm bia mộ, Quách Béo bất ngờ ôm lấy tôi, hôn chụt lên mặt, kích động nói: “Cửu ca, anh chính là thần tượng của em! Em yêu anh chết mất! Không ngờ đúng là anh gọi người đánh Lưu Khải cái thằng súc sinh kia.”
Tôi vội bịt miệng nó lại, suýt nữa thì tát mấy cái. Con mẹ nó, mười tám tuổi rồi mà còn ngây ngô như trẻ con. Thật hối hận vì đã để nó biết sự thật. Tôi quát khẽ: “Mẹ kiếp, nhỏ tiếng thôi! Muốn tao chết à? Nếu bị người của Lưu Khải nghe được, tao lại phải nằm viện đó.”
“Phải, phải, Cửu ca dạy đúng. Mấy hôm nay em vẫn gọi cho Thiên ca, còn định nhờ anh ta, cái tên nhà giàu báo thù cho em, mà điện thoại cứ gọi mãi không thông. Không ngờ Cửu ca đã báo thù giúp rồi!” Quách Béo hạ giọng, phấn khích nói.
Chúng tôi, thế hệ 8x ngày ấy bị phim Người Trong Giang Hồ mê hoặc, ai nấy đều sùng bái Trần Hạo Nam do Trịnh Y Kiện đóng, trong xương cốt đều có xu hướng bạo lực. Mà Quách Béo chính là điển hình, cực kỳ khoái bạo lực, chỉ là bình thường hơi nhát, nên xu hướng ấy luôn bị đè nén.
Tôi không muốn bàn thêm với nó chuyện này, chỉ hỏi: “Điện thoại của Trần Thiên Nam vẫn không gọi được à?”
Nó nói: “Không thông.”
Tôi cũng không để ý nhiều, chắc cha mẹ hắn quản lý chặt. Sinh ra một đứa con như vậy, phụ huynh nào chẳng đau đầu.
Sau đó, chúng tôi bắt chuyến xe khách đi Hành Nam. Vừa lên xe, Quách Béo hét toáng một tiếng, lập tức phóng ra hàng ghế cuối. Tôi ngẩng lên nhìn, thấy bên cạnh nó là một phụ nữ trẻ, mặt mày xinh đẹp, mặt trái xoan, lông mày thanh tú, trang điểm nhẹ, cổ áo hé ra khe ngực sâu, trong tay ôm bé gái tầm một tuổi.
Tôi lườm Quách Béo khinh bỉ. Con mẹ nó, con người ta đã có chồng có con, thế mà nó còn dám tơ tưởng. Thật hết thuốc chữa. Tôi thở dài cười khổ, mặc kệ nó, ngồi xuống ghế phía bên kia, chờ xe khởi hành.
Xe khách ở quê khác hẳn thành phố, phải đợi đủ khách mới chạy. Vì không phải ngày họp chợ, người đi huyện khá ít. Chúng tôi chờ gần hai tiếng, xe mới đầy.
Trong lúc chờ, Quách Béo có xuống xe một lần, bảo đi mua đồ. Tôi cũng chẳng để tâm, mãi đến khi biết nó mua gì, chỉ hận không thể đánh cho một trận.
Xe vừa chạy, nó còn giả bộ “ngoan ngoãn”, nhắm mắt giả ngủ, nhưng cả người thì cứ nghiêng về phía người phụ nữ kia. Tôi thật sự hối hận đã ngồi chung với nó, mất mặt quá.
Mắng nó vài câu, tôi khẽ nhắm mắt định chợp một lát. Trong đầu lại bất giác nhớ tới những lời trăn trối của lão Tú Tài: tôi đã qua hai kiếp trong Tam Nguyên, còn lại kiếp thứ ba. Lần trước chữ “hung” được tổ tiên Vương Khiết hóa giải, lần dời mộ thuận lợi nhờ chữ “cát”. Nhưng cái “hung” cuối cùng… tôi sẽ phải vượt qua thế nào? Trong lòng tôi hoàn toàn không có chút chắc chắn nào.
Nghĩ rồi nghĩ, không biết khi nào tôi đã thiếp đi. Bỗng nghe tiếng trẻ con khóc to bên tai, chói tai đến mức ù cả tai. Tôi mở mắt, thấy bé gái kia đang hướng về phía tôi mà khóc nức nở, tiếng khóc bi thương như thể ai cướp mất món đồ quý nhất của nó vậy.
Tôi đang định dỗ cho bé nín, thì thấy Quách Béo lấy tay chọc chọc người phụ nữ kia, nói: “Chị này, em bé khóc dữ quá, chắc là đói rồi. Chị cho nó bú chút đi. Khóc khàn cả giọng, mai sau hỏng giọng thì tội nghiệp lắm.”
Hả? Từ bao giờ Quách Béo lại “tốt bụng” thế? Trong lòng tôi nghi ngờ, liếc nó một cái. Chỉ một cái liếc đó thôi, tôi không chỉ muốn đánh nó, mà còn muốn đạp chết nó ngay tại chỗ!
Chương 98: Song sinh hoa (phần 3)
Chỉ liếc một cái thôi, tôi đã thấy Quách Béo cầm chai sữa trong tay trái, lắc lắc trước mặt cô bé, cố tình dụ dỗ nó.
Mẹ kiếp, làm bạn với kẻ vô liêm sỉ như thế này, tôi thật muốn chui ngay xuống đất cho xong, quá mất mặt. Điều càng khiến tôi không ngờ là, người phụ nữ kia lại khẽ nói một tiếng “cảm ơn”, rồi… rồi thật sự kéo áo lên, lộ ra bộ ngực 36D, bắt đầu cho con bú.
Quách Béo lập tức lấy cùi chỏ chọc vào tôi, nhỏ giọng hí hửng: “Cửu ca, em không tệ chứ? Biết anh thích mấy cái này, nên em mới đặc biệt xuống xe mua sữa, để được nhìn thấy cảnh trước mắt đó!”
Vừa nói, nó vừa chảy cả nước dãi, hai mắt dán chặt vào ngực người ta.
Tôi cạn lời, chẳng muốn nói với nó nửa câu, vội quay mặt đi chỗ khác. Trong đầu chỉ nghĩ đến chuyện khi gặp Trình Tiểu Trình, tôi nên nói gì, làm gì.
Cha tôi dặn đem ba chục quả trứng biếu cô ấy, nhưng tôi đã đưa cho A Đại mất rồi. Lý do đơn giản: dù có mang tới, e rằng mẹ cô ấy cũng sẽ ném vỡ tung, bởi bà ta vốn quá thực dụng.
Tôi nhớ hồi đi học, có lần tôi nhịn ăn sáng suốt hai tháng, tiết kiệm được hơn trăm tệ, mua tặng Trình Tiểu Trình một sợi dây chuyền bạc. Cô ấy thì rất thích, nhưng khi mẹ cô biết là do tôi tặng, con mẹ nó, bà ta ngay trước mặt tôi đã giật dây chuyền xuống, ném xuống đất giẫm mấy cái, rồi dùng gậy gắp bỏ vào thùng rác.
Cảm giác khi đó, khó mà diễn tả bằng lời, chỉ có một chữ: đắng. Nếu giờ bà ta thấy tôi tặng trứng cho con gái bà, chắc tôi còn chưa kịp bước vào cửa, đã bị đuổi thẳng ra ngoài rồi. Đời là vậy, chỉ nhìn tiền, không nhìn người.
Ngồi trên xe, tôi gà gật buồn ngủ. Đường hơi tắc, xe khách lắc lư hơn ba tiếng cuối cùng cũng vào đến huyện. Tôi với Quách Béo xuống xe, mà nó vẫn còn quay đầu tìm bóng dáng người phụ nữ kia.
“Cửu ca, ngực người ta to thật! Em thề sau này phải cưới vợ cũng phải to thế mới được!” nó híp mắt cười dâm.
“Ngực Trương Viện Viện không to sao mày vẫn còn theo đuổi người ta?” Tôi bực mình đáp, rồi đi về phía trạm xe buýt, lòng trĩu nặng.
Quách Béo chạy theo, khoác vai tôi, giọng bỗng nghiêm lại: “Cửu ca, con nhỏ Trình Tiểu Trình ấy, loại con gái lẳng lơ, đến cái chỗ nhỏ bằng hai ngón tay cũng giữ không nổi, anh còn tìm nó làm gì? Đừng nói điên rồi, có chết đi em cũng muốn giẫm thêm hai cái.”
Có những chuyện không thể để người khác xúc phạm. Dù Trình Tiểu Trình đã là bạn gái cũ, tôi cũng không cho phép ai nhục mạ cô ấy. Tôi tức giận, không buồn trả lời. Nếu không phải hiểu rõ tính cách nó, chắc tôi đã tuyệt giao từ lâu.
Quách Béo thấy tôi khó chịu, không nhắc đến chuyện Trình Tiểu Trình nữa, mà kéo tôi lại: “Cửu ca, anh ngửi thử mùi trên người mình đi, nhìn lại quần áo anh mặc. Anh thấy thế này đến nhà cô ta, mẹ cô ta, cái bà ham hư vinh ấy có cho anh vào cửa không?”
Tôi nổi giận, quát: “Người nông thôn thì sao? Người nông thôn không phải người chắc? Người nông thôn thì không được vào huyện à? Nếu mày khinh tao là dân quê, thì cút đi, tao không có thằng bạn như mày!”
“Cửu ca, em không có ý đó!” – Quách Béo vội giải thích: “Ý em là trên người anh có mùi tử khí, bà ta mà ngửi thấy thì chắc chắn đuổi thẳng ra ngoài. Hay là… mình về nhà em tắm rửa, thay quần áo, xịt chút nước hoa rồi hãy đi? Như vậy nhìn cũng thể diện hơn, dù sao ở huyện, người ta rất coi trọng bề ngoài.”
Tôi sững lại, cúi xuống nhìn bản thân. Chiếc áo sơ mi xanh đã bạc màu, quần đen còn lành lặn nhưng chỗ đùi bị tàn thuốc cháy thủng mấy lỗ, đôi giày vải thì giặt nhiều lần vẫn vương đất vàng, trông ngả màu.
“Cửu ca, anh đến tìm Trình Tiểu Trình, chẳng lẽ muốn chưa gặp đã bị đuổi ra ngoài à?” nó tiếp tục khuyên.
Từng học ở huyện hai năm, tôi hiểu phần nào thói quen ở đây. Người huyện thà không có tiền ăn cơm, cũng phải mua bộ quần áo đẹp, nhét bao thuốc xịn vào túi, sống vì sĩ diện. Không như dân quê chúng tôi, có nghèo cũng phải ăn no cái đã.
Đã đến huyện thì đành theo lệ, tôi gật đầu, cùng Quách Béo về nhà nó thay đồ. Người ta nói đúng: đời giống như cái cung, cưỡng lại cũng vô ích, chỉ có thể học cách chấp nhận. Với tôi lúc đó, lựa chọn duy nhất là chấp nhận, phải gặp Trình Tiểu Trình bằng diện mạo tốt nhất, nếu không, e rằng như lời Quách Béo, ngay cả cửa nhà cô ấy tôi cũng không bước vào nổi.
Sau nửa tiếng xe buýt, chúng tôi đến nhà nó. Tôi vốn quen chỗ này, hồi đi học thường xuyên ghé nên chẳng lạ. Cha mẹ nó đều đi làm, tôi liền vào nhà tắm rửa. Để tẩy mùi tử khí, tôi chà sữa tắm tới ba lần, nhưng vẫn thấy phảng phất mùi ấy.
Đời là vậy, mỗi nghề một mùi: công nhân xây dựng thì nặng mùi mồ hôi, thợ sơn thì ám mùi sơn, còn tôi, kẻ khiêng quan tài, trên người mang tử khí, không khác gì.
Dù vậy, để gặp Trình Tiểu Trình, tôi vẫn nghe lời Quách Béo, xịt chút nước hoa. Quần áo, nó đưa đồ của cha mình, tôi từ chối. Tôi vẫn mặc bộ cũ. Vì cái gọi là “tình yêu”, có thứ tôi có thể thay đổi, nhưng có thứ thì không. Tôi là dân quê, mặc đẹp cỡ nào, cốt lõi vẫn là dân quê. Mặc đồ người khác, chẳng hợp, lại khó chịu.
Xong xuôi, tôi hỏi nó có muốn đi cùng không, nó bảo không muốn nhìn mặt kẻ thù. Tôi không ép, vội vàng rời nhà, đi thẳng về phía nhà Trình Tiểu Trình.
Nhà Quách béo gần Nhị Trung, nhà Trình Tiểu Trình cũng ở đó, chỉ khác là một bên đông, một bên tây, cách khá xa.
Ngồi xe buýt nửa tiếng, tôi đã đến trước khu nhà của Trình Tiểu Trình. Trong lòng rối bời: nên vào hay không vào? Hai lựa chọn này cứ xoay trong đầu. Con người mà, khi thật sự phải đối diện, luôn sinh ra tâm lý muốn né tránh. Tôi lo: nếu mẹ cô ấy không cho tôi vào thì sao? Nếu Trình Tiểu Trình thật sự phát điên thì sao?
Tôi lượn lờ trước cổng khu gần một tiếng đồng hồ, mãi đến lúc trời sắp tối mới lấy hết dũng khí bước vào. Nhưng vừa bước chân, bảo vệ đã chặn lại, hỏi tôi quê quán ở đâu, tên gì, cha mẹ làm gì, đến tìm ai, ở tòa nào, số phòng mấy, làm nghề gì.
Những câu ấy tôi chẳng trả lời nổi, thế là bị chặn ngay ngoài cổng, họ còn nghi tôi vào ăn trộm. Đúng lúc ấy, một bóng dáng quen thuộc xuất hiện trước mắt tôi…
Chương 99: Song sinh hoa (phần 4)
Tôi định thần nhìn kỹ, bóng dáng quen thuộc kia chính là Chu Khai Nguyên, bạn trai hiện tại của Trình Tiểu Trình.
Hắn có khuôn mặt thanh tú, mặc toàn hàng hiệu, trên áo in ba con số cùng ký hiệu độ ở góc phải trên.
Nghe Quách Béo kể trước đây, một bộ như thế phải mấy trăm tệ, đắt cắt cổ. Dân quê như chúng tôi chẳng ai nỡ bỏ từng ấy tiền mua quần áo, thà để dành tiền mua ít thịt lợn bồi bổ cho con còn hơn.
Hắn đi thẳng ngang qua tôi, giả như không thấy. Tôi hoảng, vì có được vào hay không còn phải nhờ hắn, chẳng quan tâm chuyện hắn đã “cướp” mối tình đầu của tôi, liền gọi to: “Chu Khai Nguyên!”
Hắn quay đầu, liếc tôi một cái, ngập ngừng hỏi: “Cậu là… Trần Cửu?”
Tôi gật đầu: “Nghe nói Trình Tiểu Trình phát điên rồi, tôi muốn vào thăm, nhưng bảo vệ không cho. Cậu có thể đưa tôi vào không?” vừa nói, tôi vừa móc điếu thuốc đưa cho hắn.
Ai ngờ, hắn hất thẳng thuốc khỏi tay tôi, rồi vung nắm đấm giáng ngay vào mặt. Sau đó là một cú đá mạnh vào bụng, đau đến mức tôi loạng choạng lùi mấy bước. Nhưng hắn vẫn không buông tha, lại lao đến đạp thêm, vừa đánh vừa gào lên phẫn nộ: “Trần Cửu, đồ khốn, cuối cùng mày cũng ló mặt! Tất cả đều do mày hại, nếu không phải mày đột ngột biến mất, Tiểu Trình sẽ không thành ra thế này! Đều tại mày! Mày còn có mặt mũi đến đây à?”
Nói rồi, hắn liên tiếp nện thêm mấy cú vào người tôi. Tôi vốn định phản đòn, nhưng nghe đến đó lại khựng lại, chuyện Tiểu Trình phát điên thì liên quan gì tới tôi? Chẳng phải vì thất tình muốn tự sát, rồi mới thành ra vậy sao?
Có lẽ hắn cũng mệt, dừng tay, vừa thở hổn hển vừa chửi: “Trần Cửu, đồ khốn, mấy tháng nay mày chui đi đâu?”
Tôi ôm bụng đáp: “Nhà không có tiền, lo không nổi học phí, nên tôi bỏ học, về nhà khiêng quan tài.”
Không biết câu nào đụng chạm, Chu Khai Nguyên lập tức lại tung thêm một đấm vào bụng tôi, nghiến răng mắng: “Mẹ nó, mày thà ở nhà khiêng quan tài, cũng không đến Nhị Trung thăm Tiểu Trình!”
Mẹ kiếp, đất sét cũng có ba phần lửa. Hắn đấm đau điếng, ruột gan như lộn ngược, tôi mặc kệ nghi hoặc trong lòng, siết chặt nắm tay, đấm thẳng vào bụng hắn.
Hai chúng tôi sắp sửa lao vào đánh nhau, thì bảo vệ chạy tới quát: “Đám ranh con, muốn đánh thì cút chỗ khác, đừng chắn cổng! Không đi thì ông báo công an đấy!”
Nghe vậy, cả tôi lẫn Chu Khai Nguyên đều khựng lại, im lặng. Hắn liếc bảo vệ, không nói thêm, lấy chùm chìa khóa quẹt vào máy cảm ứng ở cổng, rồi định bước vào.
Tôi vội đứng dậy, “soạt” một tiếng, bám sát theo hắn vào trong. Bảo vệ còn định lên tiếng, nhưng Chu Khai Nguyên đã phẩy tay: “Bạn học của tôi, đến tìm tôi.”
Bên trong khu chung cư rộng lớn, ít nhất mấy trăm mẫu, từng tòa nhà cao chọc trời, dưới chân trồng đầy hoa cỏ, khiến cả khu như được nâng đỡ bởi một thảm xanh, nhìn mà hoa mắt. Thời đi học, tôi chỉ dám đứng ngoài cổng, chưa từng được bước vào. Nay đặt chân đến, chỉ có thể thốt bảy chữ: “Cao sang, bề thế, vượt tầm thường.”
Điều làm tôi ngạc nhiên hơn là bố cục phong thủy: trên đỉnh mỗi tòa nhà đều gắn bốn chóp xi măng nhọn, chĩa ra bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Trước kia tôi không hiểu, chỉ thấy lạ mắt.
Giờ học được chút phong thủy, mới nhận ra đó là “Tứ sát trận”: nói lớn thì trấn áp yêu ma quỷ quái, nói nhỏ thì để trừ tà.
Tôi lại quan sát toàn bộ khu, phát hiện hướng các tòa nhà bày theo hình bát quái, trung tâm là hồ bơi, dùng nước để tụ tài cho cả khu.
Điều này khiến tôi băn khoăn, vừa tụ tài vừa trừ tà, có gì đó không ổn. Theo lý, nhà cửa chủ yếu chú trọng tụ tài, hiếm khi dựng cả “Tứ sát trận” trong kiến trúc.
Trừ phi… trong lúc xây dựng từng xảy ra tai nạn chết người, hơn một mạng, ít nhất phải hàng chục, thì chủ đầu tư mới phải bố trận kép như thế.
Nhưng chuyện đó vốn chẳng liên quan tôi. Chung cư nào xây xong mà chẳng có vài mạng chết? Chỉ là bị ém nhẹm thôi. Người mất thì đã mất, chủ đầu tư hoặc bồi thường kín, hoặc dọa nạt gia đình không cho lộ ra. Tiền bạc bao giờ cũng nặng hơn sinh mạng.
Thấy tôi ngẩn ngơ, Chu Khai Nguyên tưởng tôi chưa từng thấy nơi sang trọng như vậy, liền đẩy nhẹ, giọng gắt gỏng: “Đừng nhìn nữa, rốt cuộc mày đến đây làm gì?”
“Tôi muốn gặp Trình Tiểu Trình, nhìn một lần rồi đi.” sau khi thấy phong thủy ở đây, lòng tôi nặng trĩu. Sinh mạng con người chẳng đáng giá bằng tiền, có lẽ đó cũng là khoảng cách giữa tôi và cô ấy.
“Mày còn muốn đi? Mày thật sự không biết, hay giả vờ không biết?” hắn trừng mắt nhìn tôi.
“Biết cái gì?” tôi ngơ ngác. Tôi đến đây chỉ vì lo cho Tiểu Trình, nhìn một chút rồi đi thôi. Chúng tôi vốn đã là quá khứ.
“Mẹ nó, tao chỉ là lao động tạm thời, hiểu chưa? Lao động tạm thời mà Tiểu Trình thuê! Tao chỉ là thằng thế thân, còn mày mới là bạn trai chính thức của cô ấy! Điều này chưa từng thay đổi!”
Hắn như phát điên mà gào: “Tao thích Tiểu Trình từ tiểu học đến tận trung học, không hiểu cô ấy bị gì mà lại thích một thằng nhà quê như mày, lại còn một lòng một dạ!”
Nghe những lời ấy, tôi sững sờ như bị sét đánh, toàn thân tê liệt, tim đập thình thịch, tay chân run rẩy.
“Nói đi chứ!” hắn túm cổ áo tôi, rít lên: “Mày có gì hơn tao? Thành tích học tập, mày thua tao; gia cảnh, mày thua tao; ngoại hình, mày cũng thua tao! Mày thua tao tất cả, vì cái gì mà Tiểu Trình lại chọn mày?”
“Nếu không phải vì mày, Tiểu Trình sẽ không thành ra thế này, tuyệt đối không!” hắn càng nói càng kích động, lại vung thêm một cú đấm.
Tôi không nhớ hắn đánh bao nhiêu lần, chỉ nhớ rõ hai câu: “Mày mới là bạn trai chính thức của cô ấy, điều này chưa từng thay đổi.”
“Nếu không vì mày, cô ấy đã không thành ra thế này.”
Tôi choáng váng. Trên QQ, cô ấy từng nói vì thất tình nên muốn tự tử, tôi vẫn nghĩ là chia tay với Chu Khai Nguyên mới thành ra vậy. Nào ngờ giờ hắn lại nói mình chỉ là kẻ thay thế!
Vậy… rốt cuộc chuyện này là thế nào?
Tôi nghẹn ngào, điều chỉnh hơi thở mấy lần mới gào lên được một câu: “Rốt cuộc tất cả là sao? Mau nói sự thật cho tôi biết! Vì sao Tiểu Trình phải tự sát, vì sao cô ấy lại phát điên?”
Chương 100: Song sinh hoa (phần 5)
Chu Khai Nguyên trừng mắt nhìn tôi, giọng trầm xuống: “Cậu thật sự không biết gì à? Không hề liên lạc với ai trong lớp?”
Tôi lắc đầu: “Chỉ liên lạc với Quách Béo, còn lại toàn ở quê khiêng quan tài.”
Hắn im lặng một lúc, rồi chìa tay xin điếu thuốc. Hắn châm lửa, hít sâu, nhả khói, từ từ kể ra toàn bộ sự thật. Chỉ là cái sự thật ấy khiến tôi khó lòng chấp nhận nổi.
Thì ra, hồi ở trường, vì thấy tôi mê muội lục đinh lục giáp, bỏ bê học hành, Trình Tiểu Trình lo lắng tôi cứ thế sẽ hỏng cả đời. Cô ấy bèn tìm Chu Khai Nguyên cùng diễn một vở kịch, giả làm người yêu.
Hai người bàn bạc, sợ diễn không thật khiến tôi không tin, đúng lúc Quách Béo đến tìm Chu Khai Nguyên gây chuyện, bèn mượn cớ đó thuê mấy kẻ ngoài trường, đánh cả tôi với Quách Béo một trận.
Quả thật, sau khi bị đánh, tôi tin chắc Trình Tiểu Trình đã đi với Chu Khai Nguyên. Nhưng sự việc không tiến triển như cô ấy mong muốn, ngược lại càng tồi tệ, tôi chìm sâu hơn vào lục đinh lục giáp, đến mức bỏ ăn bỏ ngủ.
Trình Tiểu Trình nhiều lần định nói rõ sự thật, song Chu Khai Nguyên luôn ngăn cản, thành ra dây dưa đến hết năm lớp 11.
Khi bước vào năm lớp 12, cô không muốn diễn nữa, lại phát hiện tôi không quay lại trường. Cô phát điên đi tìm, nhưng không có chút tin tức nào. Sau này tìm đến Quách Béo, định dò hỏi, ai ngờ nó lại buông một câu: “Đừng tìm Cửu ca nữa, anh ấy ở quê cưới vợ rồi.”
Chính câu đó khiến Trình Tiểu Trình sụp đổ hoàn toàn. Tuyệt vọng, cô nhớ đến việc từng kết bạn QQ với tôi, dù tôi chẳng bao giờ online, vẫn thử gửi hai tin nhắn.
Thật không ngờ, nguyên nhân thực sự khiến cô phát điên lại bắt đầu từ chính những tin nhắn đó.
Hôm ấy, cô vừa đi trên đường vừa nhắn QQ cho tôi, không chú ý phía trước, lỡ đâm vào một cột điện. Ngẩng đầu xoa trán, trong khoảnh khắc ấy, cô bỗng nhìn thấy cảnh tượng khủng khiếp: một chiếc xe tải lao đến, cán chết chính mình, máu me văng tung tóe, một cái đầu từ từ lăn đến chân. Cái đầu đầy máu ấy, rõ ràng chính là gương mặt của cô!
Từ đó, cô dần phát điên, thường xuyên chạy đến Nhị Trung tìm cách tự tử, mấy lần đều bị Chu Khai Nguyên ngăn lại. Bất đắc dĩ, hắn đưa cô vào bệnh viện. Bác sĩ nói đó là do bị hoảng sợ tột độ, dẫn đến thần trí thất thường.
Ban đầu Chu Khai Nguyên cũng chẳng biết nguyên nhân, cho đến một lần cô bất chợt tỉnh táo, miệng gào khóc: “Tôi chết rồi! Tôi bị xe tông chết rồi! Đầu tôi cũng rơi rồi! Tôi không còn thấy Cửu Nha Tử nữa!”
Nghe vậy, Chu Khai Nguyên vô cùng khó hiểu. Người sống sờ sờ ra đó, sao lại nhắc đến tai nạn? Hắn liền nhờ người quen ở Cục Giao thông tra lại băng ghi hình. Quả nhiên hôm đó ở đoạn đường ấy xảy ra một vụ tai nạn kinh hoàng, nạn nhân chết thảm, đầu lăn đến trước mặt Trình Tiểu Trình.
Nhưng vì camera quá xa, lại mờ, không nhận diện rõ gương mặt người chết. Chỉ thấy cái đầu dừng ngay dưới chân cô.
Nghe Chu Khai Nguyên kể xong, tôi cũng dần hiểu ra. Trình Tiểu Trình vừa nghĩ đến việc tự sát, liền tận mắt thấy chính đầu mình lăn dưới chân, nỗi sợ ấy đâu phải người thường chịu nổi. Bảo sao thần trí rối loạn.
Cũng có khả năng là đúng lúc nạn nhân vừa chết, sát khí còn vương lại, cô tình cờ chạm phải, nên mới liên tục tìm cách tự vẫn.
Tôi hít vài hơi thật sâu, cố giữ nhịp thở bình ổn, hỏi hắn: “Cậu có từng nhìn rõ mặt nạn nhân không?”
Hắn lắc đầu: “Tôi tìm khắp, cũng không ra thân nhân. Chỉ biết xác được một người đàn ông trung niên mang đi, còn lại chẳng rõ gì thêm.”
Không hiểu sao, nghe vậy tôi thấy lòng mình phẳng lặng như hồ chết, không chút gợn sóng. Bình thản đến mức chính tôi cũng giật mình. Tôi chỉ nhạt giọng hỏi: “Cậu có thể giúp tôi một chuyện không? Đưa tôi đến nhà Trình Tiểu Trình xem.”
Người ta nói, nỗi bi thương càng lớn, con người càng bình tĩnh. Trước đây tôi không tin, nhưng lần đó quả thực rất bình thản, bình thản đến mức chính tôi cũng không nhận ra mình.
Giờ nhớ lại, có lẽ số phận đã sớm an bài. Tôi đến huyện, nghe lời Quách Béo ghé nhà nó tắm rửa, lỡ mất chút thời gian, nên trước khi gặp Tiểu Trình lại chạm mặt Chu Khai Nguyên ở cổng khu, nhờ vậy mà biết được sự thật.
Nếu không gặp hắn, tôi hẳn chỉ đến với tư cách bạn trai cũ, nhìn cô một cái rồi quay về quê. Vậy thì mọi việc sau này đã chẳng xảy ra, và có lẽ tôi cũng không suýt mất mạng trong vụ đó.
Trở lại câu chuyện, Chu Khai Nguyên nhìn tôi một hồi, giọng lạnh: “Trần Cửu, tôi thật khâm phục sự máu lạnh của cậu. Nghe hết mà vẫn bình tĩnh thế này. Tiểu Trình đúng là mù mắt mới thích loại người như cậu.”
Tôi liếc hắn, thản nhiên đáp: “Thế nào mới là tình yêu? Khóc lóc? Làm loạn? Hay phát điên để chết theo cô ấy? Điều quan trọng nhất bây giờ là tìm cách chữa cho cô ấy, chứ không phải ngồi đây than khóc. Tôi không có cái gọi là ‘tình cảm cao thượng’ như các cậu nhà giàu. Tôi chỉ muốn thấy một Trình Tiểu Trình vui tươi đứng trước mặt mình. Vậy nên, cậu chỉ cần trả lời một câu: đưa tôi đến hay không?”
Tôi từng nghĩ tự mình mò tới, nhưng hai lý do ngăn lại:
Một là tôi không biết cô ở tòa nào. Khu này lớn, đi từng nhà tìm thì không thể.
Hai là mẹ cô. Trước đây bà còn chưa rõ nguyên nhân, nay chắc chắn coi tôi như kẻ thù. Đừng nói vào cửa, e là còn bị đánh gãy xương. Tôi chịu đòn không sao, nhưng nếu thế khiến bệnh tình cô nặng thêm, thì không được.
Chu Khai Nguyên ngạc nhiên, trừng mắt nhìn tôi: “Ý cậu là… cậu có thể cứu Tiểu Trình?”
“Tôi từng học vài thứ đặc biệt, hy vọng giúp được cô ấy.” tôi nói thản nhiên, nhưng mắt nhìn thẳng hắn. Nếu hắn không đồng ý, tôi cũng chẳng ngần ngại động thủ. Bởi nếu không phải hắn ngăn cản cô nói rõ sự thật, đã chẳng xảy ra chuyện này. Hắn cũng có phần trách nhiệm.
Chu Khai Nguyên nắm chặt vai tôi, bóp đau, nhưng giọng đầy kích động: “Tôi biết ngay cậu không tầm thường. Nếu không, Tiểu Trình đã chẳng để ý cậu!”
Nói xong, hắn kéo tôi đi sâu vào trong khu.
Đi chừng bảy tám phút, chúng tôi dừng trước một tòa nhà. Trên bảng đề ba chữ lớn: Ngư Hương Các. Ngẩng đầu, tòa này phải bốn mươi tầng. Chu Khai Nguyên nói: “Tiểu Trình ở tầng 27.”
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 12 others
Ngày càng bánh cuốn
lót gạch hóng :ah:
Chương 101: Song sinh hoa (phần 6)
Đứng trước Ngư Hương Các, toàn thân tôi căng cứng. Chu Khai Nguyên như nhận ra sự căng thẳng đó, vỗ vai tôi, nói: “Trần Cửu, vào đi! Nếu tất cả chỉ là hiểu lầm, có lẽ đúng như cậu nói, Tiểu Trình vẫn còn chữa được.”
Tôi gật đầu, liếc hắn một cái. Trước kia tôi chỉ thấy hắn như một soái ca giàu sang, giờ lại thấy hắn giống một kẻ si tình. Tôi nói khẽ: “Cảm ơn cậu đã chăm sóc Tiểu Trình suốt thời gian qua.”
“Khách sáo gì. Tôi chỉ mong cô ấy được hạnh phúc.” giọng hắn lộ chút bi thương, rồi sải bước đi trước.
Tôi im lặng, đi theo vào trong. Chúng tôi đợi thang máy, bước vào, ấn tầng 27. Lạ lùng thay, càng gần tới nơi, nhịp thở tôi càng dồn dập. Vừa ra khỏi thang, chân tôi bỗng như nặng trĩu, bước đi khó nhọc.
Nhà Trình Tiểu Trình ở 2703, cách thang máy chỉ bảy tám mét, vậy mà tôi phải lê tới năm phút mới đến cửa. Chu Khai Nguyên bấm chuông, ting tong vang lên, tim tôi cũng đập loạn theo nhịp ấy.
Chẳng mấy chốc cửa mở. Một người phụ nữ trung niên bước ra, chừng bốn mươi, trang điểm đậm, mặc váy dài màu xanh sẫm. Chính là mẹ của Trình Tiểu Trình, Lâm Vạn Như.
Thấy Chu Khai Nguyên, mặt bà thoáng vui. Nhưng khi nhìn sang tôi, sắc mặt lập tức tối sầm. Bà không nói lời nào, xoay người chạy vào trong, chỉ mười mấy giây sau đã xách cây chổi lau nhà lao ra, không kịp hỏi han đã giáng thẳng vào tôi, vừa đánh vừa chửi: “Trần Cửu, cái đồ không cha dạy, mày hại con gái tao thành ra thế này!”
Chu Khai Nguyên vội cản, vừa giải thích: “Dì ơi, xin bớt giận. Biết đâu Trần Cửu có cách cứu Tiểu Trình.”
Bà khựng lại một chút, rồi gào lên: “Tiểu Chu, đừng để nó lừa! Một thằng nhà quê thì cứu cái gì? Bọn lừa đảo bây giờ toàn dân nông thôn cả!”
Nghe mà tôi chỉ muốn tát thẳng vào mặt bà. Mồm mở ra là “nhà quê”, “nông dân”, chẳng lẽ ba đời nhà bà là hoàng tộc chắc? Nhưng nghĩ đến bà là mẹ Tiểu Trình, tôi nhịn. Tôi chỉ muốn gặp được cô ấy, chẳng thèm đôi co. Nhân lúc bà mắng mỏ Chu Khai Nguyên, tôi cúi thấp người lách vào trong.
Căn hộ rộng chừng hai trăm mét vuông, ánh sáng chan hòa từ cửa kính sát trần. Giữa phòng là bộ sofa. Trên đó, một cô gái mặc váy dài màu vàng nhạt, tóc xõa rối, đôi mắt vô hồn dán chặt vào bức tường. Miệng cô lẩm bẩm một chữ: “Cửu… Cửu… Cửu…”
Chỉ một ánh nhìn thôi, mắt tôi cay xè, nước nóng trào ra không kìm được. Tôi lao đến, ôm chầm lấy thân hình ấy, gào lên trong tuyệt vọng: “Tiểu Trình, anh tới rồi đây!”
Cơ thể cô lạnh lẽo, tứ chi cứng đờ. Hơi thở phả ra mang mùi lạ khó chịu. Gương mặt trắng bệch như vôi, hoàn toàn không giống một thiếu nữ tuổi hoa niên.
Cô chẳng hề nghe tiếng tôi, mắt vẫn đờ đẫn nhìn tường. Tôi lay mạnh vai cô, nhưng vẫn vô vọng, như thể cả thế giới ngoài kia chẳng còn liên quan đến cô nữa.
Tôi đang định vén mí mắt cô lên thì lưng chợt đau nhói. Quay lại, thấy Lâm Vạn Như đang vung chổi lau nhà quật xuống, mặt đầy căm hận: “Đồ mất dạy! Không chịu ở quê mà cày ruộng, lại mò lên thị trấn học hành làm gì? Loại như mày dù có đỗ Thanh Hoa hay Bắc Đại thì cũng chỉ đáng cuốc đất! Còn dám yêu con gái tao! Nếu không vì mày, nó đâu thành ra thế này!”
Vừa chửi, bà vừa quật liên tiếp vào đầu tôi. Tôi nổi giận, bế ngang Trình Tiểu Trình, lao thẳng ra cửa. Ở lại đây, tôi chẳng thể làm gì. Tôi chỉ nghĩ mau đưa cô về nhà Quách Béo.
“Cướp! Cưỡng hiếp! Mọi người mau bắt lấy tên cướp này!” Lâm Vạn Như vừa hét vừa phang lia lịa, đánh vào lưng, tay, chân tôi, đau rát từng chỗ.
Sắp đến cửa, tôi hét với Chu Khai Nguyên: “Tôi đưa Tiểu Trình đến nhà Quách Béo. Cậu giữ bà ta lại, đừng để bà ta cản. Có lẽ Tiểu Trình còn cứu được!”
Tôi dám chắc bởi tôi nhận ra tình trạng của cô không hẳn là bệnh tâm thần, mà vướng phải thứ gì đó rất tà dị. Không thể nói rõ, chỉ có thể gọi là linh cảm của một phu khiêng quan tài.
“Được!” Chu Khai Nguyên đáp, cố giữ chặt Lâm Vạn Như: “Dì à, cứ để Trần Cửu thử xem! Bệnh viện lớn nhỏ đều chạy rồi, biết đâu nó chữa được, chúng ta lại có Tiểu Trình như trước, chẳng phải tốt hơn sao?”
Hắn còn nói gì nữa tôi không nghe, bởi đã bế cô vào thang máy. Tôi đặt cô đứng bên cạnh, cô lập tức bám chặt lấy cánh tay tôi, móng tay cắm sâu vào da, miệng vẫn lặp đi lặp lại: “Cửu… Cửu… Cửu…”
Tôi vỗ nhẹ lưng cô, nhìn dung nhan tiều tụy ấy, lòng đau như dao cắt. Một thiếu nữ từng tươi tắn rạng rỡ, giờ hóa ra thế này, và thủ phạm chính là tôi, thằng “bạn trai” bất lực này.
Nghĩ vậy, tôi giáng mạnh một bạt tai vào mặt mình. Bốp! Tiếng giòn tan, má đau rát. Tôi rên thầm: “Mình đã tạo nghiệp gì… Sao mọi chuyện thành ra thế này?”
Tiểu Trình giật mình vì tiếng tát, bấu chặt tay tôi hơn, răng nghiến ken két, giọng run rẩy: “Cửu… Cửu… sợ…”
Tôi nghẹn ngào, ôm chặt đầu cô, vuốt ve mái tóc, khẽ thì thầm: “Đừng sợ, Tiểu Trình! Cửu Nhi ở đây với em! Suốt đời này sẽ không rời xa em nữa! Đừng sợ… Anh sẽ luôn ở bên em! Dù em có điên, có ngốc, anh cũng không bỏ!”
Cái tên Cửu Nhi ấy là biệt danh thời đi học, do chính Tiểu Trình đặt. Cô mê phim “Hồ Lô Huynh Đệ”, còn tên tôi thì quá đơn điệu. Thế là cô gọi tôi là Cửu Nhi, mong một ngày tôi cũng có bản lĩnh như bảy anh em Hồ Lô, cứu cô khỏi khổ đau. Nghe thì trẻ con, nhưng ẩn trong đó là tình cảm ngây ngô của mối tình đầu. Có lẽ chính bởi cái ngây ngô ấy mà tình đầu mới khiến người ta cả đời chẳng thể quên.

Chương 102: Song sinh hoa (phần 7)
Trong thang máy, chúng tôi im lặng một lúc lâu, từ từ hạ xuống tầng trệt. Cả đường, Trình Tiểu Trình nắm chặt tay tôi không buông, đôi mắt vô hồn nhìn thẳng về phía trước, miệng vẫn lẩm bẩm câu kia.
Tôi để mặc cho cô bấu chặt, dắt ra ngoài khu chung cư. Tôi nghĩ đi xe buýt sẽ quá đông, dễ va chạm làm cô kích động, nên định gọi taxi. Nào ngờ, vừa thấy xe, cô liền phát điên, cào cấu, cắn xé tôi.
Bất đắc dĩ, tôi đành dắt cô đi bộ. May mà đêm khuya xe cộ không nhiều. Cả quãng đường, tôi nắm tay cô bước rất chậm, gặp xe chạy qua, tôi lại lấy vải che mắt cô, rồi cõng cô đi.
Đến nhà Quách Béo thì đã hơn 1 giờ sáng. Tôi ấn chuông, chỉ mấy giây sau cửa mở. Quách Béo thoạt tiên sững lại, rồi mặt sa sầm, hỏi: “Con mụ ấy đánh cậu rồi phải không?”
Tôi không đáp, ôm Trình Tiểu Trình đi thẳng vào, chào qua loa bố mẹ nó, rồi hỏi xin một căn phòng ít sáng, sợ ánh sáng mạnh kích thích cô.
Bố mẹ Quách Béo rất nhiệt tình, chẳng hỏi han nhiều, nhanh chóng nhường cho tôi một gian tối hơn hẳn.
Tôi nhờ mẹ Quách Béo giúp Tiểu Trình tắm rửa. Nhưng cô vẫn bấu chặt tay tôi không buông. Bất đắc dĩ, tôi phải đứng ngoài cửa nhà tắm, lấy vải che lại, để cô thò tay nắm lấy tay tôi, còn bên trong thì mẹ Quách Béo tắm rửa cho cô. Giờ nhớ lại, tôi vẫn bật cười ngớ ngẩn. Chuyện tuổi trẻ dù cay đắng, khi hồi tưởng vẫn thấy có chút vị ngọt.
Đêm ấy tôi không ngủ, chỉ ngồi lặng bên giường trông cô, sợ cô gặp ác mộng. Tôi đặt con dao phay ở đầu giường, coi như trấn tà.
Sáng hôm sau, vừa mở mắt, tôi đã hoảng hồn: Trình Tiểu Trình đang quỳ trên giường, đầu liên tục đập vào tường. Tôi vội kéo cô lại.
Vừa chạm vào thân thể, tôi rùng mình, lạnh toát như băng. Nhìn lên mặt, thấy trán cô rớm máu, máu chảy dọc theo giữa chân mày.
“Sao lại thế này? Sao lại thành ra thế này!” Tôi lẩm bẩm, rồi ôm chặt lấy cô. Cô lập tức giật tóc tôi, nhét vào miệng cắn. Đau nhói tận óc. Tôi gào ra ngoài: “Quách Béo, mang dây thừng vào đây!”
Tôi không dám manh động, sợ cô càng điên loạn, chỉ để mặc cô giật tóc. Chừng hai ba phút, tóc tôi bị nhổ đầy đất. Quách Béo xách dây chạy vào, hỏi: “Cửu ca, dây để làm gì?”
“Qua đây giữ chặt, trói cô ấy lại giường. Tôi muốn thử xem có phải cô ấy bị quỷ ám không!” Tôi gắt gỏng. Trong lòng còn canh cánh câu Chu Khai Nguyên kể, chính Quách Béo nói dối rằng tôi đã cưới vợ ở quê, gây ra bao chuyện, nên giọng tôi khó chịu.
“Được rồi!” nó gật đầu. Hai chúng tôi đè cô xuống, dùng dây trói cố định vào đầu giường.
Lạ thay, vừa trói xong, cô lại yên tĩnh hẳn, thần sắc quay về như tối hôm qua. “Giờ làm gì tiếp, Cửu ca?” Quách Béo hỏi.
Tôi nghĩ rồi đáp: “Giờ chưa có cách gì, chỉ thử đốt hương xem sao. Nếu có thứ dơ bẩn bám theo, hương sẽ xuất hiện dị tượng.”
“Hương mà cũng có dị tượng? Nghe tà thế?” nó tròn mắt.
“Có những việc vốn dĩ kỳ dị vậy.” Tôi nói, bảo hắn đi lấy ba nén nhang.
Chẳng mấy chốc nó mang đến. Ở quê thì cắm xuống đất dễ, nhưng trong nhà lát gạch thì khó, tôi bảo hắn lấy quả táo, cắm ba nén nhang vào đó.
Tôi quỳ xuống trước hương án tạm bợ, liên tục khấn: “Không biết là vị thần nào hiển linh, nếu Trình Tiểu Trình có chỗ nào đắc tội, xin báo mộng cho tôi. Chỉ cần Trần Cửu làm được, nhất định sẽ làm theo ý ngài.”
Tôi lặp đi lặp lại hơn ba chục lần. Hương cháy quá hai phần ba, vẫn không có gì lạ. Tôi bắt đầu nghĩ, chẳng lẽ đúng như bác sĩ nói, chỉ vì quá sợ hãi mà hóa điên? Khi nãy cô đập đầu chỉ là phản ứng thường của kẻ loạn trí?
Ý nghĩ vừa lóe lên, thì phụt, ba nén nhang tắt ngúm! Tôi nhìn ra cửa sổ: chuông gió treo kia bất động, không có lấy một làn gió. Sao hương tự dưng tắt?
“Cửu… Cửu ca, có ma!” Quách Béo run rẩy chỉ vào ba nén nhang, lắp bắp.
Tôi trừng mắt: “Đồ heo chết! Đâu ra ma! Ma cái đầu mày!”
Theo sách tang lễ tôi từng học, ma quỷ kỵ nhất là người sống gọi thẳng tên. Như thế dễ xúc phạm, nhẹ thì ốm, nặng thì gặp họa. Tổ tiên đã dặn: Ngày có ba điều kiêng, sáng không nói mộng, trưa không nói giết chóc, tối không nói quỷ thần. Chính là vậy.
Quách Béo chẳng hiểu, ngơ ngác hỏi: “Cửu ca, em làm sai gì à?”
“Nhanh nhổ ba ngụm nước bọt ra cửa sổ!” Tôi quắc mắt.
“Ờ… ờ… ờ…” Nó lắp bắp, vội làm theo. Nhưng kỳ lạ, ngụm cuối không bay ra ngoài, mà bị luồng gió vô hình cuốn ngược, dính lên mặt nó.
Thấy vậy, tôi hét: “Quách Béo, mau quỳ xuống, dập đầu!”
Nó nhìn sắc mặt tôi, cũng đoán ra điều chẳng lành, vội vàng phịch một tiếng quỳ sụp, lia lịa lạy: “Xin chư vị thần linh tha lỗi! Tôi vô ý mạo phạm, xin đừng chấp kẻ ngu dốt này!”
Nói xong, nó còn tự tát liên hồi, bốp bốp vang rền. Tôi nghe mà thấy hả dạ. Không phải vì lòng dạ hiểm độc, mà bởi nó vốn đáng bị dạy cho một bài học, để sau này khiêng quan tài cũng biết giữ mồm miệng.
“Cửu ca, ngài… ngài tha cho tôi rồi chứ?” nó ghé sát, run rẩy hỏi.
Tôi nghiêm giọng: “Chắc là tha rồi. Dù sao mày chỉ lỡ lời, chưa hẳn phạm tội lớn.”
Thật ra, tôi nói có phần dối trá. Ngay khi nước bọt bay ngược vào mặt nó, đã là sự trừng phạt rồi. Nhưng tôi cố ý gạt nó, bởi tôi vẫn ấm ức chuyện nó tung tin bậy bạ khiến Tiểu Trình hóa điên. Không tiện ra tay đánh, thì mượn tay quỷ thần để nó tự tát mình, coi như hả giận.

Chương 103: Song sinh hoa (phần 8)
Nghe tôi nói xong, Quách Béo có vẻ chưa tin hẳn, nhưng vẫn cung kính dập thêm mấy cái đầu trước ba nén hương rồi mới đứng dậy, hỏi: “Cửu ca, giờ hương đã có dị tượng, vậy chuyện của Trình Tiểu Trình tính sao đây?”
Tôi lắc đầu: “Xem ra Tiểu Trình mười phần thì hết tám chín là đã trúng phải sát khí, mà còn là loại cực nặng. Pháp môn bình thường e rằng vô dụng. Giờ chỉ còn cách tìm cho ra thân phận người gặp tai nạn xe đó, rồi tìm tới phần mộ của người ấy, làm một buổi pháp sự, may ra có thể phá được sát.”
Quách Béo ngẩn người, ánh mắt nhìn tôi, gượng cười: “Cửu ca… anh… cũng biết chuyện Tiểu Trình bị tai nạn xe, còn những việc khác… cũng biết hết rồi?”
Tôi xua tay, giọng có phần lạnh lùng: “Chuyện này tao không muốn nhắc lại nữa. Hy vọng sau này mày đừng can thiệp vào chuyện tình cảm của tao. Trong lòng tao tự có chừng mực.”
Quách Béo nhìn tôi một cái, rồi kéo ghế ngồi xuống cạnh, khẽ nói: “Cửu ca, là anh em, có vài lời em thực sự muốn nói rõ. Mẹ của Trình Tiểu Trình vốn không trong sạch, ở vùng này nhiều người biết cả. Bà ta hồi trẻ từng làm ‘Lạc quả’ (tức kỹ nữ), sau này quen bố Tiểu Trình nên mới rút lui, được bao dưỡng. Đến giờ vẫn chỉ là thân phận tiểu tam, chưa bao giờ được cưới hỏi chính thức. Người xưa có câu: ‘Lấy vợ xem mẹ, gả chồng xem cha’. Anh thấy một người mẹ như thế, liệu có thật sự thích hợp với anh không?”
Tôi lạnh giọng: “Sao mày lại biết rõ thế?”
“Lúc anh mới quen Tiểu Trình, em sợ anh thiệt thòi nên hỏi mẹ. Ban đầu bà cũng không rõ, sau nhờ mấy bạn bài trong nhóm mới dò ra được chuyện này. Ban đầu thấy hai người hợp nhau, em giữ kín. Sau khi hai người chia tay, em tính nói, lại sợ anh nghĩ em cố ý bôi nhọ Tiểu Trình. Hôm nay thực sự kìm không nổi mới nói ra.”
Nói đến đây, nó khô miệng, uống một ngụm nước rồi tiếp: “Anh bỏ học, em cũng theo. Không lâu sau Tiểu Trình đến tìm em, hỏi tin tức về anh. Em không muốn hai người còn dây dưa, liền bảo với cô ấy rằng anh đã lấy vợ ở quê.”
Tôi lặng lẽ nhìn nó, mặt trầm xuống. Xưa nay tôi luôn nghĩ Quách Béo là loại ngốc nghếch, chẳng giấu nổi chuyện gì. Giờ mới biết nó hóa ra cũng tinh vi, khiến tôi bất giác nhớ câu thành ngữ: Trương Phi xâu kim, thô mà lại tinh.
“Cửu ca, anh… sẽ không trách em chứ?” Quách Béo hỏi, giọng run run.
Tôi lắc đầu, vỗ vai nó: “Tao biết mày lo cho tao, không trách mày. Chỉ là, chuyện tình cảm không thể giải thích rõ bằng dăm ba câu. Sau này có gì cứ nói thẳng với tai, đừng giấu giếm. Chúng ta là anh em cơ mà.”
“Haha, em biết mà! Cửu ca không phải người nhỏ nhen thế!” Quách Béo cười, vỗ vai tôi một cái. Chẳng may lại trúng ngay chỗ vết răng Tiểu Trình cắn, đau điếng.
Chúng tôi trò chuyện thêm, phần lớn xoay quanh chuyện Tiểu Trình. Nói đến vụ tai nạn xe, Quách Béo sững lại, rồi bảo: “Cửu ca, anh chắc đã gặp mẹ Tiểu Trình rồi? Có để ý không, cô ấy chẳng giống mẹ chút nào, cũng không giống ông bố đại gia kia. Tôi nghi ngờ, Tiểu Trình không phải con ruột, mà là con nuôi.”
Nghe nó nói, tôi cũng ngẫm lại. Quả thật, mẹ Tiểu Trình nhìn mặn mà quyến rũ, đôi mắt đào hoa, gợi cảm giác chẳng phải người đoan chính. Trong khi Tiểu Trình thì trong sáng, thuần khiết, chỉ nhìn đã thấy dễ chịu.
Tôi liếc sang Tiểu Trình đang nằm trên giường, quan sát một lúc rồi hỏi: “Mày từng gặp bố cô ấy chưa?”
“Có!” Quách Béo gật đầu: “Lúc mới học cấp ba, từng gặp một lần. Ông ta là gã mập lùn, nghe nói là đại phú trong huyện, bồ nhí nuôi đến bảy tám người. Mẹ Tiểu Trình chỉ là một trong số đó. Mà khuôn mặt Tiểu Trình với họ khác xa một trời một vực.”
Nghe vậy, lòng tôi dấy lên nghi hoặc. Thông thường, cha mẹ con cái ít nhiều sẽ có nét giống, dù chỉ là mũi, miệng hay dái tai. Thế mà Tiểu Trình hoàn toàn chẳng giống. Biết đâu Quách Béo đoán đúng: cô ấy thực sự không phải con ruột.
Nếu thế, thì khả năng cô ấy có một người chị em song sinh mới càng có lý. Chỉ như vậy mới giải thích được vì sao cô luôn lẩm bẩm “mình chết rồi”.
Nhưng đồng thời, vấn đề càng rắc rối. Dù y học hay đạo gia đều thừa nhận, song sinh có sợi dây liên kết bí ẩn, như “tâm linh tương thông”.
Đạo gia còn nói, song sinh vốn là oan gia từ kiếp trước. Để hóa giải hận thù, trời bắt họ sinh ra cùng mặt mũi. Có cặp giải được, trở thành ruột thịt khắng khít. Có cặp thì hận càng sâu, dẫn đến tình cảnh một chết, một thương.
Nếu rơi vào tình cảnh đó, việc Tiểu Trình có thể hồi phục hay không quả thực là ẩn số. Với thân phận chỉ là phường thợ khiêng quan tài như tôi, đừng nói chiêu giải, e ngay cả cao nhân đạo gia cũng bó tay.
Quách Béo thấy tôi im lặng, liền huých nhẹ, hỏi: “Cửu ca, giờ tính sao? Không thể cứ trói cô ấy mãi. Nếu bà mẹ kia mò tới báo công an, hai ta bị vu là bắt cóc thì nguy to.”
Tôi suy nghĩ một lúc, thấy nó nói có lý. Trói mãi không phải kế. Tôi bảo: “Giờ cần chuẩn bị hai đường. Trước hết phải làm rõ Tiểu Trình có phải con ruột hay không. Nếu đúng, ta tìm đến mộ người tai nạn, làm phép thử phá sát. Nếu không, thì phải tìm cho ra tài xế gây tai nạn, từ đó nghĩ cách.”
Quách Béo ngập ngừng, mấy lần định nói lại thôi, cuối cùng vỗ mạnh đùi cái đét: “Cửu ca, em nghe người già nói, chết vì tai nạn xe là oán tử, sát khí cực nặng. Anh mà dính vào, e nguy hiểm. Theo em thì… thôi đừng quản Tiểu Trình nữa. Cô ấy chỉ là bạn gái cũ, anh đến thăm đã là nhân nghĩa trọn vẹn rồi. Việc này cứ để cha mẹ cô ta lo.”

Chương 104: Song sinh hoa (phần 9)
Tôi nhìn Trình Tiểu Trình trên giường, mặt nặng trĩu, nói: “Cô ấy là bạn gái tao, tao không thể mặc kệ được!”
Nói xong, tôi không để ý đến Quách Béo nữa. Nó vốn có thành kiến với Trình Tiểu Trình, chẳng hiểu cô ấy từng đắc tội gì với nó. Tôi nghĩ chắc liên quan đến mẹ của cô ấy, dù sao cái danh “Lạc quả” nói ra ở đâu cũng khó nghe, làm người ta coi thường.
“Cửu ca.” Quách Béo ngạc nhiên gọi tôi: “Từ bào giờ cô ta thành bạn gái của anh vậy?”
“Ở trường, cô ấy với Chu Khai Nguyên chỉ giả vờ yêu nhau thôi.” Tôi vừa đáp, vừa lật mí mắt Tiểu Trình lên xem.
Nguyên nhãn của cô rất lạ, ngoài một mảng mây đen ở giữa, toàn bộ xung quanh trắng bệch như bụng cá, nhìn ghê rợn. Tôi lại kiểm tra tứ chi, cũng bất thường: gân mạch uốn éo dữ dội, chỗ còn nổi hẳn lên, lại lạnh buốt.
Tôi đứng thẳng dậy, bảo Quách Béo: “Tao đi tìm Chu Khai Nguyên dò la thân thế của cô ấy. Mày ở nhà canh chừng cho kỹ, nếu thấy có gì bất thường thì đốt hương vàng mã ở đầu giường. Nhớ kỹ, mỗi lần chỉ ba nén hương thôi, đốt nhiều sẽ dẫn quỷ vong khác tới tranh giành, chuyện sẽ càng rắc rối.”
Quách Béo đáp: “Được rồi, anh đi đi!”
Nói xong, nó rút điện thoại ra, ngồi chơi, vẻ mặt… chắc đang tán QQ với cô y tá Trương Viện Viện.
Tôi nhắc nó đừng mải mê điện thoại, nhớ để mắt đến Trình Tiểu Trình, rồi ra ngoài. Nhìn phố xá sầm uất của huyện thành, lòng tôi rất khó chịu. Đừng tưởng chỉ là một huyện nhỏ, nơi đây cũng lắm nhà giàu, có mấy người còn đứng top trong cả tỉnh Hồ Nam.
Người ta bảo, nơi nhiều người giàu sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhưng theo tôi, chỗ nào nhiều nhà giàu thì pháp luật lại yếu thế. Đám công tử dựa vào tiền, muốn làm gì thì làm, có khi gây chết người cũng lấy tiền dàn xếp, khiến bao oan hồn không nhắm mắt. Nếu có thể lựa chọn, tôi thà cả đời ở quê, ít ra dân phong thuần hậu, chẳng như ở đây.
Tôi lang thang một lúc rồi tới khu chung cư hôm trước. Rút kinh nghiệm lần rồi, tôi không dại mà tự ý tìm cách vào nữa. Tôi ngồi xổm ngoài cổng, châm điếu thuốc, chờ Chu Khai Nguyên xuất hiện.
Hút liền mấy điếu, vẫn chẳng thấy hắn. Ngược lại, mấy bà cụ đi ngang trông tôi ngồi co ro thì động lòng, dúi cho không ít tiền lẻ: “Chàng trai, khỏe mạnh thế này sao lại đi ăn xin? Lấy ít tiền mua bộ quần áo, kiếm việc làm, đừng ký sinh xã hội. Phải sống sao cho xứng với đất nước này.”
Tôi không từ chối, nhận hết, còn hứa sẽ sớm tìm công việc. Bởi nếu từ chối, chẳng những làm họ buồn lòng mà còn cản họ tích âm đức.
Đợi họ đi rồi, tôi vòng ra tìm một gã ăn mày thật sự khổ sở, đưa hết số tiền cho hắn. Sau đó lại quay về cổng chung cư, tiếp tục chờ. Ngoài cách chết dí ở đó, tôi chẳng có lựa chọn nào khác.
Mãi đến gần bốn giờ chiều, bụng tôi đói réo ùng ục, Chu Khai Nguyên mới từ trong đi ra. Thấy tôi ngồi chồm hổm, hắn ngạc nhiên: “Trần Cửu, cậu không đi cứu Tiểu Trình, lại ngồi chực ở cổng khu bọn tôi làm gì?”
Tôi ngồi lâu, chân tê cứng, đứng dậy suýt ngã, may được hắn đỡ: “Không sao chứ?”
Tôi lắc đầu, vào thẳng chuyện: “Tôi muốn hỏi thăm về thân thế của Trình Tiểu Trình, phải là sự thật. Cậu biết không?”
Nói rồi bụng tôi lại ục ục kêu, cả ngày nhịn ăn nhịn uống chực ở đây, sợ bỏ lỡ hắn.
Chu Khai Nguyên nhìn tôi, rồi nói: “Chuyện thân thế của Tiểu Trình, tôi có biết ít nhiều. Nhưng trông cậu đói lả thế này, ăn đã rồi nói.”
Tôi gật đầu. Hắn định đưa tôi vào nhà hàng hạng sang, tôi sờ túi còn hơn ba trăm tệ, ngượng ngùng cười: “Ra quán bình dân thôi, ăn no là được.”
Có lẽ hắn cũng hiểu, không ép nữa. Hai đứa tìm quán vỉa hè, gọi ba món, không dám gọi nhiều, sợ không đủ tiền trả.
Suốt bữa tôi chỉ cắm cúi ăn, đói cả ngày, dạ dày như rỗng toác, chỉ muốn lấp đầy ngay. Ăn xong, tôi châm điếu thuốc, hỏi hắn có hút không, hắn xua tay. Rồi hắn hỏi: “Cậu muốn biết chuyện gì? Có giúp được bệnh tình của cô ấy không?”
Tôi hít một hơi khói, nhìn hắn. Cơm canh trước mặt hắn còn nguyên, chắc chê quán nghèo nàn. Tôi không để tâm, hỏi: “Trình Tiểu Trình có phải con ruột của bố mẹ cô ấy không?”
Hắn rõ ràng sững lại, không trả lời ngay mà hỏi ngược: “Sao cậu nghĩ vậy?”
“Giờ tôi có hai giả thiết…” Tôi đem những điều đã nói với Quách Béo kể lại.
Nghe xong, hắn trầm ngâm, xin tôi một điếu thuốc, hút liền mấy hơi. Đợi gần hết điếu, hắn mới do dự, rồi trầm giọng: “Cậu đoán không sai. Tiểu Trình thực sự không phải con ruột của dì Lâm. Dì Lâm hồi trẻ quả thật từng là ‘Lạc quả’. Vì sợ ảnh hưởng đến danh tiếng của Tiểu Trình, tôi chưa từng nói ra.”
“Tự bản thân cô ấy có biết không?” Tôi hỏi.
Hắn lắc đầu: “Không biết. Cô ấy luôn đơn thuần như một đứa trẻ. Bên ngoài đồn đãi thế nào cô ấy cũng không bận tâm, vẫn tin dì Lâm dẫu là ‘Lạc quả’ thì cũng có nỗi khổ riêng. Nhưng sự thật rất tàn khốc: hồi trẻ dì Lâm chỉ ham vui nhất thời, sau gặp được bố Tiểu Trình mới chịu an phận, yên ổn làm người tình được bao nuôi.”
“Vậy tại sao Lâm Vạn Như lại nhận nuôi Tiểu Trình? Với tính cách đó đâu dễ gì làm việc tốt?” Tôi thắc mắc.
“Cụ thể tôi không rõ. Nhưng tôi từng nghe mẹ tôi nói, dì Lâm ngày trước vì làm ‘Lạc quả’ nên tổn hại thân thể, dẫn đến vô sinh. Một tiểu tam muốn giữ chân đàn ông, không thể dựa vào sắc vóc mãi, thế là tìm một đứa bé bên ngoài đem về, rồi diễn kịch, nói là con chung với chú Trình. Haizz… tội nghiệp Tiểu Trình, bao năm nay vẫn bị che mắt.”
Nói đến đây, Chu Khai Nguyên thở dài một tiếng.

Chương 105: Song sinh hoa (phần 10)
Nói xong, Chu Khai Nguyên nhìn tôi, hỏi: “Trần Cửu, cậu nói Tiểu Trình thật sự có một người chị song sinh hay em song sinh sao?”
Tôi gật đầu, mặt nặng trĩu: “Xem tình hình thì đúng là song sinh rồi. Hôm xảy ra tai nạn chắc là chị hoặc em của cô ấy. Vấn đề này rắc rối rồi.”
“Sao lại nói vậy?” Hắn khó hiểu hỏi.
“Tình trạng này giống như song sinh hoa, một bông chết, bông còn lại không chết cũng bị thương. Giờ chị hoặc em cô ấy chết rồi, bản thân cô ấy không chết cũng sẽ trọng thương, nếu không khó mà hóa giải được oán hận kiếp trước của song sinh.” Tôi lạnh nhạt nói, trong đầu lật lại hết thảy kiến thức từng học, nhưng vẫn chẳng tìm được cách cứu chính xác.
“Vậy bây giờ phải làm sao?” Hắn tiếp tục hỏi.
“Trước hết phải tìm ra người bị tai nạn kia, tới phần mộ của cô ấy thử xem có cách nào hóa giải oán hận kiếp trước không.” Nói xong, tôi đứng dậy đi thanh toán. Ba món hết hơn 80 tệ, đồ ăn thành phố thật sự đắt chết đi được.
Thanh toán xong, chúng tôi bước ra khỏi quán, trong lòng tôi đầy ngổn ngang. Giữa biển người mênh mông, biết đi đâu tìm được chị em song sinh của Trình Tiểu Trình đây, hoàn toàn chẳng có chút manh mối nào.
Chợt tôi nhớ ra Chu Khai Nguyên từng xem camera giám sát hôm xảy ra tai nạn, biết đâu trong đó có chút dấu vết. Tôi quay sang hỏi hắn: “Cậu có thể cho tôi xem đoạn camera giám sát hôm đó không?”
Hắn ngập ngừng một lát rồi bảo: “Đợi chút, để tôi gọi điện hỏi thử.”
Nói rồi hắn bước sang bên, rút điện thoại gọi cho ai đó. Một lúc sau hắn quay lại, mặt trầm xuống: “Bạn tôi nói đoạn ghi hình gặp trục trặc, cảnh tai nạn bị nhiễu nặng, toàn tuyết trắng, chỉ lờ mờ thấy xe đâm chứ chẳng rõ người.”
Lời hắn khiến tia hy vọng vừa lóe lên trong tôi lập tức tắt ngấm. Giờ thì hoàn toàn mịt mờ rồi. Tôi suy nghĩ một lúc, mới hỏi Chu Khai Nguyên: “Trình Tiểu Trình gặp nạn ở đoạn đường nào? Chúng ta đến đó thử hỏi han, may ra tìm được chút manh mối.”
Hắn gật đầu: “Ở đoạn đường Bắc phố Giải Phóng.”
Chúng tôi bắt một chiếc taxi. Suốt dọc đường ai nấy đều nặng nề, chẳng buồn mở miệng. Chừng hai mươi phút sau, xe dừng tại hiện trường vụ tai nạn.
Xuống xe, tôi quan sát xung quanh, lông mày cau chặt. Con đường này là đường một chiều, xe chạy rất nhanh. Hai bên đều là cửa hàng, chủ yếu bán quần áo. Lạ một điều, nơi người qua lại đông như vậy mà không có đèn tín hiệu, thậm chí vạch qua đường cũng chẳng có. Muốn sang đường chỉ còn cách canh lúc vắng xe mà chạy vội.
“Nơi này đông người vậy, sao lại không có đèn tín hiệu?” Tôi liếc Chu Khai Nguyên, hỏi.
“Hầy!” Hắn thở dài: “Không phải là không lắp, mà chỗ này có chút tà môn. Bộ giao thông từng nhiều lần đến lắp đèn, nhưng mỗi lần dựng lên là xảy ra chuyện: lần thì bị rơi đè gãy chân, lần thì đè gãy tay. Có lần còn kỳ dị hơn, công nhân vừa dựng thang chuẩn bị lắp thì phát hiện túi đồ nghề ngay cạnh mình bỗng dưng biến mất. Phải biết rằng trước đó nó vẫn còn đó. Nháy mắt đã mất hút, như giữa ban ngày gặp quỷ vậy.”
“Không phải có kẻ phá hoại sao?” Tôi nghi hoặc.
Chu Khai Nguyên cười bí hiểm: “Không. Hôm đó chỉ có ba công nhân, hai người kia đứng khá xa. Vậy mà túi đồ nghề cứ thế biến mất. Kỳ lạ hơn là sau này họ xem camera, phát hiện túi đồ xuất hiện tận cách đó một cây số. Từ đó không ai dám tới lắp đèn tín hiệu nữa. Ai cũng nói con đường này có ma.”
Tôi càng thêm khó hiểu. Đã nói là có ma, vậy hai bên đường lẽ ra chẳng ai dám mở hàng quán. Tôi liền hỏi. Hắn đáp: “Kỳ lạ ở chỗ đó. Ngoài lúc lắp đèn thì có chuyện quái dị, còn lại thì bình thường, yên ả. Cậu thấy có lạ không?”
Điều này làm tôi càng nghi hoặc hơn. Vì sao cứ lắp đèn tín hiệu là xảy ra chuyện? Tôi ngẩng đầu nhìn quanh, khí dương ở đây khá mạnh, đâu có ma quỷ nào dám quấy phá. Hơn nữa các công trình công cộng thường có khí “hoàng” che chở, ma quỷ tầm thường không dám bén mảng.
Thấy tôi im lặng, hắn ghé sát lại hỏi nhỏ: “Trần Cửu, nghe cậu nói ở quê có nghề khiêng quan tài, chắc biết mấy thứ huyền môn. Vậy chuyện này giải thích thế nào? Có thật sự là có ma không?”
“Ban ngày ban mặt làm gì có ma, đừng tự dọa mình!” Tôi trừng mắt nhìn hắn, bước lên mấy bước. Trước mặt tôi là một cây cột trơ trọi, hẳn trước kia định gắn đèn tín hiệu vào.
Tôi đưa tay sờ, lạnh toát. Điều này càng kỳ lạ. Dù trời đã về chiều, mặt trời ngả sang tây, cột cũng phải còn chút hơi nóng mới phải. Trong lòng dấy lên nghi hoặc, tôi ngoắc Chu Khai Nguyên, hỏi: “Có phải Trình Tiểu Trình nhìn thấy mình chết ở ngay đây không?”
Hắn ngẫm lại rồi nói: “Tôi thấy trên camera, đúng là ở chỗ cột này. Cái đầu lăn ra cũng từ hướng này.”
Vừa nói, hắn vừa chỉ về phía trái.
Tôi nhìn theo, chính giữa lòng đường, thỉnh thoảng mấy chiếc xe lao vụt qua với tốc độ khiến người ta rùng mình. Ai đó có thể sẽ hỏi: Khu thương mại thì xe sao lại chạy nhanh thế?
Tôi nói thật, ở huyện tôi xe quả là chạy nhanh vậy đó. Người mỗi nơi một tính: Quảng Châu thích ăn uống, Thượng Hải tính toán chi li, Bắc Kinh sĩ diện, còn ở huyện tôi, nói khó nghe thì dân hơi “chảnh”. Xe chạy chậm thì thấy không ngầu, không oai, thế là ai cũng đua nhau phóng nhanh. Lâu dần thành thói quen chung.
“Trần Cửu, cậu phát hiện gì sao?” Chu Khai Nguyên hỏi.
Tôi lắc đầu, không trả lời. Không biết do quen ở nông thôn hay sao mà cứ thấy không khí quanh đây có gì đó khó chịu, như có mùi máu thoang thoảng. Nhưng hít kỹ lại thì chẳng thấy gì.
Chợt tôi sực nhớ, từ đầu đến giờ chúng tôi quên mất một nhân vật quan trọng, tài xế gây ra vụ tai nạn! Tôi vội hỏi Chu Khai Nguyên: “Thế còn lái xe tải hôm đó đâu?”
Hắn đáp: “Đã bỏ trốn rồi. Công an và cảnh sát giao thông tìm suốt nửa tháng, vẫn bặt vô âm tín. Người ta nói hắn như bốc hơi khỏi nhân gian. Trên camera có ghi hắn lái xe chạy về hướng trấn Liễu Dương, nhưng lục tung cả trấn vẫn không tìm thấy.”
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 10 others
Bộ này thuần tâm linh, phong thủy, không phép thuật không tu tiên nên có vẻ ít thím để ý nhỉ
Cũng ngàn 9 view trên này mà. Ở đây thì em thấy vậy là khá rồi.
Reactions: Thợ Sơn
thớt cũ của thím đây à? @hackem01