Nghề khiêng quan tài
Chương 1: Tôi là Bát Tiên
Năm nghìn năm văn minh Trung Hoa, anh hùng hào kiệt như sao trên trời. Từ thời Đông Hán, con người được chia thành ba đẳng cấp: thượng là quý nhân, trung là bách tính, hạ là bần dân. Nghề nghiệp thì được phân thành chín hạng: một quan, hai lại, ba tăng, bốn đạo, năm y, sáu công, bảy thợ, tám kỹ nữ, chín nho sĩ.
Theo cách nhìn của người Đông Hán, tôi cũng không biết bản thân thuộc đẳng cấp nào, bởi tôi chỉ là một nhân vật nhỏ bé, làm công việc mà trong mắt người khác thì cực kỳ thấp hèn.
“Đài quan tượng” ba chữ đơn giản ấy đã nói hết nỗi cay đắng và thê lương của bao người cùng nghề. Mà tôi chính là một trong số ít ỏi thợ khiêng quan tài trong nước.
Tên gọi “Đài quan tượng” là người ngoài đặt cho chúng tôi, còn trong nghề, chúng tôi thích tự gọi mình là “Bát Tiên”, “Bát Đại Kim Cang”; quan tài gọi là “long cữu”, “long quách”. Chỉ có như vậy, chúng tôi mới cảm thấy công việc mình làm là “thần thánh” và không thể thiếu.
Thợ khiêng quan tài, nói cho cùng, chỉ là người khiêng quan tài, không cần học vấn cao siêu gì, chỉ cần có sức lực là được. Nhưng mấu chốt nằm ở hai chữ “khiêng quan”. Đây là một công việc đòi hỏi kỹ thuật. Nếu không biết cách, chỉ một cỗ quan tài cũng có thể đè chết người, hoặc không chết thì cũng tàn phế cả đời. Chưa kể, người chết còn có thể tìm đến làm phiền, thậm chí rước họa sát thân.
Tôi là người Hồ Nam, sinh ngày 19 tháng 3 năm 1987 trong một ngôi làng nghèo. Cha mẹ ít học, nên cái tên đặt cho tôi cũng chẳng hay ho gì, nói ra dễ bị người cười chê. Thế là tôi tự đặt cho mình nghệ danh “Trần Cửu”, nghĩa là “rượu cũ lâu năm”. Người trong nghề thường trêu tôi: “Sao không gọi là Trần Bát, Trần rùa già?”
Người nể mặt thì gọi tôi một tiếng “Cửu ca”, kẻ không coi trọng thì gọi “thằng khiêng quan tài”, còn người có học thì sẽ gọi tôi “Trần Bát Tiên”.
Tôi bắt đầu khiêng quan tài từ năm 18 tuổi, nay đã 28 tuổi, mười năm qua đã đi qua Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu, Hà Nam, Tứ Xuyên…, tổng cộng khiêng hơn ba trăm cỗ quan tài, gồm cả âm quan, dương quan, huyền quan, nhị thứ quan… Có lần còn khiêng cả một cỗ “độn quan” hiếm thấy trăm năm có một, suýt nữa lấy luôn cái mạng tôi.
Câu chuyện phải bắt đầu từ lúc tôi bước chân vào nghề Bát Tiên. Năm đó tôi 18 tuổi, mẹ tôi mắc bệnh nặng, tiêu hết số tiền ít ỏi còn lại trong nhà, hơn ba nghìn tệ. Không còn tiền cho tôi tiếp tục học, tôi đành bỏ dở việc học mà về quê thất nghiệp.
Giống như bao thanh niên bây giờ, tôi cũng từng mơ mộng một ngày nào đó mở công ty, niêm yết cổ phiếu, vượt qua Jack Ma, so kè với Carlos. Nhưng hiện thực tàn khốc cho tôi biết: ở cái ngôi làng heo hút này, muốn mở công ty chẳng khác gì đốt pháo trên máy bay, chỉ là ảo tưởng.
Thấy tôi ở nhà ăn bám mãi cũng không phải cách, cha tôi khắp nơi tìm người dẫn tôi vào Nam, xuống Quảng Châu kiếm sống. Nhưng ai đời xa lạ lại muốn mang theo một thằng nhóc non choẹt? Thế là tôi ở nhà rảnh rỗi suốt ba tháng trời.
Ngày ngày trôi qua, kinh tế gia đình càng lúc càng kiệt quệ, thuốc men cho mẹ cũng sắp không còn tiền mua. Cuối cùng, cha tôi nghiến răng hỏi: “Có muốn đi khiêng quan tài không?” Khi con người đã nghèo đến cùng cực, thì danh dự, đạo đức… đều chẳng còn quan trọng, huống hồ là chuyện khiêng quan. Vì vậy, tôi chẳng nghĩ ngợi gì mà gật đầu đồng ý.
Cha tôi mang theo hơn ba chục quả trứng gà còn lại trong nhà, đưa tôi đến tìm một người hàng xóm tên Lão Vương, nhờ ông dẫn tôi nhập nghề.
Nói về Lão Vương, thực ra cũng có chút họ hàng xa với nhà tôi: ông là chồng của chị gái bà ngoại tôi. Ông khoảng năm mươi tuổi, mặt chữ điền, râu quai nón rậm rạp, mắt trái mù do năm xưa nổ đá. Người ta gọi ông là “Độc Nhãn Long”.
Ở nông thôn, làm tang sự thường nhờ người trong làng khiêng quan. Nhưng khi kinh tế ngày càng phát triển, thanh niên bỏ làng đi làm công xa, trong làng chỉ còn người già, trẻ nhỏ, phụ nữ. Lao động khỏe mạnh chẳng còn bao nhiêu, thế là mới nảy sinh nghề “Bát Tiên”.
Có thêm một thanh niên khỏe mạnh như tôi, dĩ nhiên Lão Vương không từ chối. Cha tôi đưa hơn ba chục quả trứng, ông không lấy, ngược lại còn tặng thêm mấy chục quả, bảo là để cảm ơn cha tôi đã ủng hộ nghề Bát Tiên.
Có những việc dường như đã được định sẵn từ trong số mệnh. Ngày thứ hai sau khi tôi theo Lão Vương, trong làng liền xảy ra một chuyện: khiêng song quan.
Ngày xưa, song quan là đặc quyền của nhà giàu: một người chết, dùng hai cỗ quan tài một lớn một nhỏ. Người chết đặt vào quan tài nhỏ, rồi đặt quan tài nhỏ vào quan tài lớn, gọi là “quan quách”: cái nhỏ gọi quan, cái lớn gọi quách.
Nhưng song quan ở làng tôi lại là vợ chồng cùng nằm chung một cỗ quan tài, khác hoàn toàn với song quan thời cổ.
Đôi vợ chồng ấy vốn là nhà giàu nhất làng. Họ đã chuyển hộ khẩu ra thành phố, nghe nói mở công ty, cụ thể công ty gì thì chẳng ai rõ, chỉ biết họ rất có tiền, có nhà, có xe.
Nguyên nhân cái chết khiến người ta vừa buồn vừa buồn cười. Có người nói vợ phát hiện chồng có bồ nhí, bỏ thuốc chuột vào thức ăn giết chồng rồi tự tử. Có người lại bảo chồng phát hiện vợ ngoại tình, bỏ thuốc chuột hại vợ, sau đó bị tình nhân của vợ giết chết. Chết thế nào, tôi không mấy quan tâm, dẫu sao tư tưởng của người giàu chẳng phải hạng thường dân như tôi có thể đoán được.
Họ chết đi, để lại một ông cụ gần bảy mươi và một đứa trẻ ba tuổi. Muốn cho con cháu “lá rụng về cội”, ông cụ đưa xác họ về quê.
Ông kể sơ qua nguyên do với các bậc trưởng lão trong làng, rồi định chôn cất hai vợ chồng ở đây. Theo lệ quê, người đã chuyển hộ khẩu ra ngoài thì không được chôn trong đất làng. Nhưng nghĩ cảnh “người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh” quá thương tâm, dân làng cũng đồng ý cho chôn, chỉ yêu cầu không được mời đạo sĩ làm lễ siêu độ, sợ phá phong thủy.
Ông cụ dựng tạm linh đường ngoài cổng làng. Vì gấp gáp, chưa kịp mua quan tài, ông bèn tìm một cỗ quan mỏng trong làng, bỏ xác hai vợ chồng vào, rồi nhờ người đào huyệt ở khu đất mộ phía ngoài (làng chỉ cấp cho một khoảnh đất ấy để chôn).
Tiếp đó, ông nhờ trưởng thôn tìm người khiêng quan. Tiền công không hề hà tiện, cao gấp đôi thường lệ, hứa trả 200 tệ. Nhưng trong phạm vi hơn trăm dặm quanh làng, Bát Tiên chỉ chừng hai mươi người. Vừa nghe phải khiêng quan của kẻ chết oan, ai cũng bảo khó khiêng, không dám đi.
Bất đắc dĩ, ông cụ nâng giá lên 500 tệ một người. Quả đúng câu cổ nhân: “Trọng kim chi hạ, tất hữu dũng phu” (có tiền thưởng hậu hĩnh, át có kẻ liều). Người dũng phu ấy chính là Lão Vương, người dẫn tôi nhập nghề.
Cha tôi từng kể: nhà Lão Vương có hai đứa con, một đang học cấp ba, một học đại học. Học phí đều do ông kiếm từ nghề Bát Tiên. Gặp cơ hội thế này, ông làm sao bỏ qua.
Đêm đó, khoảng hơn mười giờ, Lão Vương gõ cửa nhà tôi, nói: "Tiểu Cửu, còn thiếu một người Bát Tiên, cậu có đi không?"
Cha tôi nghe vậy, vội mời ông vào, rót ly nước đường, hỏi: "Lão Vương à, nghe nói đôi vợ chồng ấy chết oan, thằng tiểu Cửu mới vào nghề, liệu có xảy ra chuyện gì không?"
Lão Vương uống một ngụm nước đường, vỗ ngực nói: "Quan tài song thì tôi chưa khiêng, nhưng sợ gì chứ? Ông cứ yên tâm giao tiểu Cửu cho tôi, mai tôi sẽ đưa nó về nguyên vẹn."
Cha tôi nghe vậy mới đồng ý cho tôi đi theo ông khiêng quan. Trước khi xuất phát, cha kéo tôi đến bàn thờ tổ tiên, đốt rất nhiều giấy tiền, rồi dặn dò tới tấp mới để tôi đi.
Chương 2: Long Thừng Đồng Đoạn
Linh đường được dựng ngay ở đầu làng, còn nhà tôi thì ở phía tây làng. Trên đường đi phải men theo vài con đường nhỏ ven ruộng, vừa hẹp vừa lồi lõm. Vì đây là lần đầu tiên tôi khiêng quan tài nên trong lòng căng thẳng lạ thường, mấy lần suýt ngã xuống ruộng, may mà lão Vương kéo tôi lại.
Trên đường đi, lão Vương dặn tôi vài điều cần nhớ khiêng quan tài:
Thứ nhất, không được nhổm người lên trước, phải chờ cả nhóm đồng thanh hô “một, hai, ba” rồi mới được nhấc.
Thứ hai, khi đi đường núi, “long giá” (dàn khiêng quan tài, dân ngoài nghề gọi là “táng giá”) không được rời khỏi vai, nếu không sẽ làm vong hồn phật ý.
Do thời gian gấp, nhiều điều khác ông cũng chưa kịp nói hết cho tôi.
Khi chúng tôi tới linh đường, bên ngoài dựng bằng tấm bạt nhựa xanh, trước cửa treo chữ “奠” (điếu) đen trên nền trắng. Hai bên cửa có đôi câu đối phúng: “Bi thanh nan vãn lưu vân trụ, Khốc âm tương tùy dã hạc phi.”
(Tiếng bi ai chẳng thể níu mây trôi, Âm vang tiếng khóc tiễn hạc bay xa).
Giữa linh đường là một chiếc bàn, trên đặt di ảnh của hai vợ chồng cùng nến, vàng mã. Sau bàn là cỗ quan tài lớn sơn đen, ánh nến soi lên mặt gỗ bóng loáng như phủ sáp.
Tuy tôi từng học “giáo dục cao đẳng”, tin rằng trên đời này không có ma quỷ, nhưng đối diện với chiếc quan tài đen kịt ấy, trong lòng vẫn rờn rợn.
Một ông lão bế đứa nhỏ ngồi khóc trước quan tài. Thấy chúng tôi đến, ông trao cho mỗi người một phong bao đỏ, một gói thuốc Bạch Sa mười tệ, một chiếc khăn tay trắng và một đôi giày mới. Ông nói: “Lão Vương, phiền anh rồi, nhất định phải khiêng chiếc quan tài này cho thật ổn thỏa, để vợ chồng con trai tôi yên lành đi hết đoạn đường cuối cùng.”
Lão Vương cười: “Cứ yên tâm, tôi dẫn đội bát tiên khiêng quan tài hơn mười năm nay, chưa từng xảy ra chuyện gì cả!”
Nghe vậy, ông lão mới thở phào, ngẩng nhìn tôi một cái, vẻ mặt ngạc nhiên, nhưng không nói gì thêm, ôm chặt đứa bé ngồi cạnh quan tài.
Rất nhanh, vài “bát tiên” (người khiêng quan tài) lần lượt đến, đều là quen biết cả. Cộng lại vừa đúng tám người, kể cả tôi. Không khí náo nhiệt khiến nỗi sợ trong tôi vơi đi phần nào.
Mấy bát tiên kia thấy tôi, thái độ rất thân thiện, hỏi han đủ điều, còn truyền lại kinh nghiệm khiêng quan tài, dặn tôi đừng sợ, nói rằng khiêng “long cữu” là việc thiện, ma quỷ thường sẽ không làm hại chúng tôi.
Nghe xong, chút sợ hãi còn sót lại cũng tan biến. Chẳng bao lâu, tôi đã hoà nhập, nói cười rôm rả, không giống tang lễ chút nào, lại giống chợ phiên. Điều khiến tôi lạ là, ông lão kia không ngăn cản, ngược lại liên tục cảm ơn chúng tôi.
Sau này lão Vương mới nói: thấy linh đường quá vắng vẻ, chủ tang thì già yếu lại chỉ có một đứa nhỏ, đáng thương quá, nên mấy bát tiên cố ý “náo tang”, làm cho không khí rộn ràng, để hai vợ chồng người chết được đi trong sự náo nhiệt.
Vì rạng sáng hôm sau, vào đầu giờ Dần (khoảng hơn 3 giờ), quan tài phải được đưa ra khỏi nhà, nên đêm đó chúng tôi không được ngủ, phải thức bên quan tài, gọi là “bầu bạn cùng linh hồn người chết”.
Đầu đêm còn khá dễ chịu, mọi người vừa ăn hạt dưa vừa chuyện trò. Nhưng tới nửa đêm, ai nấy đều thấm mệt, mí mắt tôi nặng trĩu, mấy lần suýt ngủ gật, đều bị lão Vương lay dậy, bắt ngồi hút thuốc cho tỉnh.
Sau quãng chờ đợi dài dằng dặc, cuối cùng cũng tới giờ Dần. Lão Vương là người chủ trì, uy tín nhất trong bát tiên. Vừa sang giờ Mão, ông lấy mấy sợi dây thừng to, dặn chúng tôi mỗi người lấy ít giấy tiền, nhúng nước, đặt vào vị trí vai mình sẽ khiêng.
Tôi được phân công đứng ở đuôi quan tài bên trái. Vừa đứng vào vị trí, đã thấy một con chuột đang gặm phần đáy quan tài. Thấy tôi đến, nó chẳng sợ hãi, còn liếc nhìn tôi đầy linh tính, rồi tiếp tục gặm.
Tôi dậm mạnh chân xuống đất, làm nó bỏ chạy. Tiếng động khiến lão Vương chú ý, ông liếc tôi: “Tiểu Cửu, làm gì thế?”
Tôi đáp: “Có chuột đang gặm quan tài.”
Lão Vương không nói thêm, chỉ giục: “Lót giấy tiền mau đi, kẻo lỡ giờ lành, người chết chẳng yên, Diêm Vương cũng không nhận, đến lúc đó hóa thành cô hồn dã quỷ hại người.”
Nghe ông nói vậy, tôi rùng mình, vội vàng lót giấy tiền xong, rồi buộc khăn trắng vào cánh tay. Một lúc sau, lão Vương lại đến bên tôi, nói: “Tiểu Cửu, các bát tiên đều biết cậu là lính mới, cho cậu khiêng phần đuôi. Xong việc nhớ phát cho họ ít thuốc để cảm ơn.”
Tôi hơi thắc mắc. Theo lý thì khiêng lên núi, trọng lực dồn hết vào phần đuôi, sao lại nói là chiếu cố tôi? Tôi liền thắc mắc.
Lão Vương cười: “‘Khiêng quan tài lên núi, trước phải xoay ba vòng,’ đó là tổ huấn truyền lại. Xoay xong ba vòng, đầu sẽ thành đuôi.”
Trong nghề khiêng quan tài có một quy tắc: đã nhấc lên thì không được đặt xuống đất, cho đến lúc hạ xuống huyệt mới thôi. Mộ phần của làng lại cách xa, nên lão Vương bảo ông lão chuẩn bị sẵn hai chiếc ghế dài để dọc đường bọn tôi nghỉ vai.
Mọi việc chuẩn bị xong, lão Vương liếc tôi, rồi cất tiếng hô dài: “Chuẩn bị… khởi giá!”
Nghe hiệu lệnh, tôi khom lưng, đặt “long giá” lên vai, nhớ kỹ lời dặn: chưa được đứng thẳng, phải đợi khẩu lệnh!
“Một!”
“Hai!”
“Ba, khởi giá!”
Tám người chúng tôi vai kề vai, tay khoác vai nhau làm trụ, đồng loạt dùng sức, chậm rãi nhấc quan tài lên. Tôi chưa từng nghĩ một cỗ quan tài lại nặng đến thế, ép đôi chân tôi run rẩy, suýt không đứng nổi.
Nhưng vì năm trăm đồng, tôi cắn răng chịu đựng, một tay giữ “long giá”, một tay chống lưng, cố gắng giữ cho lưng thẳng.
Lúc ấy đang giữa mùa hè, ánh trăng bạc rải khắp đất trời, soi rõ mặt đường. Chúng tôi không mang theo đèn đuốc, cứ thế khiêng quan tài đi ra khỏi làng. Ông lão mang theo hai chiếc ghế dài lẽo đẽo theo sau, đứa bé chẳng biết vì ngây thơ hay đã khóc cạn nước mắt, dọc đường không còn rơi giọt nào. Nếu không có quan tài kia, người ngoài hẳn chẳng nhận ra đây là một đám tang.
Tưởng rằng chuyến này có thể dễ dàng kiếm năm trăm đồng, nào ngờ ngay dưới chân núi lại xảy ra chuyện bất trắc.
Theo tục lệ tổ tiên, trước khi lên núi phải xoay ba vòng. Tai họa xảy ra đúng ở chỗ này. Hai vòng đầu không có gì, nhưng tới vòng thứ ba, không hiểu sao, quan tài bỗng nặng hẳn như có thêm vật gì đè xuống.
Tôi tưởng chỉ mình cảm thấy thế, ngẩng nhìn lão Vương và mấy người khác, thấy sắc mặt họ tím bầm như gan lợn, rõ ràng cũng đang chịu sức nặng giống tôi.
Bất chợt “Phựt!”, dây long thừng đồng loạt đứt phựt, quan tài rơi xuống đất, phát ra tiếng chát chúa rợn người.
Không biết ai hoảng loạn kêu lên: “Xác sống dậy rồi!!!”
Mấy bát tiên sợ hãi quỳ sụp xuống đất, dập đầu liên hồi trước quan tài.
Còn tôi lúc ấy chẳng biết do sợ đến ngây dại hay thế nào, chỉ thấy đôi chân run bần bật, muốn quỳ theo mà chẳng nhúc nhích được, cứ thế đứng chết lặng ở ngay đuôi quan tài…
Chương 3: Trong Quan Tài Có Người
Mấy giây trôi qua, khung cảnh tĩnh lặng đến rợn người, tựa hồ có thể nghe rõ tiếng kim rơi. Trăng bạc trải dài như dải lụa, ánh sáng lấp loáng phản chiếu trên nắp quan tài, sắc bạc chói lóa đến lạ thường, khiến lòng người thêm lạnh lẽo.
Bất chợt, từ trong quan tài vang lên một chuỗi âm thanh quái dị: “phách…phách…phách…” — giống như có ai đó đang gõ lên nắp gỗ, từng nhịp, từng nhịp, xuyên thấu tim gan.
Cả người tôi run bắn, một luồng khí lạnh buốt từ gót chân dâng thẳng lên đỉnh đầu, khiến tứ chi bủn rủn, đại não trống rỗng, chỉ mong có thể lập tức bỏ chạy. Nhưng tiếng động kia dường như thấu hiểu ý nghĩ của tôi, tiết tấu càng lúc càng dồn dập, như những nhát búa nện thẳng vào trái tim.
Tôi ngẩng đầu nhìn quanh, bát tiên khiêng quan cùng người trong gia chủ đều đã quỳ sát đất, ngoài ra chẳng còn bóng dáng một ai. Thế nhưng, tiếng “phách phách” kia lại vang dội rõ ràng ngay trong tai tôi, không thể nghi ngờ, chính là từ trong quan tài truyền ra.
Tim tôi hẫng một nhịp, trong đầu chỉ thoáng lên một ý nghĩ: Xong rồi… đụng phải quỷ rồi! Toàn thân tôi vã mồ hôi, nỗi sợ hãi cuộn trào tận đáy lòng.
Đúng lúc ấy, lão Vương túm lấy vạt áo tôi, mạnh mẽ kéo sụp xuống đất: "Tiểu Cửu, còn ngây ra làm gì? Quỳ xuống lạy đi!"
Tôi run giọng, lắp bắp từng chữ: "Lão… lão Vương… có… có người… đang gõ… trong quan tài…"
Vừa thốt ra, một luồng gió lạnh lùa thẳng vào miệng, khiến tôi rùng mình, sống lưng lạnh buốt.
Lão Vương nghe xong, mặt biến sắc, ghé tai áp sát quan tài. Chỉ một thoáng sau, lão giật mạnh tôi đứng dậy, gằn giọng: "Không ổn! Trong quan tài còn có người sống! Mau mở nắp cứu người!"
Tôi tròn mắt kinh hãi: "Người sống… sao lại ở trong quan tài được chứ?"
Không buồn giải thích, lão Vương quát sang bát tiên: "Đừng quỳ nữa, mở nắp quan ngay!"
Nghe lệnh, họ vội đứng lên, phủi sạch tro bụi, nhanh chóng xúm lại quanh quan tài. Sau vài lượt hì hục cậy gỗ, nắp quan hé ra một khe hở. Từ bên trong, một bàn tay trắng bệch vươn ra, móng tay còn dính cả mảnh vụn gỗ, khua khoắng trong không khí với vẻ yếu ớt, tuyệt vọng. Liền sau đó, một tiếng kêu thều thào bật ra: "Cứu tôi…!"
Nghe được giọng nói ấy, sợi dây thần kinh trong tôi như được tháo lỏng. Tôi vội hỏi lại nguyên do, lão Vương rít một hơi thuốc thật dài, khói trắng lượn quanh khuôn mặt đầy nếp nhăn rồi chậm rãi nói: "Tiểu Cửu, cậu còn phải học hỏi nhiều, cái này gọi là “chết giả”. Là bát tiên, nhất định phải nhớ rõ, nếu không sẽ mang tội chôn sống người."
Lão còn dặn dò thêm rằng tang lễ vốn có nhiều trình tự phức tạp: tiểu liệm, báo tang, nhập liệm, đình linh, náo tang, thủ linh, đại liệm, phá sát, khai lộ, xuất táng, hạ táng, hồi linh, bước lửa, an linh, viên phần, đầu thất… Nhưng đôi vợ chồng kia chết oan, nghi thức bị giản lược hết, thi thể vừa đưa về làng đã vội nhập quan. Nếu không nhờ kinh nghiệm dày dạn của lão, hẳn người đàn ông kia đã bị chôn sống dưới ba tấc đất.
Sau biến cố ấy, người cha già vui mừng khôn xiết vì con trai thoát chết, tặng thêm cho mỗi bát tiên hai trăm đồng, gọi là “tiền cứu mạng”. Ban đầu lão Vương nhất mực từ chối, nhưng sau bị nài ép mãi cũng đành nhận lấy.
Tiền đã nhận, nghĩa vụ phải trọn. Chúng tôi lại tiễn người cha và người vừa “khởi tử hoàn sinh” trở về. Thằng bé con trai người phụ nữ quá cố thì được giữ lại để đi đưa tang, bởi đó là mẹ nó, tục lệ không thể trái.
Chúng tôi chỉnh lại nắp quan, đốt vàng mã, châm nến hương, rồi trói chắc quan tài lên long giá, gánh thẳng về huyệt mộ. Lạ lùng thay, người chết bớt đi một, quan tài lẽ ra phải nhẹ hơn, nhưng càng khiêng, chúng tôi lại càng thấy nặng trĩu, như có sức nặng vô hình đè xuống vai.
Đêm dần buông, trăng xế về tây, vài con quạ sà trên trời, kêu lên từng tiếng ai oán, rợn buốt mà chói tai. Quan tài đặt xuống huyệt, nỗi áp lực trong không khí càng dồn nén, khiến ngực tôi tức nghẹn.
Lão Vương châm mấy ngọn đuốc, cắm quanh huyệt cho sáng, nhìn đồng hồ rồi bảo: "Còn nửa tiếng nữa mới tới giờ hạ táng, nghỉ tay đi, hút điếu thuốc cho đỡ mệt."
Mỗi người được chuyền cho một điếu, tôi ngồi sát bên lão Vương, buột miệng: "Lão Vương, trong lòng con cứ thấy bất an, sao lạ thế?"
Lão cười ha hả: "Lần đầu khiêng quan ai chả vậy. Sau quen thôi. Nhớ đừng sợ đến nỗi tè ra quần là được!"
Lời lão khiến cả đám bát tiên bật cười, chỉ mình tôi còn thấp thỏm, song cũng nén lại, chẳng dám lộ vẻ yếu lòng.
Lát sau, lão Vương lấy giấy vàng, trà, thóc, muối, lúa mì rắc quanh huyệt, miệng lẩm nhẩm: "Đông Hưng trấn, Ấu Tử thôn, họ Lưu và họ Vương táng tại nơi này. Kính xin chư vị quỷ thần phù hộ, che chở."
Dứt lời, lão chắp tay vái ba cái về hướng đông, rồi bảo chúng tôi tháo khăn tang buộc trên tay. Vừa đúng lúc tôi gỡ khăn xuống, dị biến liền phát sinh.
Thằng bé chỉ tay vào huyệt, hét toáng: "Mẹ ơi! Có quái vật!"
Theo hướng nó chỉ, tôi thấy một hố nhỏ không biết từ bao giờ đã xuất hiện bên trong huyệt. Từ trong đó, từng đàn kiến khổng lồ bò ra, thân dài bằng ngón tay cái, toàn thân xanh biếc, lại phát ra ánh lân quang lạnh lẽo như đom đóm trong đêm. Chúng ào ạt lao thẳng vào chúng tôi.
Đám bát tiên hét lên thất thanh, vứt cả khăn tang bỏ chạy, chen chúc sau lưng lão Vương như thể ông là chỗ dựa cuối cùng.
Mặt lão sầm xuống, quát lớn: "Có mấy con kiến to hơn bình thường thôi, sợ cái nỗi gì? Giết hết cho ta!"
Nhưng tám phu khiêng vẫn run rẩy, chẳng dám tiến lên. Lão Vương tức điên, mắng om sòm: "Chậm trễ giờ lành, coi chừng người chết về tìm các ngươi tính sổ!"
Lời ấy như lời chú phạt, khiến ai nấy rụng rời. Họ vội nhặt lấy cuốc xẻng đào mộ còn vương đất, từng bước tiến về phía huyệt. Tôi cũng cắn răng nhặt lấy một cây cuốc, theo chân họ xông lên.
“Keng! Keng! Keng!” Những nhát cuốc giáng xuống, lửa tóe bốn phía. Thân kiến cứng như sắt thép, cuốc bổ xuống vang dội mà chẳng mấy hiệu quả. Vài kẻ gan dạ liền quét lửa đuốc thẳng vào ổ kiến.
Sau một hồi quần thảo, cuối cùng đàn kiến kỳ quái cũng không chịu nổi, tán loạn bỏ chạy vào bóng đêm.
Ngay lúc tôi còn thở dốc buông cuốc, giọng lão Vương trầm đục vang lên: "Tiểu Cửu, lại đây! Mau nhìn xem, rốt cuộc đây là thứ gì…"
Chương 4: Lục Đinh Lục Giáp
Nghe thấy tưởng có bảo vật gì quý, tôi vội vàng nhảy xuống huyệt mộ. Nhìn kỹ thì thấy lão Vương đang cầm một mảnh giấy gai vàng cỡ bàn tay, phần trên bị cháy xém, bên trên viết vài chữ Hán lệ, tôi chỉ nhận ra được hai chữ, đều là “lục… lục…”.
(Tác giả chú thích: do giới hạn của bộ gõ, không thể nhập chữ lệ thể, chỉ có thể dùng chữ giản thể thay thế.)
Tôi cầm tờ giấy ngắm nghía hồi lâu, trố mắt ra chẳng hiểu gì cả. Xem chất liệu thì đúng là “cổ vật”. Tôi bèn nhíu mày, chỉ hai chữ mình nhận ra cho lão Vương, hỏi xưa kia có thứ gì gọi là “lục gì lục gì” không.
“Lục gì, lục gì!” lão Vương sững người, trầm ngâm một lát rồi vỗ mạnh vào đùi, giọng đầy kích động: “Chẳng lẽ… chẳng lẽ là Lục Đinh Lục Giáp?”
Đám “bát tiên” có mặt đều mù chữ, nhiều nhất cũng chỉ biết vài chữ đơn giản. Lão Vương biết được bốn chữ “đại, thượng, hạ, thiên”, còn học vấn thực sự thì chỉ có mình tôi. Thành thử, lão lại ném câu hỏi sang tôi.
Nghe đến ba chữ Lục Đinh Lục Giáp, đầu óc tôi choáng váng. Hồi còn đi học, tôi mê lịch sử, thần tượng lớn nhất chính là Gia Cát Lượng. Ông chưa ra khỏi lều tranh đã biết thiên hạ ba phần, hỏa thiêu Hồ Lô Cốc, bảy lần bắt Mạnh Hoạch, sáu lần ra Kỳ Sơn, dùng kế “không thành” dọa lui Tư Mã Ý… những điển cố ấy tôi thuộc làu làu.
Trong đó, có một câu của Chu Du và Tư Mã Ý khiến tôi say mê Gia Cát Lượng đến cực điểm: “Khổng Minh là dị nhân, tinh thông yêu pháp Lục Đinh Lục Giáp!”
Chính vì câu nói này mà hồi trung học tôi chẳng còn tâm trí học hành, chỉ muốn tìm bằng được sách cổ Lục Đinh Lục Giáp. Tôi từng lục khắp thư viện lớn nhỏ để tìm manh mối, nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu. Không ngờ lúc này, bản cổ ấy lại nằm ngay trước mắt tôi, cảm giác ấy, người ngoài không thể nào hiểu được.
“Lão Vương, thứ này… có thể cho con được không?” tôi kìm nén sự kích động, cố giữ giọng bình tĩnh.
Đám bát tiên toàn người giang hồ từng trải, sao mà lừa được bọn họ. Lão Vương gật đầu đồng ý, nhưng đặt điều kiện: tôi phải kể cho họ nghe chuyện về Lục Đinh Lục Giáp.
Thấy bọn họ hứng thú, lòng tôi mừng khôn tả. Hồi còn đi học, tôi thường say sưa nói với bạn bè rằng nhất định phải có cuốn cổ thư Lục Đinh Lục Giáp. Nhưng đám “chó con” ấy toàn chế nhạo, bảo đây chỉ là hư cấu của Trần Thọ trong Tam Quốc Chí, kêu tôi đừng “xây máy bay trong lầu đất” viển vông hão huyền.
Vì chuyện này mà tôi xích mích với bạn bè, thậm chí nếu tôi đủ sức đánh cả lớp, chắc chắn đã nện cho bọn chúng một trận. Lên lớp 11, chỉ vì Lục Đinh Lục Giáp mà tôi còn bị cắm sừng, đứa bạn học khác cướp mất bạn gái đã quen hơn một năm. Đúng là tức điên!
Nhìn mấy gương mặt tò mò của bát tiên, tôi suýt bật khóc, bao năm rồi cuối cùng cũng gặp tri kỷ! Tôi rút điếu thuốc, hít vài hơi rồi bắt đầu giảng: “Trong huyền học Trung Hoa, từ xưa đã có thuyết Ngũ thuật: sơn, y, mệnh, bốc, tướng. Mà gốc gác đều bắt nguồn từ Kinh Dịch.
Từ Dịch mà biến hóa ra vô số thư tịch huyền học, nổi danh nhất là Kỳ Môn Độn Giáp, Mai Hoa Dịch Số, Tam Mệnh Thông, Bắc Đẩu Chân Kinh, Thái Ất Thần Số… Còn như Lục Đinh Lục Giáp, nếu không nhờ có Gia Cát Lượng thì e đã sớm thất truyền.”
“Lục Đinh Lục Giáp” trong ngũ thuật mang tính đặc biệt, phạm vi bao quát rộng, môn nào cũng có. Theo tôi, nó nên xếp vào hệ tướng. Mà “tướng” lại chia ra: ấn tướng, danh tướng, nhân tướng, gia tướng, mộ tướng, chữ tướng… Gia Cát Lượng chính là học danh tướng.
Tờ giấy gai trong tay lão Vương thực ra là bản ngoại truyện của Lục Đinh Lục Giáp, chương Táng Kinh, hoàn toàn không liên quan gì đến ngũ thuật.
Đương nhiên, về Lục Đinh Lục Giáp, có nhiều cách hiểu khác:
Có người cho rằng đây là tên chung của Lục Đinh thần và Lục Giáp thần, vốn là bộ tướng của Chân Vũ Đại Đế, sau thường bị đạo sĩ sai khiến.
Có người lại nói đó là một trận pháp, bảo vật trấn sơn của phái Mao Sơn. Tương truyền đạo sĩ Lưu Hỗn Khang thời Tống Huy Tông được cực kỳ trọng đãi, sắc lệnh mở rộng Nguyên Phù Quán thành “Nguyên Phù Vạn Ninh Cung”, còn được ban “Cửu Lão Tiên Đô Quân Ngọc Ấn, Ngọc Kiếm”, đích thân ngự bút chép Lục Giáp Thần Phù tặng ông.
Còn như trong Tam Quốc Chí chép rằng Gia Cát Lượng “tinh thông yêu pháp Lục Đinh Lục Giáp”, các giáo sư cho rằng đó chỉ là tu từ của tác giả, không có chứng cứ lịch sử.
“Thật vậy sao?” lão Vương nhìn tôi dò hỏi.
Thú thật, nếu không có mảnh giấy gai này, tôi cũng chẳng dám chắc. Nhưng lúc này thì khác, tôi quả quyết gật đầu: “Con tin vào phán đoán của mình.”
“Vậy cho cậu!” lão Vương rít một hơi thuốc, ném tờ giấy cho tôi, cười nói: “Dù gì nó cũng là bản tàn, lại viết chuyện tang lễ, chúng tôi thô kệch, mù chữ, giữ cũng vô ích. Cậu còn trẻ, phải học lấy tinh hoa tổ tiên. Mai sau nghề bát tiên này còn phải trông vào lớp trẻ. Bằng không, chúng tôi chết đi, ngay cả người khiêng quan tài cũng chẳng có.”
Tôi nâng niu nhận lấy, cởi áo gói kỹ tờ giấy, đặt nhẹ trên mặt đất, sợ chỉ một vết xước nhỏ cũng hỏng. Đám bát tiên thấy thế cười ầm lên.
“Cười cái gì! Trời sắp sáng rồi, mau hạ huyệt long cữu đi!” lão Vương quát, rồi cùng mọi người khiêng quan tài từ từ chuyển xuống huyệt.
Đến bên huyệt, chúng tôi không thể dùng vai vác mà chỉ có thể chống tay vào phần đuôi long giá. Đây là việc tốn sức nhất, sơ ý là trật khớp ngay.
Tôi gồng sức chống đỡ, gân xanh nổi cuồn cuộn, trông đến đáng sợ. Quả nhiên, kiếm tiền chẳng dễ dàng gì!
Khó khăn lắm mới hạ được quan tài xuống huyệt. Lão Vương bảo chúng tôi quay lưng lại, để thằng bé dâng vàng mã, rồi bốc một nắm đất rải lên nắp quan.
Sau đó, ông giết một con gà trống, bôi máu lên quan tài. Cuối cùng, cả bọn xúc đất lấp lại. Khi nấm mộ đắp xong, trời đã rạng sáng.
Lão Vương cùng mấy bát tiên mệt nhoài, ngồi bệt xuống đất phì phèo thuốc. Tôi thì chẳng rảnh như họ, đặt cuốc xuống, lập tức nhặt tờ giấy gai lên nghiên cứu.
Vừa cúi xuống, một mùi tanh hôi ghê tởm xộc vào mũi, như xác cá mèo chết thối rữa, khiến người buồn nôn.
Ngay sau đó, đầu óc tôi “oong” một tiếng, thân hình ngã vật xuống đất, tứ chi co giật liên hồi, miệng sùi đầy bọt trắng. Tôi muốn kêu cứu, nhưng cổ họng như bị bóp chặt, không thốt ra được một âm nào…
Chương 5: Bị trúng tà
Cảnh tượng này khiến lão Vương và mọi người giật nảy mình. Ông ấy vội ôm chặt tôi vào lòng, mạnh tay véo huyệt nhân trung, miệng gấp gáp gọi: “Tiểu Cửu, cậu làm sao thế? Đừng doạ lão tử chứ!”
“Có khi nào là bị trúng tà không?” có người trong đám Bát Tiên nói.
Nghe vậy, sắc mặt lão Vương bỗng căng thẳng, liền móc ra một mảnh gỗ nam, nện mạnh vài cái vào huyệt Đản trung trên ngực tôi, miệng lẩm bẩm: “Chuyện này quái dị quá, mau khiêng nó về làng, nhờ lão Tú tài đến xem thử!”
Người mà lão Vương nói đến chính là vị Tú tài già trong làng, nổi tiếng là kẻ lười biếng, nhưng cũng là người duy nhất hiểu ít nhiều về mấy chuyện này. Ông ta gần trăm tuổi, thân thể vẫn khỏe mạnh. Hồi còn trẻ một mực muốn tu đạo, không chịu xuống ruộng làm lụng, kết quả đạo không thành, tuổi cưới vợ lại lỡ mất, cả đời độc thân, sống trong cảnh nghèo khổ, cơm áo đều dựa vào dân làng giúp đỡ mà tồn tại.
Cũng may, do đọc nhiều sách nên biết khá rộng, hễ quanh vùng có ai cưới hỏi hay tang lễ đều thích mời ông chọn ngày lành, đôi khi còn nhờ xem phong thủy, nhân dịp đó ông mới được bữa no nê.
Về cái danh “Tú tài”, theo lời ông thì đó là do thời Tuyên Thống nhà Thanh ông từng thi đỗ, chẳng qua vận số bạc, triều đình sụp đổ nên công danh cũng tan theo. Dân làng nghe vậy thì kẻ tin kẻ ngờ, nhưng nể tuổi tác nên ai cũng gọi ông là Tú tài, chẳng buồn tranh luận.
Lão Vương cùng đám Bát Tiên khiêng tôi về đến làng. Cha tôi vừa nhìn thấy tình trạng của tôi thì òa khóc, không dám để mẹ tôi hay tin, vội vã cùng mọi người khiêng thẳng đến cửa nhà lão Tú tài.
Cha tôi vốn hiểu chuyện, chẳng trách móc lão Vương, ngược lại còn an ủi, dặn đừng tự trách, rồi cảm ơn đám Bát Tiên, bảo họ về trước, chỉ giữ lão Vương lại giúp đỡ.
Cửa lớn nhà lão Tú tài đóng kín, bên trong vang lên giọng ê a đọc sách “chi hồ giả dã” quen thuộc. Cha tôi nghe mà nổi giận: con trai đang nguy kịch, lão già này còn có tâm tình đọc sách!
Mặc kệ lão Vương can ngăn, cha tôi tung một cú đá vào cánh cửa đã cũ kỹ. “Rầm” một tiếng, cửa liền vỡ toác ra một lỗ.
Có lẽ động tĩnh quá lớn, bên trong vang lên tiếng lão Tú tài: “Kẻ nào vô lại, ban ngày mà đập cửa như ma thế hả!”
Chẳng bao lâu, ông ta bước ra, vừa thấy cửa nhà bị đá hỏng liền quay vào trong, chưa đầy một phút sau đã xách dao phay chạy ra, giận dữ hét: “Trần Đại Tráng, tiểu tử nhà ngươi, lão phu chọc gì đến ngươi mà dám phá cửa? Hôm nay ta phải chém chết cái tên thô lỗ này mới hả giận!”
Thấy ông cầm dao, cha tôi lập tức xuống nước, quỳ sụp xuống trước mặt ông, nói: “Lão học sĩ, xin ngài cứu lấy thằng tiểu Cửu nhà tôi, nó khiêng quan tài thì sùi bọt mép ngã lăn ra rồi.”
“Ngươi rốt cuộc là đến mời ta, hay là định giết người diệt khẩu?” lão Tú tài vẫn bực bội, nhớ cái vụ cửa bị đá.
Lão Vương vội tiến lên, giằng lấy dao trong tay ông, nói: “Lão học sĩ, ngài bớt giận. Ngài là người có bản lĩnh thật sự, đừng chấp với lão Trần, ông ấy nóng ruột vì thương con mới làm vậy. Ngài xem giúp tiểu Cửu đi, xong việc tôi sẽ sửa cửa, lại biếu ngài mấy vò rượu ngon.”
Nghe vậy, gương mặt căng thẳng của lão Tú tài mới giãn ra, vuốt vuốt chòm râu bạc lơ thơ, cười mỉm: “Chỉ có tiểu tử này biết ăn nói. Được, khiêng nó vào, để lão phu xem thử.”
Cha tôi biết ơn nhìn lão Vương, rồi cùng nhau khiêng tôi vào. Lão Vương kể lại chuyện khiêng quan tài, cả vụ lục Đinh lục Giáp cũng nói hết.
Nghe xong, lão Tú tài gật gù, trầm ngâm một lúc, rồi nổi giận mắng: “Độc Nhãn Long, ngươi muốn hại chết người ta sao? Ngươi khiêng bao nhiêu quan tài rồi mà chút kiến thức cũng không có? Ngươi có biết bát tự người chết không? Có biết tuổi nào xung khắc không? Đúng là vì tiền mà mờ mắt!”
Mắng chưa hả giận, ông ta tiện tay vớ lấy cây gậy quất thẳng vào lão Vương. Lão Vương chẳng giận, “bịch” một tiếng quỳ xuống, vừa khóc vừa nói: “Chôn gấp quá, chưa kịp hỏi ngài, tôi có lỗi với lão Trần, có lỗi với tiểu Cửu!”
Cha tôi vội đỡ lão Vương dậy, lo lắng hỏi lão Tú tài: “Có cách nào cứu thằng nhỏ không?”
Lão Tú tài trừng mắt, ra lệnh: “Chuẩn bị nửa thùng phân trộn với nửa thùng nước tiểu.”
Cha tôi không dám chậm trễ, mau mắn làm theo. Trong nhà lập tức nồng nặc mùi hôi thối. Lão Tú tài lại bảo dội thẳng lên đầu tôi.
Lạ thay, vừa bị thứ đó dội xuống, tôi dần dần tỉnh lại, mơ màng mở mắt. Đập vào mắt đầu tiên là gương mặt hốc hác của lão Vương, rồi đến đôi mắt đỏ hoe sưng húp của cha. Khi ánh mắt chạm nhau, vẻ mặt họ lập tức hóa thành mừng rỡ.
“Nó tỉnh rồi! Tỉnh rồi!”
Đầu óc tôi choáng váng, cơ thể như kiệt sức, ngay cả giơ tay cũng chẳng nổi, yếu ớt hỏi: “Sao… thối thế này?”
Lão Vương định nói gì đó thì bị lão Tú tài ngăn lại: “Độc Nhãn Long, nghiệp do ngươi gây thì chính ngươi phải giải. Mau ra nghĩa địa, đào lại mộ mới chôn, đổ vài thùng phân vào huyệt. Nếu không, người chết còn tiếp tục quấy nhiễu tiểu Cửu.”
“Làm vậy thì mộ coi như hỏng hết, có quá tuyệt tình không?” lão Vương ngập ngừng.
Lão Tú tài trừng mắt: “Đây là cách duy nhất, làm hay không tùy ngươi. Lão phu hết cách rồi.”
Lão Vương có thực sự đổ phân vào huyệt mộ hay không thì tôi không rõ. Chỉ biết đêm đó tôi mơ thấy một người đàn bà mặt mày dữ tợn đòi mạng, trách tôi khiến bà ta chết không yên, sớm muộn tôi cũng sẽ gặp báo ứng.
Ngày hôm sau, cha tôi mang theo hai chai rượu trắng đến cảm tạ lão Tú tài. Lạ một điều là ông từ chối, trong khi bình thường ông ham rượu như mạng. Nghe lão Vương kể lại, ông ta cũng từng đem rượu đến nhưng đều bị từ chối.
Cha tôi tưởng ông chê lễ mọn, liền lấy số tiền bảy trăm đồng tôi khiêng quan tài kiếm được, trừ đi tiền thuốc cho mẹ, còn lại hơn hai trăm đồng, rồi ra chợ mua thêm hai chai rượu “xịn”, thực ra cũng chỉ loại hai chục đồng một chai, nhưng với nhà tôi thì đã là hạng sang.
Nào ngờ, lần này lão Tú tài thậm chí không thèm mở cửa, đuổi cha tôi về. Cha tôi vốn nóng tính, nhưng lại là người trọng ân nghĩa. Ông cho rằng mình nợ lão Tú tài một mạng, nhất quyết phải tạ ơn mới yên tâm. Thế là bắt tôi ngồi chờ trước cửa, dặn phải đưa bằng được hai chai rượu ấy cho lão Tú tài.