Minimalist Forum Reader
Hello các thím, lâu lắm mới lại ngoi lên, em đang dịch bộ truyện mới, các thím nào thích thể loại linh dị, bí ẩn thì vào đọc nhé
Reactions: True love, Vit.hung.han, sjlip and 34 others
Nghề khiêng quan tài
Chương 1: Tôi là Bát Tiên
Năm nghìn năm văn minh Trung Hoa, anh hùng hào kiệt như sao trên trời. Từ thời Đông Hán, con người được chia thành ba đẳng cấp: thượng là quý nhân, trung là bách tính, hạ là bần dân. Nghề nghiệp thì được phân thành chín hạng: một quan, hai lại, ba tăng, bốn đạo, năm y, sáu công, bảy thợ, tám kỹ nữ, chín nho sĩ.
Theo cách nhìn của người Đông Hán, tôi cũng không biết bản thân thuộc đẳng cấp nào, bởi tôi chỉ là một nhân vật nhỏ bé, làm công việc mà trong mắt người khác thì cực kỳ thấp hèn.
“Đài quan tượng” ba chữ đơn giản ấy đã nói hết nỗi cay đắng và thê lương của bao người cùng nghề. Mà tôi chính là một trong số ít ỏi thợ khiêng quan tài trong nước.
Tên gọi “Đài quan tượng” là người ngoài đặt cho chúng tôi, còn trong nghề, chúng tôi thích tự gọi mình là “Bát Tiên”, “Bát Đại Kim Cang”; quan tài gọi là “long cữu”, “long quách”. Chỉ có như vậy, chúng tôi mới cảm thấy công việc mình làm là “thần thánh” và không thể thiếu.
Thợ khiêng quan tài, nói cho cùng, chỉ là người khiêng quan tài, không cần học vấn cao siêu gì, chỉ cần có sức lực là được. Nhưng mấu chốt nằm ở hai chữ “khiêng quan”. Đây là một công việc đòi hỏi kỹ thuật. Nếu không biết cách, chỉ một cỗ quan tài cũng có thể đè chết người, hoặc không chết thì cũng tàn phế cả đời. Chưa kể, người chết còn có thể tìm đến làm phiền, thậm chí rước họa sát thân.
Tôi là người Hồ Nam, sinh ngày 19 tháng 3 năm 1987 trong một ngôi làng nghèo. Cha mẹ ít học, nên cái tên đặt cho tôi cũng chẳng hay ho gì, nói ra dễ bị người cười chê. Thế là tôi tự đặt cho mình nghệ danh “Trần Cửu”, nghĩa là “rượu cũ lâu năm”. Người trong nghề thường trêu tôi: “Sao không gọi là Trần Bát, Trần rùa già?”
Người nể mặt thì gọi tôi một tiếng “Cửu ca”, kẻ không coi trọng thì gọi “thằng khiêng quan tài”, còn người có học thì sẽ gọi tôi “Trần Bát Tiên”.
Tôi bắt đầu khiêng quan tài từ năm 18 tuổi, nay đã 28 tuổi, mười năm qua đã đi qua Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu, Hà Nam, Tứ Xuyên…, tổng cộng khiêng hơn ba trăm cỗ quan tài, gồm cả âm quan, dương quan, huyền quan, nhị thứ quan… Có lần còn khiêng cả một cỗ “độn quan” hiếm thấy trăm năm có một, suýt nữa lấy luôn cái mạng tôi.
Câu chuyện phải bắt đầu từ lúc tôi bước chân vào nghề Bát Tiên. Năm đó tôi 18 tuổi, mẹ tôi mắc bệnh nặng, tiêu hết số tiền ít ỏi còn lại trong nhà, hơn ba nghìn tệ. Không còn tiền cho tôi tiếp tục học, tôi đành bỏ dở việc học mà về quê thất nghiệp.
Giống như bao thanh niên bây giờ, tôi cũng từng mơ mộng một ngày nào đó mở công ty, niêm yết cổ phiếu, vượt qua Jack Ma, so kè với Carlos. Nhưng hiện thực tàn khốc cho tôi biết: ở cái ngôi làng heo hút này, muốn mở công ty chẳng khác gì đốt pháo trên máy bay, chỉ là ảo tưởng.
Thấy tôi ở nhà ăn bám mãi cũng không phải cách, cha tôi khắp nơi tìm người dẫn tôi vào Nam, xuống Quảng Châu kiếm sống. Nhưng ai đời xa lạ lại muốn mang theo một thằng nhóc non choẹt? Thế là tôi ở nhà rảnh rỗi suốt ba tháng trời.
Ngày ngày trôi qua, kinh tế gia đình càng lúc càng kiệt quệ, thuốc men cho mẹ cũng sắp không còn tiền mua. Cuối cùng, cha tôi nghiến răng hỏi: “Có muốn đi khiêng quan tài không?” Khi con người đã nghèo đến cùng cực, thì danh dự, đạo đức… đều chẳng còn quan trọng, huống hồ là chuyện khiêng quan. Vì vậy, tôi chẳng nghĩ ngợi gì mà gật đầu đồng ý.
Cha tôi mang theo hơn ba chục quả trứng gà còn lại trong nhà, đưa tôi đến tìm một người hàng xóm tên Lão Vương, nhờ ông dẫn tôi nhập nghề.
Nói về Lão Vương, thực ra cũng có chút họ hàng xa với nhà tôi: ông là chồng của chị gái bà ngoại tôi. Ông khoảng năm mươi tuổi, mặt chữ điền, râu quai nón rậm rạp, mắt trái mù do năm xưa nổ đá. Người ta gọi ông là “Độc Nhãn Long”.
Ở nông thôn, làm tang sự thường nhờ người trong làng khiêng quan. Nhưng khi kinh tế ngày càng phát triển, thanh niên bỏ làng đi làm công xa, trong làng chỉ còn người già, trẻ nhỏ, phụ nữ. Lao động khỏe mạnh chẳng còn bao nhiêu, thế là mới nảy sinh nghề “Bát Tiên”.
Có thêm một thanh niên khỏe mạnh như tôi, dĩ nhiên Lão Vương không từ chối. Cha tôi đưa hơn ba chục quả trứng, ông không lấy, ngược lại còn tặng thêm mấy chục quả, bảo là để cảm ơn cha tôi đã ủng hộ nghề Bát Tiên.
Có những việc dường như đã được định sẵn từ trong số mệnh. Ngày thứ hai sau khi tôi theo Lão Vương, trong làng liền xảy ra một chuyện: khiêng song quan.
Ngày xưa, song quan là đặc quyền của nhà giàu: một người chết, dùng hai cỗ quan tài một lớn một nhỏ. Người chết đặt vào quan tài nhỏ, rồi đặt quan tài nhỏ vào quan tài lớn, gọi là “quan quách”: cái nhỏ gọi quan, cái lớn gọi quách.
Nhưng song quan ở làng tôi lại là vợ chồng cùng nằm chung một cỗ quan tài, khác hoàn toàn với song quan thời cổ.
Đôi vợ chồng ấy vốn là nhà giàu nhất làng. Họ đã chuyển hộ khẩu ra thành phố, nghe nói mở công ty, cụ thể công ty gì thì chẳng ai rõ, chỉ biết họ rất có tiền, có nhà, có xe.
Nguyên nhân cái chết khiến người ta vừa buồn vừa buồn cười. Có người nói vợ phát hiện chồng có bồ nhí, bỏ thuốc chuột vào thức ăn giết chồng rồi tự tử. Có người lại bảo chồng phát hiện vợ ngoại tình, bỏ thuốc chuột hại vợ, sau đó bị tình nhân của vợ giết chết. Chết thế nào, tôi không mấy quan tâm, dẫu sao tư tưởng của người giàu chẳng phải hạng thường dân như tôi có thể đoán được.
Họ chết đi, để lại một ông cụ gần bảy mươi và một đứa trẻ ba tuổi. Muốn cho con cháu “lá rụng về cội”, ông cụ đưa xác họ về quê.
Ông kể sơ qua nguyên do với các bậc trưởng lão trong làng, rồi định chôn cất hai vợ chồng ở đây. Theo lệ quê, người đã chuyển hộ khẩu ra ngoài thì không được chôn trong đất làng. Nhưng nghĩ cảnh “người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh” quá thương tâm, dân làng cũng đồng ý cho chôn, chỉ yêu cầu không được mời đạo sĩ làm lễ siêu độ, sợ phá phong thủy.
Ông cụ dựng tạm linh đường ngoài cổng làng. Vì gấp gáp, chưa kịp mua quan tài, ông bèn tìm một cỗ quan mỏng trong làng, bỏ xác hai vợ chồng vào, rồi nhờ người đào huyệt ở khu đất mộ phía ngoài (làng chỉ cấp cho một khoảnh đất ấy để chôn).
Tiếp đó, ông nhờ trưởng thôn tìm người khiêng quan. Tiền công không hề hà tiện, cao gấp đôi thường lệ, hứa trả 200 tệ. Nhưng trong phạm vi hơn trăm dặm quanh làng, Bát Tiên chỉ chừng hai mươi người. Vừa nghe phải khiêng quan của kẻ chết oan, ai cũng bảo khó khiêng, không dám đi.
Bất đắc dĩ, ông cụ nâng giá lên 500 tệ một người. Quả đúng câu cổ nhân: “Trọng kim chi hạ, tất hữu dũng phu” (có tiền thưởng hậu hĩnh, át có kẻ liều). Người dũng phu ấy chính là Lão Vương, người dẫn tôi nhập nghề.
Cha tôi từng kể: nhà Lão Vương có hai đứa con, một đang học cấp ba, một học đại học. Học phí đều do ông kiếm từ nghề Bát Tiên. Gặp cơ hội thế này, ông làm sao bỏ qua.
Đêm đó, khoảng hơn mười giờ, Lão Vương gõ cửa nhà tôi, nói: "Tiểu Cửu, còn thiếu một người Bát Tiên, cậu có đi không?"
Cha tôi nghe vậy, vội mời ông vào, rót ly nước đường, hỏi: "Lão Vương à, nghe nói đôi vợ chồng ấy chết oan, thằng tiểu Cửu mới vào nghề, liệu có xảy ra chuyện gì không?"
Lão Vương uống một ngụm nước đường, vỗ ngực nói: "Quan tài song thì tôi chưa khiêng, nhưng sợ gì chứ? Ông cứ yên tâm giao tiểu Cửu cho tôi, mai tôi sẽ đưa nó về nguyên vẹn."
Cha tôi nghe vậy mới đồng ý cho tôi đi theo ông khiêng quan. Trước khi xuất phát, cha kéo tôi đến bàn thờ tổ tiên, đốt rất nhiều giấy tiền, rồi dặn dò tới tấp mới để tôi đi.

Chương 2: Long Thừng Đồng Đoạn
Linh đường được dựng ngay ở đầu làng, còn nhà tôi thì ở phía tây làng. Trên đường đi phải men theo vài con đường nhỏ ven ruộng, vừa hẹp vừa lồi lõm. Vì đây là lần đầu tiên tôi khiêng quan tài nên trong lòng căng thẳng lạ thường, mấy lần suýt ngã xuống ruộng, may mà lão Vương kéo tôi lại.
Trên đường đi, lão Vương dặn tôi vài điều cần nhớ khiêng quan tài:
Thứ nhất, không được nhổm người lên trước, phải chờ cả nhóm đồng thanh hô “một, hai, ba” rồi mới được nhấc.
Thứ hai, khi đi đường núi, “long giá” (dàn khiêng quan tài, dân ngoài nghề gọi là “táng giá”) không được rời khỏi vai, nếu không sẽ làm vong hồn phật ý.
Do thời gian gấp, nhiều điều khác ông cũng chưa kịp nói hết cho tôi.
Khi chúng tôi tới linh đường, bên ngoài dựng bằng tấm bạt nhựa xanh, trước cửa treo chữ “奠” (điếu) đen trên nền trắng. Hai bên cửa có đôi câu đối phúng: “Bi thanh nan vãn lưu vân trụ, Khốc âm tương tùy dã hạc phi.”
(Tiếng bi ai chẳng thể níu mây trôi, Âm vang tiếng khóc tiễn hạc bay xa).
Giữa linh đường là một chiếc bàn, trên đặt di ảnh của hai vợ chồng cùng nến, vàng mã. Sau bàn là cỗ quan tài lớn sơn đen, ánh nến soi lên mặt gỗ bóng loáng như phủ sáp.
Tuy tôi từng học “giáo dục cao đẳng”, tin rằng trên đời này không có ma quỷ, nhưng đối diện với chiếc quan tài đen kịt ấy, trong lòng vẫn rờn rợn.
Một ông lão bế đứa nhỏ ngồi khóc trước quan tài. Thấy chúng tôi đến, ông trao cho mỗi người một phong bao đỏ, một gói thuốc Bạch Sa mười tệ, một chiếc khăn tay trắng và một đôi giày mới. Ông nói: “Lão Vương, phiền anh rồi, nhất định phải khiêng chiếc quan tài này cho thật ổn thỏa, để vợ chồng con trai tôi yên lành đi hết đoạn đường cuối cùng.”
Lão Vương cười: “Cứ yên tâm, tôi dẫn đội bát tiên khiêng quan tài hơn mười năm nay, chưa từng xảy ra chuyện gì cả!”
Nghe vậy, ông lão mới thở phào, ngẩng nhìn tôi một cái, vẻ mặt ngạc nhiên, nhưng không nói gì thêm, ôm chặt đứa bé ngồi cạnh quan tài.
Rất nhanh, vài “bát tiên” (người khiêng quan tài) lần lượt đến, đều là quen biết cả. Cộng lại vừa đúng tám người, kể cả tôi. Không khí náo nhiệt khiến nỗi sợ trong tôi vơi đi phần nào.
Mấy bát tiên kia thấy tôi, thái độ rất thân thiện, hỏi han đủ điều, còn truyền lại kinh nghiệm khiêng quan tài, dặn tôi đừng sợ, nói rằng khiêng “long cữu” là việc thiện, ma quỷ thường sẽ không làm hại chúng tôi.
Nghe xong, chút sợ hãi còn sót lại cũng tan biến. Chẳng bao lâu, tôi đã hoà nhập, nói cười rôm rả, không giống tang lễ chút nào, lại giống chợ phiên. Điều khiến tôi lạ là, ông lão kia không ngăn cản, ngược lại liên tục cảm ơn chúng tôi.
Sau này lão Vương mới nói: thấy linh đường quá vắng vẻ, chủ tang thì già yếu lại chỉ có một đứa nhỏ, đáng thương quá, nên mấy bát tiên cố ý “náo tang”, làm cho không khí rộn ràng, để hai vợ chồng người chết được đi trong sự náo nhiệt.
Vì rạng sáng hôm sau, vào đầu giờ Dần (khoảng hơn 3 giờ), quan tài phải được đưa ra khỏi nhà, nên đêm đó chúng tôi không được ngủ, phải thức bên quan tài, gọi là “bầu bạn cùng linh hồn người chết”.
Đầu đêm còn khá dễ chịu, mọi người vừa ăn hạt dưa vừa chuyện trò. Nhưng tới nửa đêm, ai nấy đều thấm mệt, mí mắt tôi nặng trĩu, mấy lần suýt ngủ gật, đều bị lão Vương lay dậy, bắt ngồi hút thuốc cho tỉnh.
Sau quãng chờ đợi dài dằng dặc, cuối cùng cũng tới giờ Dần. Lão Vương là người chủ trì, uy tín nhất trong bát tiên. Vừa sang giờ Mão, ông lấy mấy sợi dây thừng to, dặn chúng tôi mỗi người lấy ít giấy tiền, nhúng nước, đặt vào vị trí vai mình sẽ khiêng.
Tôi được phân công đứng ở đuôi quan tài bên trái. Vừa đứng vào vị trí, đã thấy một con chuột đang gặm phần đáy quan tài. Thấy tôi đến, nó chẳng sợ hãi, còn liếc nhìn tôi đầy linh tính, rồi tiếp tục gặm.
Tôi dậm mạnh chân xuống đất, làm nó bỏ chạy. Tiếng động khiến lão Vương chú ý, ông liếc tôi: “Tiểu Cửu, làm gì thế?”
Tôi đáp: “Có chuột đang gặm quan tài.”
Lão Vương không nói thêm, chỉ giục: “Lót giấy tiền mau đi, kẻo lỡ giờ lành, người chết chẳng yên, Diêm Vương cũng không nhận, đến lúc đó hóa thành cô hồn dã quỷ hại người.”
Nghe ông nói vậy, tôi rùng mình, vội vàng lót giấy tiền xong, rồi buộc khăn trắng vào cánh tay. Một lúc sau, lão Vương lại đến bên tôi, nói: “Tiểu Cửu, các bát tiên đều biết cậu là lính mới, cho cậu khiêng phần đuôi. Xong việc nhớ phát cho họ ít thuốc để cảm ơn.”
Tôi hơi thắc mắc. Theo lý thì khiêng lên núi, trọng lực dồn hết vào phần đuôi, sao lại nói là chiếu cố tôi? Tôi liền thắc mắc.
Lão Vương cười: “‘Khiêng quan tài lên núi, trước phải xoay ba vòng,’ đó là tổ huấn truyền lại. Xoay xong ba vòng, đầu sẽ thành đuôi.”
Trong nghề khiêng quan tài có một quy tắc: đã nhấc lên thì không được đặt xuống đất, cho đến lúc hạ xuống huyệt mới thôi. Mộ phần của làng lại cách xa, nên lão Vương bảo ông lão chuẩn bị sẵn hai chiếc ghế dài để dọc đường bọn tôi nghỉ vai.
Mọi việc chuẩn bị xong, lão Vương liếc tôi, rồi cất tiếng hô dài: “Chuẩn bị… khởi giá!”
Nghe hiệu lệnh, tôi khom lưng, đặt “long giá” lên vai, nhớ kỹ lời dặn: chưa được đứng thẳng, phải đợi khẩu lệnh!
“Một!”
“Hai!”
“Ba, khởi giá!”
Tám người chúng tôi vai kề vai, tay khoác vai nhau làm trụ, đồng loạt dùng sức, chậm rãi nhấc quan tài lên. Tôi chưa từng nghĩ một cỗ quan tài lại nặng đến thế, ép đôi chân tôi run rẩy, suýt không đứng nổi.
Nhưng vì năm trăm đồng, tôi cắn răng chịu đựng, một tay giữ “long giá”, một tay chống lưng, cố gắng giữ cho lưng thẳng.
Lúc ấy đang giữa mùa hè, ánh trăng bạc rải khắp đất trời, soi rõ mặt đường. Chúng tôi không mang theo đèn đuốc, cứ thế khiêng quan tài đi ra khỏi làng. Ông lão mang theo hai chiếc ghế dài lẽo đẽo theo sau, đứa bé chẳng biết vì ngây thơ hay đã khóc cạn nước mắt, dọc đường không còn rơi giọt nào. Nếu không có quan tài kia, người ngoài hẳn chẳng nhận ra đây là một đám tang.
Tưởng rằng chuyến này có thể dễ dàng kiếm năm trăm đồng, nào ngờ ngay dưới chân núi lại xảy ra chuyện bất trắc.
Theo tục lệ tổ tiên, trước khi lên núi phải xoay ba vòng. Tai họa xảy ra đúng ở chỗ này. Hai vòng đầu không có gì, nhưng tới vòng thứ ba, không hiểu sao, quan tài bỗng nặng hẳn như có thêm vật gì đè xuống.
Tôi tưởng chỉ mình cảm thấy thế, ngẩng nhìn lão Vương và mấy người khác, thấy sắc mặt họ tím bầm như gan lợn, rõ ràng cũng đang chịu sức nặng giống tôi.
Bất chợt “Phựt!”, dây long thừng đồng loạt đứt phựt, quan tài rơi xuống đất, phát ra tiếng chát chúa rợn người.
Không biết ai hoảng loạn kêu lên: “Xác sống dậy rồi!!!”
Mấy bát tiên sợ hãi quỳ sụp xuống đất, dập đầu liên hồi trước quan tài.
Còn tôi lúc ấy chẳng biết do sợ đến ngây dại hay thế nào, chỉ thấy đôi chân run bần bật, muốn quỳ theo mà chẳng nhúc nhích được, cứ thế đứng chết lặng ở ngay đuôi quan tài…

Chương 3: Trong Quan Tài Có Người
Mấy giây trôi qua, khung cảnh tĩnh lặng đến rợn người, tựa hồ có thể nghe rõ tiếng kim rơi. Trăng bạc trải dài như dải lụa, ánh sáng lấp loáng phản chiếu trên nắp quan tài, sắc bạc chói lóa đến lạ thường, khiến lòng người thêm lạnh lẽo.
Bất chợt, từ trong quan tài vang lên một chuỗi âm thanh quái dị: “phách…phách…phách…” — giống như có ai đó đang gõ lên nắp gỗ, từng nhịp, từng nhịp, xuyên thấu tim gan.
Cả người tôi run bắn, một luồng khí lạnh buốt từ gót chân dâng thẳng lên đỉnh đầu, khiến tứ chi bủn rủn, đại não trống rỗng, chỉ mong có thể lập tức bỏ chạy. Nhưng tiếng động kia dường như thấu hiểu ý nghĩ của tôi, tiết tấu càng lúc càng dồn dập, như những nhát búa nện thẳng vào trái tim.
Tôi ngẩng đầu nhìn quanh, bát tiên khiêng quan cùng người trong gia chủ đều đã quỳ sát đất, ngoài ra chẳng còn bóng dáng một ai. Thế nhưng, tiếng “phách phách” kia lại vang dội rõ ràng ngay trong tai tôi, không thể nghi ngờ, chính là từ trong quan tài truyền ra.
Tim tôi hẫng một nhịp, trong đầu chỉ thoáng lên một ý nghĩ: Xong rồi… đụng phải quỷ rồi! Toàn thân tôi vã mồ hôi, nỗi sợ hãi cuộn trào tận đáy lòng.
Đúng lúc ấy, lão Vương túm lấy vạt áo tôi, mạnh mẽ kéo sụp xuống đất: "Tiểu Cửu, còn ngây ra làm gì? Quỳ xuống lạy đi!"
Tôi run giọng, lắp bắp từng chữ: "Lão… lão Vương… có… có người… đang gõ… trong quan tài…"
Vừa thốt ra, một luồng gió lạnh lùa thẳng vào miệng, khiến tôi rùng mình, sống lưng lạnh buốt.
Lão Vương nghe xong, mặt biến sắc, ghé tai áp sát quan tài. Chỉ một thoáng sau, lão giật mạnh tôi đứng dậy, gằn giọng: "Không ổn! Trong quan tài còn có người sống! Mau mở nắp cứu người!"
Tôi tròn mắt kinh hãi: "Người sống… sao lại ở trong quan tài được chứ?"
Không buồn giải thích, lão Vương quát sang bát tiên: "Đừng quỳ nữa, mở nắp quan ngay!"
Nghe lệnh, họ vội đứng lên, phủi sạch tro bụi, nhanh chóng xúm lại quanh quan tài. Sau vài lượt hì hục cậy gỗ, nắp quan hé ra một khe hở. Từ bên trong, một bàn tay trắng bệch vươn ra, móng tay còn dính cả mảnh vụn gỗ, khua khoắng trong không khí với vẻ yếu ớt, tuyệt vọng. Liền sau đó, một tiếng kêu thều thào bật ra: "Cứu tôi…!"
Nghe được giọng nói ấy, sợi dây thần kinh trong tôi như được tháo lỏng. Tôi vội hỏi lại nguyên do, lão Vương rít một hơi thuốc thật dài, khói trắng lượn quanh khuôn mặt đầy nếp nhăn rồi chậm rãi nói: "Tiểu Cửu, cậu còn phải học hỏi nhiều, cái này gọi là “chết giả”. Là bát tiên, nhất định phải nhớ rõ, nếu không sẽ mang tội chôn sống người."
Lão còn dặn dò thêm rằng tang lễ vốn có nhiều trình tự phức tạp: tiểu liệm, báo tang, nhập liệm, đình linh, náo tang, thủ linh, đại liệm, phá sát, khai lộ, xuất táng, hạ táng, hồi linh, bước lửa, an linh, viên phần, đầu thất… Nhưng đôi vợ chồng kia chết oan, nghi thức bị giản lược hết, thi thể vừa đưa về làng đã vội nhập quan. Nếu không nhờ kinh nghiệm dày dạn của lão, hẳn người đàn ông kia đã bị chôn sống dưới ba tấc đất.
Sau biến cố ấy, người cha già vui mừng khôn xiết vì con trai thoát chết, tặng thêm cho mỗi bát tiên hai trăm đồng, gọi là “tiền cứu mạng”. Ban đầu lão Vương nhất mực từ chối, nhưng sau bị nài ép mãi cũng đành nhận lấy.
Tiền đã nhận, nghĩa vụ phải trọn. Chúng tôi lại tiễn người cha và người vừa “khởi tử hoàn sinh” trở về. Thằng bé con trai người phụ nữ quá cố thì được giữ lại để đi đưa tang, bởi đó là mẹ nó, tục lệ không thể trái.
Chúng tôi chỉnh lại nắp quan, đốt vàng mã, châm nến hương, rồi trói chắc quan tài lên long giá, gánh thẳng về huyệt mộ. Lạ lùng thay, người chết bớt đi một, quan tài lẽ ra phải nhẹ hơn, nhưng càng khiêng, chúng tôi lại càng thấy nặng trĩu, như có sức nặng vô hình đè xuống vai.
Đêm dần buông, trăng xế về tây, vài con quạ sà trên trời, kêu lên từng tiếng ai oán, rợn buốt mà chói tai. Quan tài đặt xuống huyệt, nỗi áp lực trong không khí càng dồn nén, khiến ngực tôi tức nghẹn.
Lão Vương châm mấy ngọn đuốc, cắm quanh huyệt cho sáng, nhìn đồng hồ rồi bảo: "Còn nửa tiếng nữa mới tới giờ hạ táng, nghỉ tay đi, hút điếu thuốc cho đỡ mệt."
Mỗi người được chuyền cho một điếu, tôi ngồi sát bên lão Vương, buột miệng: "Lão Vương, trong lòng con cứ thấy bất an, sao lạ thế?"
Lão cười ha hả: "Lần đầu khiêng quan ai chả vậy. Sau quen thôi. Nhớ đừng sợ đến nỗi tè ra quần là được!"
Lời lão khiến cả đám bát tiên bật cười, chỉ mình tôi còn thấp thỏm, song cũng nén lại, chẳng dám lộ vẻ yếu lòng.
Lát sau, lão Vương lấy giấy vàng, trà, thóc, muối, lúa mì rắc quanh huyệt, miệng lẩm nhẩm: "Đông Hưng trấn, Ấu Tử thôn, họ Lưu và họ Vương táng tại nơi này. Kính xin chư vị quỷ thần phù hộ, che chở."
Dứt lời, lão chắp tay vái ba cái về hướng đông, rồi bảo chúng tôi tháo khăn tang buộc trên tay. Vừa đúng lúc tôi gỡ khăn xuống, dị biến liền phát sinh.
Thằng bé chỉ tay vào huyệt, hét toáng: "Mẹ ơi! Có quái vật!"
Theo hướng nó chỉ, tôi thấy một hố nhỏ không biết từ bao giờ đã xuất hiện bên trong huyệt. Từ trong đó, từng đàn kiến khổng lồ bò ra, thân dài bằng ngón tay cái, toàn thân xanh biếc, lại phát ra ánh lân quang lạnh lẽo như đom đóm trong đêm. Chúng ào ạt lao thẳng vào chúng tôi.
Đám bát tiên hét lên thất thanh, vứt cả khăn tang bỏ chạy, chen chúc sau lưng lão Vương như thể ông là chỗ dựa cuối cùng.
Mặt lão sầm xuống, quát lớn: "Có mấy con kiến to hơn bình thường thôi, sợ cái nỗi gì? Giết hết cho ta!"
Nhưng tám phu khiêng vẫn run rẩy, chẳng dám tiến lên. Lão Vương tức điên, mắng om sòm: "Chậm trễ giờ lành, coi chừng người chết về tìm các ngươi tính sổ!"
Lời ấy như lời chú phạt, khiến ai nấy rụng rời. Họ vội nhặt lấy cuốc xẻng đào mộ còn vương đất, từng bước tiến về phía huyệt. Tôi cũng cắn răng nhặt lấy một cây cuốc, theo chân họ xông lên.
“Keng! Keng! Keng!” Những nhát cuốc giáng xuống, lửa tóe bốn phía. Thân kiến cứng như sắt thép, cuốc bổ xuống vang dội mà chẳng mấy hiệu quả. Vài kẻ gan dạ liền quét lửa đuốc thẳng vào ổ kiến.
Sau một hồi quần thảo, cuối cùng đàn kiến kỳ quái cũng không chịu nổi, tán loạn bỏ chạy vào bóng đêm.
Ngay lúc tôi còn thở dốc buông cuốc, giọng lão Vương trầm đục vang lên: "Tiểu Cửu, lại đây! Mau nhìn xem, rốt cuộc đây là thứ gì…"

Chương 4: Lục Đinh Lục Giáp
Nghe thấy tưởng có bảo vật gì quý, tôi vội vàng nhảy xuống huyệt mộ. Nhìn kỹ thì thấy lão Vương đang cầm một mảnh giấy gai vàng cỡ bàn tay, phần trên bị cháy xém, bên trên viết vài chữ Hán lệ, tôi chỉ nhận ra được hai chữ, đều là “lục… lục…”.
(Tác giả chú thích: do giới hạn của bộ gõ, không thể nhập chữ lệ thể, chỉ có thể dùng chữ giản thể thay thế.)
Tôi cầm tờ giấy ngắm nghía hồi lâu, trố mắt ra chẳng hiểu gì cả. Xem chất liệu thì đúng là “cổ vật”. Tôi bèn nhíu mày, chỉ hai chữ mình nhận ra cho lão Vương, hỏi xưa kia có thứ gì gọi là “lục gì lục gì” không.
“Lục gì, lục gì!” lão Vương sững người, trầm ngâm một lát rồi vỗ mạnh vào đùi, giọng đầy kích động: “Chẳng lẽ… chẳng lẽ là Lục Đinh Lục Giáp?”
Đám “bát tiên” có mặt đều mù chữ, nhiều nhất cũng chỉ biết vài chữ đơn giản. Lão Vương biết được bốn chữ “đại, thượng, hạ, thiên”, còn học vấn thực sự thì chỉ có mình tôi. Thành thử, lão lại ném câu hỏi sang tôi.
Nghe đến ba chữ Lục Đinh Lục Giáp, đầu óc tôi choáng váng. Hồi còn đi học, tôi mê lịch sử, thần tượng lớn nhất chính là Gia Cát Lượng. Ông chưa ra khỏi lều tranh đã biết thiên hạ ba phần, hỏa thiêu Hồ Lô Cốc, bảy lần bắt Mạnh Hoạch, sáu lần ra Kỳ Sơn, dùng kế “không thành” dọa lui Tư Mã Ý… những điển cố ấy tôi thuộc làu làu.
Trong đó, có một câu của Chu Du và Tư Mã Ý khiến tôi say mê Gia Cát Lượng đến cực điểm: “Khổng Minh là dị nhân, tinh thông yêu pháp Lục Đinh Lục Giáp!”
Chính vì câu nói này mà hồi trung học tôi chẳng còn tâm trí học hành, chỉ muốn tìm bằng được sách cổ Lục Đinh Lục Giáp. Tôi từng lục khắp thư viện lớn nhỏ để tìm manh mối, nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu. Không ngờ lúc này, bản cổ ấy lại nằm ngay trước mắt tôi, cảm giác ấy, người ngoài không thể nào hiểu được.
“Lão Vương, thứ này… có thể cho con được không?” tôi kìm nén sự kích động, cố giữ giọng bình tĩnh.
Đám bát tiên toàn người giang hồ từng trải, sao mà lừa được bọn họ. Lão Vương gật đầu đồng ý, nhưng đặt điều kiện: tôi phải kể cho họ nghe chuyện về Lục Đinh Lục Giáp.
Thấy bọn họ hứng thú, lòng tôi mừng khôn tả. Hồi còn đi học, tôi thường say sưa nói với bạn bè rằng nhất định phải có cuốn cổ thư Lục Đinh Lục Giáp. Nhưng đám “chó con” ấy toàn chế nhạo, bảo đây chỉ là hư cấu của Trần Thọ trong Tam Quốc Chí, kêu tôi đừng “xây máy bay trong lầu đất” viển vông hão huyền.
Vì chuyện này mà tôi xích mích với bạn bè, thậm chí nếu tôi đủ sức đánh cả lớp, chắc chắn đã nện cho bọn chúng một trận. Lên lớp 11, chỉ vì Lục Đinh Lục Giáp mà tôi còn bị cắm sừng, đứa bạn học khác cướp mất bạn gái đã quen hơn một năm. Đúng là tức điên!
Nhìn mấy gương mặt tò mò của bát tiên, tôi suýt bật khóc, bao năm rồi cuối cùng cũng gặp tri kỷ! Tôi rút điếu thuốc, hít vài hơi rồi bắt đầu giảng: “Trong huyền học Trung Hoa, từ xưa đã có thuyết Ngũ thuật: sơn, y, mệnh, bốc, tướng. Mà gốc gác đều bắt nguồn từ Kinh Dịch.
Từ Dịch mà biến hóa ra vô số thư tịch huyền học, nổi danh nhất là Kỳ Môn Độn Giáp, Mai Hoa Dịch Số, Tam Mệnh Thông, Bắc Đẩu Chân Kinh, Thái Ất Thần Số… Còn như Lục Đinh Lục Giáp, nếu không nhờ có Gia Cát Lượng thì e đã sớm thất truyền.”
“Lục Đinh Lục Giáp” trong ngũ thuật mang tính đặc biệt, phạm vi bao quát rộng, môn nào cũng có. Theo tôi, nó nên xếp vào hệ tướng. Mà “tướng” lại chia ra: ấn tướng, danh tướng, nhân tướng, gia tướng, mộ tướng, chữ tướng… Gia Cát Lượng chính là học danh tướng.
Tờ giấy gai trong tay lão Vương thực ra là bản ngoại truyện của Lục Đinh Lục Giáp, chương Táng Kinh, hoàn toàn không liên quan gì đến ngũ thuật.
Đương nhiên, về Lục Đinh Lục Giáp, có nhiều cách hiểu khác:
Có người cho rằng đây là tên chung của Lục Đinh thần và Lục Giáp thần, vốn là bộ tướng của Chân Vũ Đại Đế, sau thường bị đạo sĩ sai khiến.
Có người lại nói đó là một trận pháp, bảo vật trấn sơn của phái Mao Sơn. Tương truyền đạo sĩ Lưu Hỗn Khang thời Tống Huy Tông được cực kỳ trọng đãi, sắc lệnh mở rộng Nguyên Phù Quán thành “Nguyên Phù Vạn Ninh Cung”, còn được ban “Cửu Lão Tiên Đô Quân Ngọc Ấn, Ngọc Kiếm”, đích thân ngự bút chép Lục Giáp Thần Phù tặng ông.
Còn như trong Tam Quốc Chí chép rằng Gia Cát Lượng “tinh thông yêu pháp Lục Đinh Lục Giáp”, các giáo sư cho rằng đó chỉ là tu từ của tác giả, không có chứng cứ lịch sử.
“Thật vậy sao?” lão Vương nhìn tôi dò hỏi.
Thú thật, nếu không có mảnh giấy gai này, tôi cũng chẳng dám chắc. Nhưng lúc này thì khác, tôi quả quyết gật đầu: “Con tin vào phán đoán của mình.”
“Vậy cho cậu!” lão Vương rít một hơi thuốc, ném tờ giấy cho tôi, cười nói: “Dù gì nó cũng là bản tàn, lại viết chuyện tang lễ, chúng tôi thô kệch, mù chữ, giữ cũng vô ích. Cậu còn trẻ, phải học lấy tinh hoa tổ tiên. Mai sau nghề bát tiên này còn phải trông vào lớp trẻ. Bằng không, chúng tôi chết đi, ngay cả người khiêng quan tài cũng chẳng có.”
Tôi nâng niu nhận lấy, cởi áo gói kỹ tờ giấy, đặt nhẹ trên mặt đất, sợ chỉ một vết xước nhỏ cũng hỏng. Đám bát tiên thấy thế cười ầm lên.
“Cười cái gì! Trời sắp sáng rồi, mau hạ huyệt long cữu đi!” lão Vương quát, rồi cùng mọi người khiêng quan tài từ từ chuyển xuống huyệt.
Đến bên huyệt, chúng tôi không thể dùng vai vác mà chỉ có thể chống tay vào phần đuôi long giá. Đây là việc tốn sức nhất, sơ ý là trật khớp ngay.
Tôi gồng sức chống đỡ, gân xanh nổi cuồn cuộn, trông đến đáng sợ. Quả nhiên, kiếm tiền chẳng dễ dàng gì!
Khó khăn lắm mới hạ được quan tài xuống huyệt. Lão Vương bảo chúng tôi quay lưng lại, để thằng bé dâng vàng mã, rồi bốc một nắm đất rải lên nắp quan.
Sau đó, ông giết một con gà trống, bôi máu lên quan tài. Cuối cùng, cả bọn xúc đất lấp lại. Khi nấm mộ đắp xong, trời đã rạng sáng.
Lão Vương cùng mấy bát tiên mệt nhoài, ngồi bệt xuống đất phì phèo thuốc. Tôi thì chẳng rảnh như họ, đặt cuốc xuống, lập tức nhặt tờ giấy gai lên nghiên cứu.
Vừa cúi xuống, một mùi tanh hôi ghê tởm xộc vào mũi, như xác cá mèo chết thối rữa, khiến người buồn nôn.
Ngay sau đó, đầu óc tôi “oong” một tiếng, thân hình ngã vật xuống đất, tứ chi co giật liên hồi, miệng sùi đầy bọt trắng. Tôi muốn kêu cứu, nhưng cổ họng như bị bóp chặt, không thốt ra được một âm nào…

Chương 5: Bị trúng tà
Cảnh tượng này khiến lão Vương và mọi người giật nảy mình. Ông ấy vội ôm chặt tôi vào lòng, mạnh tay véo huyệt nhân trung, miệng gấp gáp gọi: “Tiểu Cửu, cậu làm sao thế? Đừng doạ lão tử chứ!”
“Có khi nào là bị trúng tà không?” có người trong đám Bát Tiên nói.
Nghe vậy, sắc mặt lão Vương bỗng căng thẳng, liền móc ra một mảnh gỗ nam, nện mạnh vài cái vào huyệt Đản trung trên ngực tôi, miệng lẩm bẩm: “Chuyện này quái dị quá, mau khiêng nó về làng, nhờ lão Tú tài đến xem thử!”
Người mà lão Vương nói đến chính là vị Tú tài già trong làng, nổi tiếng là kẻ lười biếng, nhưng cũng là người duy nhất hiểu ít nhiều về mấy chuyện này. Ông ta gần trăm tuổi, thân thể vẫn khỏe mạnh. Hồi còn trẻ một mực muốn tu đạo, không chịu xuống ruộng làm lụng, kết quả đạo không thành, tuổi cưới vợ lại lỡ mất, cả đời độc thân, sống trong cảnh nghèo khổ, cơm áo đều dựa vào dân làng giúp đỡ mà tồn tại.
Cũng may, do đọc nhiều sách nên biết khá rộng, hễ quanh vùng có ai cưới hỏi hay tang lễ đều thích mời ông chọn ngày lành, đôi khi còn nhờ xem phong thủy, nhân dịp đó ông mới được bữa no nê.
Về cái danh “Tú tài”, theo lời ông thì đó là do thời Tuyên Thống nhà Thanh ông từng thi đỗ, chẳng qua vận số bạc, triều đình sụp đổ nên công danh cũng tan theo. Dân làng nghe vậy thì kẻ tin kẻ ngờ, nhưng nể tuổi tác nên ai cũng gọi ông là Tú tài, chẳng buồn tranh luận.
Lão Vương cùng đám Bát Tiên khiêng tôi về đến làng. Cha tôi vừa nhìn thấy tình trạng của tôi thì òa khóc, không dám để mẹ tôi hay tin, vội vã cùng mọi người khiêng thẳng đến cửa nhà lão Tú tài.
Cha tôi vốn hiểu chuyện, chẳng trách móc lão Vương, ngược lại còn an ủi, dặn đừng tự trách, rồi cảm ơn đám Bát Tiên, bảo họ về trước, chỉ giữ lão Vương lại giúp đỡ.
Cửa lớn nhà lão Tú tài đóng kín, bên trong vang lên giọng ê a đọc sách “chi hồ giả dã” quen thuộc. Cha tôi nghe mà nổi giận: con trai đang nguy kịch, lão già này còn có tâm tình đọc sách!
Mặc kệ lão Vương can ngăn, cha tôi tung một cú đá vào cánh cửa đã cũ kỹ. “Rầm” một tiếng, cửa liền vỡ toác ra một lỗ.
Có lẽ động tĩnh quá lớn, bên trong vang lên tiếng lão Tú tài: “Kẻ nào vô lại, ban ngày mà đập cửa như ma thế hả!”
Chẳng bao lâu, ông ta bước ra, vừa thấy cửa nhà bị đá hỏng liền quay vào trong, chưa đầy một phút sau đã xách dao phay chạy ra, giận dữ hét: “Trần Đại Tráng, tiểu tử nhà ngươi, lão phu chọc gì đến ngươi mà dám phá cửa? Hôm nay ta phải chém chết cái tên thô lỗ này mới hả giận!”
Thấy ông cầm dao, cha tôi lập tức xuống nước, quỳ sụp xuống trước mặt ông, nói: “Lão học sĩ, xin ngài cứu lấy thằng tiểu Cửu nhà tôi, nó khiêng quan tài thì sùi bọt mép ngã lăn ra rồi.”
“Ngươi rốt cuộc là đến mời ta, hay là định giết người diệt khẩu?” lão Tú tài vẫn bực bội, nhớ cái vụ cửa bị đá.
Lão Vương vội tiến lên, giằng lấy dao trong tay ông, nói: “Lão học sĩ, ngài bớt giận. Ngài là người có bản lĩnh thật sự, đừng chấp với lão Trần, ông ấy nóng ruột vì thương con mới làm vậy. Ngài xem giúp tiểu Cửu đi, xong việc tôi sẽ sửa cửa, lại biếu ngài mấy vò rượu ngon.”
Nghe vậy, gương mặt căng thẳng của lão Tú tài mới giãn ra, vuốt vuốt chòm râu bạc lơ thơ, cười mỉm: “Chỉ có tiểu tử này biết ăn nói. Được, khiêng nó vào, để lão phu xem thử.”
Cha tôi biết ơn nhìn lão Vương, rồi cùng nhau khiêng tôi vào. Lão Vương kể lại chuyện khiêng quan tài, cả vụ lục Đinh lục Giáp cũng nói hết.
Nghe xong, lão Tú tài gật gù, trầm ngâm một lúc, rồi nổi giận mắng: “Độc Nhãn Long, ngươi muốn hại chết người ta sao? Ngươi khiêng bao nhiêu quan tài rồi mà chút kiến thức cũng không có? Ngươi có biết bát tự người chết không? Có biết tuổi nào xung khắc không? Đúng là vì tiền mà mờ mắt!”
Mắng chưa hả giận, ông ta tiện tay vớ lấy cây gậy quất thẳng vào lão Vương. Lão Vương chẳng giận, “bịch” một tiếng quỳ xuống, vừa khóc vừa nói: “Chôn gấp quá, chưa kịp hỏi ngài, tôi có lỗi với lão Trần, có lỗi với tiểu Cửu!”
Cha tôi vội đỡ lão Vương dậy, lo lắng hỏi lão Tú tài: “Có cách nào cứu thằng nhỏ không?”
Lão Tú tài trừng mắt, ra lệnh: “Chuẩn bị nửa thùng phân trộn với nửa thùng nước tiểu.”
Cha tôi không dám chậm trễ, mau mắn làm theo. Trong nhà lập tức nồng nặc mùi hôi thối. Lão Tú tài lại bảo dội thẳng lên đầu tôi.
Lạ thay, vừa bị thứ đó dội xuống, tôi dần dần tỉnh lại, mơ màng mở mắt. Đập vào mắt đầu tiên là gương mặt hốc hác của lão Vương, rồi đến đôi mắt đỏ hoe sưng húp của cha. Khi ánh mắt chạm nhau, vẻ mặt họ lập tức hóa thành mừng rỡ.
“Nó tỉnh rồi! Tỉnh rồi!”
Đầu óc tôi choáng váng, cơ thể như kiệt sức, ngay cả giơ tay cũng chẳng nổi, yếu ớt hỏi: “Sao… thối thế này?”
Lão Vương định nói gì đó thì bị lão Tú tài ngăn lại: “Độc Nhãn Long, nghiệp do ngươi gây thì chính ngươi phải giải. Mau ra nghĩa địa, đào lại mộ mới chôn, đổ vài thùng phân vào huyệt. Nếu không, người chết còn tiếp tục quấy nhiễu tiểu Cửu.”
“Làm vậy thì mộ coi như hỏng hết, có quá tuyệt tình không?” lão Vương ngập ngừng.
Lão Tú tài trừng mắt: “Đây là cách duy nhất, làm hay không tùy ngươi. Lão phu hết cách rồi.”
Lão Vương có thực sự đổ phân vào huyệt mộ hay không thì tôi không rõ. Chỉ biết đêm đó tôi mơ thấy một người đàn bà mặt mày dữ tợn đòi mạng, trách tôi khiến bà ta chết không yên, sớm muộn tôi cũng sẽ gặp báo ứng.
Ngày hôm sau, cha tôi mang theo hai chai rượu trắng đến cảm tạ lão Tú tài. Lạ một điều là ông từ chối, trong khi bình thường ông ham rượu như mạng. Nghe lão Vương kể lại, ông ta cũng từng đem rượu đến nhưng đều bị từ chối.
Cha tôi tưởng ông chê lễ mọn, liền lấy số tiền bảy trăm đồng tôi khiêng quan tài kiếm được, trừ đi tiền thuốc cho mẹ, còn lại hơn hai trăm đồng, rồi ra chợ mua thêm hai chai rượu “xịn”, thực ra cũng chỉ loại hai chục đồng một chai, nhưng với nhà tôi thì đã là hạng sang.
Nào ngờ, lần này lão Tú tài thậm chí không thèm mở cửa, đuổi cha tôi về. Cha tôi vốn nóng tính, nhưng lại là người trọng ân nghĩa. Ông cho rằng mình nợ lão Tú tài một mạng, nhất quyết phải tạ ơn mới yên tâm. Thế là bắt tôi ngồi chờ trước cửa, dặn phải đưa bằng được hai chai rượu ấy cho lão Tú tài.
Reactions: True love, Vit.hung.han, brinette and 20 others
Chương 6: Đêm ở nghĩa địa
Năm ngày liền, tôi ngồi chồm hổm nơi cổng nhà lão tú tài, không rời nửa bước. Đến sáng ngày thứ sáu, khi cánh cửa gỗ kẽo kẹt mở ra, tôi vội vàng đứng lên, bước vào nhà. Chưa kịp nói lời nào, tôi đã quỳ sụp xuống. Nói thật lòng, trước kia tôi vốn chẳng mấy coi trọng lão tú tài, nhưng ông đã cứu tôi một mạng, cái lạy này, tôi dâng lên là lẽ đương nhiên.
Lão tú tài vội đưa tay đỡ tôi dậy, ánh mắt thoáng quét qua một lượt rồi trầm giọng nói: " Tiểu Cửu, rượu này ta không thể nhận. Nhận rồi, chẳng khác nào hao tổn dương thọ. Nếu cậu thật lòng muốn cảm tạ, hãy để ta mượn xem tờ giấy hoàng ma kia một chút."
Đừng nói chỉ cho ông xem, dẫu có để ông nghiên cứu suốt cả năm, chỉ cần ông mở miệng, tôi cũng chẳng hề do dự. Tôi lập tức lấy tờ giấy vàng thô nhăn nhúm ấy ra, hai tay cung kính dâng lên.
Lão tú tài cầm lấy, đưa mắt lướt qua, sắc mặt chợt biến đổi. Ông nhanh chóng trả lại cho tôi, khẽ thở dài:" Tiểu Cửu, có được vật này là phúc duyên của cậu. Hãy khéo léo mà sử dụng, tuyệt đối đừng để tang sự nhuốm mùi đồng tiền tục tĩu."
Nghe thế, tôi bàng hoàng nhìn ông. Đây còn là kẻ lười nhác, ươn hèn mà tôi từng biết ư? Vài năm trời, tôi chỉ học được chút ít chữ Hán lệ thể, đủ để đoán chừng nội dung kia liên quan đến việc tang ma. Ấy vậy mà ông chỉ liếc sơ qua đã nhận ra ngay, lại còn khẳng định chắc nịch, tuyệt chẳng phải phỏng đoán.
"Ngài…" tôi lắp bắp, chẳng dám tin vào suy đoán của mình: "Ngài… đọc hiểu được ư?"
"Thế nào? Xem thường lão phu sao?" ông ngửa mặt cười lớn: "Lão phu vốn là tú tài niên hiệu Tuyên Thống. Nếu chẳng phải nhà Thanh sụp đổ quá sớm, e rằng lấy danh cử nhân chẳng tốn bao công sức, thậm chí vớ được trạng nguyên cũng đâu phải chuyện viển vông. Thứ chữ Hán lệ thể này, nào có thể làm khó lão phu!"
Nói rồi, ông liếc tôi một cái, chậm rãi ngâm: "Táng giả thừa sinh khí dã. Sinh khí tức nhất nguyên vận hành chi khí: tại thiên tắc chu lưu lục hư, tại địa tắc phát sinh vạn vật. Thiên vô thử tắc khí vô dĩ tư; địa vô thử tắc vô dĩ tải. Cố bàng bạc hồ đại hóa, quán thông hồ phẩm hội, vô xứ vô chi, nhi vô thời bất vận dã. Phụ mẫu hài cốt, vi tử tôn tư bản; tử tôn hình thể, phụ mẫu chi chi, nhất khí tương ứng, do bản nhi đại chí dã."
Đó chính là đoạn mở đầu trong Lục Đinh Lục Giáp Táng Kinh, luận về "khí". "Khí" ở đây chính là vô cực chi khí trong đạo giáo. Lục hư, tức sáu phương vị: thượng, hạ, đông, nam, tây, bắc, còn gọi là lục vị. Nếu khiến luồng khí ấy tụ hội nơi mộ phần, hậu nhân mới có thể hồng vận quấn thân.
Thực ra, tinh thần của Đạo Đức Kinh cũng chẳng ngoài chữ "khí". Trời đất dung hợp, vạn vật sinh từ một khí. Một sinh hai, hai sinh bốn tượng, bốn tượng hóa tám quẻ. Đạo lý của tổ tông, xoay quanh chữ "khí" ấy mà thôi. Phật gia thì khác, nói đến "vô", thế giới mênh mang, mười phương cõi Phật, vốn có tự thuở sơ nguyên, vô thủy, vô chung. Có lẽ do truyền nhập từ ngoài, nên cách diễn giải đôi phần chẳng giống.
"Ngài quả là thần nhân!" tôi bàng hoàng, nghẹn lời, chỉ thốt được mấy chữ ấy.
Lão tú tài gật gù, hưởng thụ lời tán dương, còn khen tôi là kẻ đáng dạy, hơn hẳn cha tôi nhiều bậc. Nhân lúc ông còn đang vui, tôi vội dúi cho ông một bao thuốc, nhờ ông dịch lại toàn bộ nội dung trên tờ giấy. Ông chẳng từ chối.
Cả ngày hôm ấy, hai thầy trò đóng cửa trong phòng, đến chập choạng tối mới dịch xong, khoảng ba nghìn chữ cả thảy. Trong mười năm hành nghề khiêng quan sau này, bao phen tôi nhờ vào ba nghìn chữ ấy mà thoát chết. Nói chẳng ngoa, nếu không có chúng, mộ phần tôi hẳn đã cỏ mọc xanh rì. Với tôi, từng chữ đều đáng giá ngàn vàng.
Khi tôi đứng dậy cáo từ, lão tú tài bỗng gọi giật lại: "Cửu Nhã tử, đêm nay là thất thất của cô gái kia. Cậu phải đến nghĩa địa qua đêm. Chỉ khi vượt qua cửa ải này, mới thật sự thích ứng với nghề khiêng quan."
Tôi hỏi nguyên do, ông chỉ lắc đầu: "Nói ra thì mất linh. Cứ mang theo nến sáp, vàng mã, canh mộ một đêm là được."
Thú thật, trong lòng tôi vẫn có một nỗi sợ mơ hồ đối với nghĩa địa. Không rõ vì sao, chỉ cảm thấy nơi ấy chắc chắn sẽ xảy ra chuyện chẳng lành. Nhưng lời lão tú tài, tôi tin như tín điều.
Tôi liền cáo biệt, kín đáo dúi cho ông trăm đồng, nói là tiền riêng, chẳng dính dáng gì đến việc khiêng quan, ông mới chịu nhận. Lúc ấy, tôi lờ mờ hiểu vì sao ông kiên quyết từ chối rượu trắng. E rằng ông lo sợ oán hồn của cô gái kia báo phục, bởi chính ông là người bày mưu.
Về đến nhà, tôi vội vã ăn vài miếng cơm, rồi báo với cha tối nay phải ra nghĩa địa ngủ lại. Cha không yên tâm, muốn đi cùng, tôi kiên quyết từ chối. Hai cha con suýt nữa to tiếng, cuối cùng tôi đem lời lão tú tài ra, thêm mắm dặm muối, cha mới miễn cưỡng đồng ý.
Khoảng mười giờ đêm, tôi có mặt ở nghĩa địa. Trước tiên, tôi đốt vàng mã và cắm nhang trước từng ngôi mộ. Đến mộ cô gái kia, tôi đốt liền bảy tám cân giấy tiền, lại hóa hết nến sáp và vàng bạc giấy mang theo, vừa đốt vừa lẩm bẩm: "Tiểu tử tuổi còn non dại, nếu có chỗ nào thất lễ, xin cô nương rộng lòng tha thứ."
Ban đầu, mọi chuyện chẳng có gì lạ. Nhưng đến giờ Tý, chẳng hiểu sao giấy vàng lại không bắt lửa, ngay cả nến vừa cháy rực cũng tắt ngấm. Nhang càng kỳ quái, cùng được châm một lúc mà cây dài cháy chậm hơn cây ngắn, cao hơn hẳn một tấc.
Tôi đành lấy bật lửa ra châm lại, nào ngờ chúng như cố tình chống đối, vừa bén lửa, chưa đầy mấy giây liền vụt tắt. Lúc ấy, tim tôi đã bắt đầu run sợ.
Đúng lúc ấy, phía sau vang lên tiếng gọi âm u, lạnh lẽo: "Tiểu Cửu… tiểu Cửu…"
Da đầu tôi tê dại, lông tóc dựng ngược, toàn thân nổi da gà. Tôi hít sâu một hơi, gắng gượng lấy lại bình tĩnh, chậm rãi ngoái đầu nhìn.
Sau lưng, chẳng có ai. Không người, không quỷ, không vật gì cả. Chỉ có màn đêm đen đặc, sâu thẳm như vực thẳm không đáy, dường như nuốt chửng cả bầu trời. Tôi thoáng rùng mình, mới ban nãy còn ánh trăng, sao giờ lại tối tăm đến vậy?
Tôi vội lia bật lửa: một lần, hai lần, ba lần… liên tiếp mấy lượt, nhưng chẳng bật nổi lấy một tia lửa. Giữa nghĩa địa hoang vắng, chỉ còn vang vọng tiếng xẹt xẹt khô khốc cùng nhịp thở gấp gáp của chính mình.
" Tiểu Cửu... Tiểu Cửu…"
Tiếng gọi ma quái lại vọng lên, rờn rợn hơn lần trước. Tôi giật phắt đầu lại, vẫn chẳng thấy gì. Thế nhưng lần này, rõ ràng có một cảm giác quái dị bao trùm: trong bóng tối kia, có thứ gì đó đang chăm chú nhìn mình. Gáy tôi lạnh buốt, mồ hôi túa ra như tắm…

Chương 7: Oan Hồn
Đột nhiên, tiếng gọi âm u kia vang lên mỗi lúc một lớn, chói gắt như kim đâm thẳng vào màng nhĩ, khiến đầu óc tôi choáng váng, tưởng chừng như màng tai sắp rách toạc. Trong thoáng chốc, tôi không biết mình đã ngất đi hay chỉ là ảo giác, nhưng bên tai lại văng vẳng một cuộc đối thoại mơ hồ giữa nam và nữ.
Nữ: “Anh từng thề sẽ yêu em trọn đời trọn kiếp!”
Nam: “Đương nhiên! Em là bảo bối cả đời của anh!”
Nữ: “Thế tại sao anh lại ly hôn với em? Anh đã hứa sẽ chăm sóc em cả đời, chẳng lẽ anh quên rồi sao? Con chúng ta cũng đã lớn thế này…”
Nam: “Ly hôn chỉ là kế tạm thời thôi. Nếu anh không ly hôn, ả đàn bà kia sẽ thuê người lấy mạng anh. Cô ta đã cho người theo dõi em, còn dọa rằng một khi tìm được em và con thì sẽ không tha cho hai mẹ con đâu. Em biết mà, ả ta chuyện gì cũng dám làm… Vợ ơi, anh xin em, chúng ta đành ly hôn thôi!”
Nữ: “Thế nghĩa là… chúng ta chỉ còn con đường ly hôn?”
Nam: “Xin em hãy tin anh! Anh vẫn yêu em. Nhưng nếu không ly hôn, tính mạng của mẹ con em sẽ không còn được bảo toàn.”
Nữ: “Mất anh rồi, mẹ con em sống còn ý nghĩa gì? Nếu thật sự yêu em, anh có dám cùng chúng em đi xuống suối vàng không?”
Nam: “Được! Nếu ba chúng ta không thể sum họp nơi dương thế, thì hãy đoàn tụ nơi âm gian.”
Nữ: “Trong mâm cơm này, em đã bỏ ba lọ thuốc ngủ. Ăn xong bữa cơm cuối cùng, cả nhà ta sẽ đoàn viên nơi cửu tuyền. Chồng à, em yêu anh! Con à, mẹ yêu con!”
Nam: “Em ăn trước đi. Anh sẽ đưa con theo sau…”
Nữ: “Được, em chờ hai cha con ở dưới kia…”
Sau cùng là một tiếng ngã vật nặng nề, kế đó là tiếng khóc xé lòng của một đứa bé trai.
Tiếng vang vừa tan biến, tôi dần tỉnh lại. Mở mắt nhìn quanh, vẫn là nghĩa địa ấy, vẫn vầng trăng kia… lẽ nào tất cả chỉ là ảo giác? Nhưng nghe được cuộc đối thoại quỷ dị đến thế ở chốn mộ phần, trong lòng tôi vẫn run rẩy. Trước mắt, những nén nhang cắm trên mộ như biến thành đôi mắt lạ lùng, chớp mở nhìn tôi, khiến tôi chỉ muốn rời khỏi nơi này ngay lập tức.
Một luồng gió lạnh đột ngột nổi lên từ phần mộ, quét thẳng vào mặt, tôi toan bỏ chạy, nhưng chân lại nặng như bị xiềng xích trói chặt, không sao nhấc nổi. Hoảng sợ cực độ, tôi gào khản cổ mong tự trấn tĩnh, nhưng tiếng gào ấy trong nghĩa địa tịch mịch chẳng khơi dậy một tiếng vọng nào.
Cơn gió càng lúc càng gần. Tôi run lẩy bẩy, tim muốn vỡ tung trong lồng ngực. Bất chợt, cổ tôi như bị đôi tay vô hình siết chặt, càng lúc càng mạnh, đến nỗi hơi thở bị cắt đứt.
Trời đỏ rực. Đất đỏ rực. Trăng đỏ rực. Ngôi mộ, những nén nhang, vàng mã, tất cả quanh tôi đều nhuộm một màu đỏ máu. Cả thế giới như chìm trong biển huyết vô biên, dày đặc đến mức lấp cả mắt, chặn cả hơi thở.
Trong bóng tối, vạn vật lặng im đến đáng sợ. Sự ngột ngạt khiến tôi sắp hóa điên. Trong tuyệt vọng, tôi nhắm mắt, mò lấy chiếc chìa khóa đeo bên người, liều lĩnh cắm mạnh vào đùi mình.
Một nhát, hai nhát, ba nhát… liên tiếp bảy tám lần. Cơn đau xé thịt khiến đầu óc bừng tỉnh. Tôi mở bừng mắt, cảnh tượng trước mặt vẫn là màu đỏ đáng sợ ấy, song phía sau, cách tôi một trượng, lại có một con chuột to bằng con mèo nằm rình, đôi mắt sáng lên ánh xanh u ám, chăm chăm nhìn tôi.
Thần kinh căng cứng bấy lâu bỗng chùng xuống, hai chân mềm nhũn, tôi ngồi phịch xuống đất, thở hồng hộc như kẻ chết đuối vừa thoát nạn. Trong đầu chỉ quanh quẩn những lời đối thoại vừa nghe, chẳng lẽ chính là chuyện của đôi vợ chồng trong làng? Người đàn ông ấy đã dối gạt người đàn bà, hắn không hề ăn hết chỗ cơm thuốc, hoặc giả chỉ ăn một chút thôi… Bằng không, sao hắn có thể sống lại trong quan tài? Hơn thế, đứa con trai của họ vẫn còn sống sờ sờ kia kìa!
Nếu vậy, thì chính tôi đã vô tình cứu sống kẻ thù của người đàn bà ấy. Cô ta oán hận, tìm tôi báo mạng cũng phải thôi. Chẳng trách lão tú tài lúc trước căn dặn “không thể nói, nói ra sẽ mất linh”… có lẽ ông ấy biết rõ nguyên do.
Nghĩ đến đây, tôi quỳ xuống trước phần mộ của người phụ nữ, dập đầu mấy cái thật mạnh. Không phải để cầu xin cô ta tha mạng, mà chỉ vì lòng cảm thấy áy náy. Áy náy vì điều gì, tôi chẳng rõ, chỉ biết rằng, có lẽ là vì đã phá đi phần an nghỉ cuối cùng của một kẻ đáng thương.
Khấn vái xong, tôi cẩn thận tu sửa lại ngôi mộ, thầm hứa: suốt quãng đời còn sống, mỗi độ Thanh minh, tôi sẽ đến đây thắp hương cho cô ấy. Cho đến tận bây giờ, lời hứa ấy tôi vẫn giữ. Hằng năm, tôi đều ngồi trước mộ, kể với người phụ nữ đôi điều tâm sự, xem như chuộc lại phần nào lỗi lầm.
Xong xuôi, tôi lê từng bước tập tễnh về nhà, chẳng buồn băng bó vết thương, chỉ ôm lấy cuốn Lục Đinh Lục Giáp vừa dịch, vùi đầu nghiên cứu. Đã bước chân vào nghề khiêng quan, tôi không thể để những sự việc như thế này tái diễn.
Sáng hôm sau, trời vừa hửng, tôi kéo lão Vương cùng đi tìm người đàn ông kia, định dò la chân tướng. Nào ngờ, được tin rằng sau khi vợ chôn cất, cả nhà hắn đã rời đi biệt tích. Hóa ra đời chẳng phải truyện, không phải bí ẩn nào cũng có lời giải.
Nhiều năm sau, trong một lần khiêng quan, tôi mới nghe tin về hắn. Hắn chết thảm trong một vụ tai nạn xe, hưởng dương vỏn vẹn ba mươi sáu tuổi. Oái oăm thay, chính tôi lại là kẻ khiêng quan tài cho hắn. Quả đúng như người ta nói, số mệnh đã định, ác giả ác báo, dù có trốn cũng chỉ tránh được nhất thời, chẳng thể tránh được một đời.
Không biết do lòng thành của tôi lay động, hay vì lẽ nào khác, đêm ấy tôi lại mơ thấy người phụ nữ. Nhưng lần này cô ta không đến đòi mạng, mà để cáo biệt. Cô khom mình vái tôi mấy cái, bảo tôi đừng tự trách, tất cả là số phận.
Từ đó cho tới rất lâu về sau, tôi cứ ngập chìm trong nỗi dằn vặt ấy. Sau này, khi kể lại cho lão tú tài nghe, ông chỉ thở dài: “Người chết rồi thì phải theo đúng lễ mà đi. Chỉ cần sai một bước, ắt sinh chuyện quỷ dị. Nhất là kẻ chết oan, lại càng khó yên.” Những lời ấy khiến tôi càng quyết tâm học cho thấu Lục Đinh Lục Giáp.
Nghề bát tiên đâu như người khác, chẳng có chuyện sáng đi tối về. Chỉ khi có người chết, chúng tôi mới có việc. Trong lòng tôi cũng giằng xé: một mặt muốn nhiều việc để kiếm tiền, một mặt lại chẳng mong thấy thêm người chết.
Những ngày rảnh, tôi như nông dân thường, ngoài đồng ruộng thì cặm cụi đọc sách. Suốt nửa tháng trời không dính đến quan tài. Cũng trong nửa tháng ấy, lão tú tài trước mặt lão Vương và đám bát tiên khác không ngớt khen tôi “có căn tiên, sinh ra đã hợp nghề khiêng quan”.
Tôi chẳng biết đó là lời khen hay lời mỉa mai, nhưng điều ấy không quan trọng. Quan trọng là từ ánh mắt của lão Vương và đám người kia đã đổi khác: từ chỗ cưu mang tôi, dần dần việc gì cũng thích hỏi tôi.
Cũng may, tôi không khiến họ thất vọng. Dẫu chưa thành bậc thầy, nhưng so với những người chỉ có sức lực tay chân, tôi chẳng khác nào chiếc tổng đài 10086 chuyển số 0 cho cả bọn.

Chương 8: Bà góa miệng độc
Hôm ấy, tôi đang ở nhà ôm cuốn “Lục Đinh Lục Giáp” nghiền ngẫm thì lão Vương bước vào, nói: “Tiểu Cửu, có việc rồi!”
Nghe xong câu này, tôi không biết nên vui hay nên buồn, chỉ nhàn nhạt hỏi: “Người trẻ hay người già?”
Đây là quy củ trong nghề của bọn tôi, Bát Tiên. Dù khiêng quan tài cho ai, trước hết cũng phải biết người chết là ai. Người già có giá của người già, người trẻ thì lại có giá khác.
Lão Vương đáp: “Người già, thọ chung, hưởng dương 87 tuổi. Chủ nhà muốn mời chúng ta đi khiêng quan, nhưng có một nhóm giả tiên đang tranh việc.”
“Giả tiên” chính là chỉ những người cùng thôn với người chết, vốn chẳng thuộc nghề Bát Tiên, họ chỉ khiêng quan tài cho những người già chết đúng tuổi thọ. Gặp thanh niên chết yểu hoặc chết bất đắc kỳ tử, họ liền tránh xa, nhưng một khi gặp tang lễ của cụ già, họ lại muốn chia phần.
Từ khi nghề Bát Tiên nổi lên, bọn giả tiên và chúng tôi xung đột không ngừng. Giả tiên chê chúng tôi giả bộ, làm màu, chỉ là khiêng quan tài mà cũng phải đội mũ cao gọi mình là “Bát Tiên”. Còn chúng tôi thì chửi họ không hiểu chuyện, chỉ là dân thường mà cũng muốn chen chân, vì chút tiền mà khiến người chết không được yên.
Về sau, để giành “cơm ăn”, giả tiên và Bát Tiên thường xuyên đánh nhau. Ở Hoành Dương, chuyện này thậm chí còn lên cả báo. Cuối cùng, đồn công an ra lệnh: ai thuê thì người đó được làm, ai dám gây sự thì nhốt thẳng.
Thế nhưng mâu thuẫn vẫn chẳng dứt. Dù không đánh nhau lớn, nhưng mấy trận khẩu chiến thì thường xuyên. Người chịu thiệt thường là chúng tôi, bởi chúng tôi là người ngoài, còn giả tiên thường là dân bản địa, thêm vào đó vợ bọn họ cực kỳ dữ dằn, gặp chúng tôi thì chửi tới mức rách da mới chịu buông. Có bà ghê gớm còn đuổi tận nhà mà mắng, từ mười tám đời tổ tông cho tới đời cháu chắt cũng không tha.
Cũng khó trách bọn họ, ở nông thôn con đường kiếm tiền ít ỏi. Ngoài việc thỉnh thoảng phụ xây nhà kiếm chút công, thì chỉ có khiêng quan tài là có thể có thêm thu nhập. Nói trắng ra, trong mắt giả tiên, khiêng quan tài chính là miếng ăn béo bở.
Nửa tháng không có nguồn thu, giờ khó khăn lắm mới có việc, vậy mà còn bị tranh. Tôi liền quyết định theo lão Vương đi ngay, bỏ ra 30 đồng mời Lưu quả phụ, người đàn bà hung dữ nhất làng đi cùng. Lão Vương mắng tôi một câu: “Tiểu Cửu, thằng nhóc này ác quá!”
Nói đến bà Lưu quả phụ, tên thật là Lưu Thanh Tú, khoảng 37-38 tuổi, đầu bạc trắng, toàn thân trắng bệch, ngay cả tròng mắt cũng hơi bạc. Có người bảo bà là người ngoại quốc, có kẻ nói là “người âm”, thực ra chỉ là bệnh bạch tạng mà thôi.
Bà nổi tiếng trong bán kính cả trăm dặm. Từ ông già tám mươi tới đứa trẻ ba tuổi đều từng nghe tiếng. Nghe nói chồng bà cũng vì không chịu nổi bà chửi mà treo cổ chết. Người ta đặt cho bà biệt hiệu: “Bà góa miệng độc”.
Tôi dẫn lão Vương và bà ta oai phong tiến về làng người chết. Trên đường, lão Vương kể: người chết là Lý Hoạt Đạt, bệnh nhiều năm, lần này không gắng nổi nên quy tiên.
Ban đầu lão Vương còn định gọi thêm mấy Bát Tiên khác cho có thế, nhưng tôi chỉ nói một câu, ông lập tức bỏ ý định. Tôi bảo: “Cả chục gã đàn ông có bằng được bà ấy không?”
Vừa nói, tôi vừa liếc sang Lưu quả phụ. Lão Vương gật gù lia lịa: “Chuẩn!”
Vừa tới cửa làng Lý, chưa kịp bước vào đã bị mấy mụ đàn bà chặn lại, mở miệng là chửi: “Tên chột! Con lươn nhỏ! Vào làng ta là nhòm ngó quả phụ nhà nào thế? Không sợ vợ ngươi bắt quỳ bàn giặt hả?”
Bọn họ coi như không thấy tôi. Tôi thầm mừng trong bụng, ai dè lão Vương khốn nạn lại lật lọng: “Giờ ta theo tiểu Cửu. Có gì thì nói với nó!” Nói xong còn cố tình nháy mắt với tôi.
Nếu không phải vì ông ta là người dẫn tôi vào nghề, tôi thật sự muốn đấm cho một trận. Bảo tôi ác, nhưng ông ta còn ác hơn.
Tôi vội cười xòa: “Các dì à, có gì thì từ từ nói…”
Người ta có câu, “giơ tay không đánh người cười”. Tôi vốn muốn hòa giải trong êm đẹp, làng trên xóm dưới còn gặp nhau, chẳng cần căng thẳng làm gì.
Một bà lớn tuổi hơn mắng: “Thằng hèn! Trẻ như vậy không đi Quảng Châu kiếm việc, lại dính vào cái nghề khiêng quan tài. Không sợ sau này chẳng cưới nổi vợ à? Làm vậy có xứng với cha mẹ nuôi mày lớn không? Nuôi mày là để mày đi khiêng quan tài hả?”
Tôi, một kẻ đọc sách chẳng muốn đôi co với mấy bà chua ngoa, bèn liếc mắt ra hiệu cho Lưu quả phụ: “Bác Lưu, chửi thắng được thì cháu thêm cho bác mười đồng.”
Bà ta cười ha hả: “Được, Cửu Nhã Tử, bác không nhìn nhầm cháu rồi!”
Bà bước ra, và tôi chưa từng thấy sát thương ngôn từ nào khủng khiếp đến thế. Vừa thấy bà, mấy người đàn bà kia giật mình lùi lại, rồi mặt mày biến sắc như gặp ma, kêu thất thanh: “Bà góa miệng độc tới rồi!”
Nói xong liền giải tán như chim vỡ tổ.
Cây có bóng, người có danh, đó chính là “uy lực” của Lưu quả phụ, không phải đàn bà thường có thể so được. Trừ khi họ chán sống, mới dám đôi co với bà ta.
Tôi bất đắc dĩ nhún vai, nhét vào tay bà 40 đồng. Bà hớn hở bảo: “Tiểu Cửu, sau này có việc thì cứ gọi bác, đảm bảo không sai đâu. Đám đàn bà kia, bác một mình chửi mười đứa vẫn đứng vững!”
“Được thôi!” tôi gật đầu, cho bà quay về trước, rồi cùng lão Vương vào làng.
Có lẽ mấy người đàn bà kia đã truyền tin, nên chúng tôi không bị ngăn cản nữa, thuận lợi đến được nhà có tang.
Đón tiếp là một người đàn ông trung niên, mặt chữ điền, đầu hớt cua, mặc đồ tang. Vừa thấy chúng tôi, ông xúc động nói: “Lão Vương, chúng ta quen nhau, nhất định anh phải lo cho tang lễ của cha tôi chu toàn.”
“Nhất định, nhất định!” lão Vương gật đầu.
Người đàn ông mời chúng tôi vào, rót trà, rồi nói: “Lão Vương, anh cũng biết hoàn cảnh nhà tôi, ba anh em đều làm nông, chẳng có thu nhập gì. Tôi muốn toàn bộ tang lễ này giao cho các anh Bát Tiên lo. Về giá cả, mong anh bớt bớt một chút.”
Lão Vương chỉ biết khiêng quan, những việc khác thì chẳng rành, bèn quay sang tôi: “Tiểu Cửu, lão Tú Tài khen cậu có ‘tiên căn’, liệu có gánh nổi không?”
“Tất cả sao?” tôi hỏi lại.
Người đàn ông trung niên nhìn tôi, có chút kinh ngạc: “Đúng vậy, tiểu huynh đệ, cậu có làm được không?”
Tôi ngẩn ra. Chẳng lẽ tiếng tăm mình lớn vậy rồi? Bình thường tang lễ, chủ nhà toàn mời mấy “chuyên gia” lớn tuổi. Đứa nhóc như tôi, đừng nói là lo tang sự, ngay cả khiêng quan cũng dễ bị chê. Vậy mà chủ nhà này lại chẳng hề coi thường mình?

Chương 9: Lo việc tang
Tôi không lập tức gật đầu nhận, mà nhìn người đàn ông trung niên kia, đem thắc mắc trong lòng hỏi ra. Ông ta nói ông tin vào lão Tú tài.
Nghe đến đây, trong lòng tôi đã hiểu ra phần nào. Chắc hẳn vì kinh tế túng thiếu, không mời nổi thầy chuyên nghiệp, nên ông ta đành thuê dân “nghiệp dư” giá rẻ lo tang sự. Mà lão Tú tài đã tiến cử tôi.
Nghĩ thông suốt, tôi liền sảng khoái nhận lời. Không vì gì khác, chỉ để lấy chút kinh nghiệm. Với tang lễ của cụ già thọ chung, chỉ cần không xảy ra sai sót lớn, thường sẽ không có chuyện quái dị gì.
Tiếp đó, chúng tôi bàn bạc giá cả với người đàn ông trung niên. Không hiểu sao, lão Vương mở miệng đòi mười lăm nghìn, ông ta không nghĩ ngợi liền đồng ý. Ông ta muốn chúng tôi lo trọn gói mọi việc, từ nhập liệm cho đến hạ táng.
Lão Vương còn nói thêm: “Các khoản tiền lì xì cần thiết thì tính riêng.”
Đều là người nhà quê, ông ta cũng hiểu lệ này, chỉ nhắc chúng tôi đừng chê lì xì ít.
Thỏa thuận xong, ông ta dúi cho chúng tôi mỗi người một phong bao, kèm một gói thuốc Bạch Sa loại năm tệ. Trong phong bao là 24 đồng, theo tục xứ tôi, 24 gọi là “toàn hiếu”, 12 là “bán hiếu”. Bao lì xì lớn nhỏ hoàn toàn do chủ tang quyết, gia cảnh khá giả thì ít nhất cũng phải trên 200.
Tuy bao lì xì hơi nhỏ, nhưng tôi với lão Vương cũng khá vui, vì đây là lần đầu tiên bọn tôi, Bát Tiên nhận trọn gói một đám tang, mà giá chỉ thấp hơn thầy chuyên nghiệp chừng ba nghìn.
Sau đó, chủ nhà mời chúng tôi ăn một bữa. Rượu vào ba tuần, lão Vương và chủ nhà bắt đầu ngà ngà. Lão Vương hỏi: “Lão Lý, tôi có chút không hiểu. Phí tang sự mười lăm nghìn tuy thấp, nhưng vẫn có thể thuê được thầy chuyên nghiệp. Sao lại giao cho chúng tôi, Bát Tiên?”
Chủ nhà nâng chén, ngẩn người một lúc, rồi nói: “Anh à, chẳng giấu gì anh. Trước khi mời các anh, tôi đã đi xem ngày. Người ta bảo giờ chết của cụ không tốt, xác phải để trong nhà hơi lâu.”
Lão Vương hỏi bao lâu. Ông ta biến sắc, đáp: “Bảy ngày.”
“Cái gì?” lão Vương kêu lên: “Bảy ngày? Ông không đùa tôi đấy chứ?”
Ông ta nhăn mặt: “Ban đầu tôi cũng chẳng tin. Sau lại nhờ lão Tú tài xem, ông ấy cũng nói bảy ngày.”
Tôi nhìn chủ nhà, trong lòng dấy lên tức giận. Nhưng đã nhận thì không thể rút, đành kéo lão Vương đang sắp nổi khùng lại, bảo: “Hãy nói sinh thần bát tự và giờ mất của cụ, để tôi tính lại.”
Cái gọi là “bát tự”, thực ra là cách gọi khác của “tứ trụ”: năm, tháng, ngày, giờ sinh. Dùng thiên can, địa chi để phối hợp mà ra tám chữ, từ đó suy đoán cát hung họa phúc theo âm dương ngũ hành sinh khắc. Mười thiên can bao gồm: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý; mười hai địa chi bao gồm: tý, sửu, dần, mẹo, thân, dậu, tuất, hợi chưa đựng trạng thái vận động cơ bản của thiên thể khi một người được sinh ra.
Chủ nhà nói: cụ sinh năm Dân Quốc thứ bảy (1918), tháng sáu, ngày 20, giờ Tuất; mất vào giờ Ngọ.
Nhìn qua thì chẳng vấn đề gì. Nhưng khi tôi dùng thiên can địa chi tính toán, mặt liền sa sầm.
Năm 1918 là Mậu Ngọ, tháng sáu cũng Mậu Ngọ, ngày 20 vẫn Mậu Ngọ. Nếu giờ sinh không nhầm, thì là giờ Mậu Ngọ. Giờ chết cũng chính Ngọ, đúng 11 giờ trưa, không lệch một phút một giây, vừa khớp loại “mệnh” mà trong Tang Kinh có ghi.
Tôi thực không muốn tin, bèn hỏi: “Cụ có phải mất đúng 11 giờ không?”
Ông ta đáp: “Không biết chính xác, chắc khoảng 11 giờ.”
Lão Vương sốt ruột hỏi tôi có chuyện gì bất ổn. Tôi không trả lời, đặt đũa bát xuống, bảo ông chờ, rồi quay về làng.
Về đến nhà, tôi lấy Tang Kinh tra lại, quả nhiên trùng khớp. Sau lại tìm lão Tú tài hỏi, ông cũng xác nhận. Ông dặn tôi thành tâm lo liệu tang lễ, chọn lựa kỹ càng, ắt không vấn đề.
Khi tôi chuẩn bị đi, lão Tú tài gọi với theo: “Tiểu Cửu, huyệt mộ nhất định phải chọn kỹ, đừng để tuyệt hậu nhà chủ!”
Nói xong ông thở dài.
Ông ta không nói còn đỡ, nói ra làm tôi tức điên. Mẹ nó! Loại mệnh này, ai chủ trì tang lễ thì tổn ba năm dương thọ, lại dễ bị người chết ám nếu lễ nghi sơ suất. Bao nhiêu Bát Tiên không chọn, lại lừa đúng tôi!
Bước ra cửa, tôi hầm hầm đá mạnh một cái vào cổng nhà lão Tú tài, không biết có vỡ không, chỉ nghe sau lưng tiếng lão gào chửi.
Biết rõ cụ chết loại mệnh này, tôi hoàn toàn mất tự tin, chứ đừng nói đến chuyện khiêng quan tài. Muốn từ chối, nhưng không tìm được lý do, hơn nữa theo tục làng tôi, không ai nhận “nhị tang” một đám thay hai nhóm.
Nghĩ vậy, lòng tôi cũng đỡ hơn một chút. Tôi gom mấy món đồ tang lễ trong nhà, vội vàng trở lại làng Lý. Đã nhận thì không thể để xảy ra sự cố. Còn chuyện tổn ba năm thọ, dù sao cũng là chuyện vài chục năm nữa, tạm gác lại đã.
Đến nơi, tôi nghiêm mặt không nói lời nào, bảo lão Vương đưa hết phong bao và thuốc cho tôi. Lý do tôi không giải thích, chỉ nói sẽ không hại ông, có chuyện thì mình tôi gánh.
Rồi tôi nhờ chủ nhà dẫn vào phòng cụ. Ông gật đầu, trong mắt thoáng qua bi thương sâu sắc, tình cảm của ông với cụ chắc hẳn rất nặng.
Tôi theo sau, lòng nặng trĩu. Lão Vương thì chẳng sợ, lò dò đi thẳng vào. Nếu biết cụ chết loại mệnh này, không rõ ông còn dám như thế không.
Phòng nơi cụ nằm không lớn, chừng hơn mười mét vuông. Bên phải kê mấy cái ghế, bên trái một chiếc giường gỗ, treo màn đen. Bên cạnh giường, một bé gái bảy tám tuổi đang quỳ, đốt gì đó.
Thấy chúng tôi vào, con bé ngẩng lên liếc một cái, rồi tiếp tục. Tôi lại gần xem, trời ạ, không phải vàng mã, mà là… đề thi! Khốn nạn nhất là con bé vừa đốt vừa lẩm bẩm: “Ông ơi, ông lớn tuổi rồi, xuống âm phủ phải chịu khó động não. Thư Yến đốt ít đề thi cho ông làm. Nếu gặp chỗ nào không hiểu, con sẽ kéo cả cô chủ nhiệm xuống, để cô dạy ông làm.”

Chương 10: Tắm rửa cho xác chết
Tôi không nhịn được, “phụt” một tiếng bật cười. Con bé này cũng thật là ghê gớm, nếu để cô giáo chủ nhiệm của nó biết được, không biết có tức chết hay không.
Chủ nhà cười gượng, bế con bé lên nói: "Đây là con gái tôi, tên Lý Thư Yến, mong hai vị đừng chấp!"
Tôi khoát tay, cười nói con bé này rất có tiền đồ, rồi ra hiệu cho chủ nhà bế nó đi ra ngoài. Ngẩng mắt nhìn lên giường, chỉ thấy một cụ già mặt đầy nếp nhăn đang nằm đó. Khuôn mặt hồng hào, đôi mắt khẽ hé mở còn lộ ra một đường chỉ, thân mặc áo vải bạt màu kaki, hai tay nắm chặt mép giường.
Người ta thường nói người sống có tướng sống, người chết có tướng chết. Bình thường sau khi chết, mặt người đều biến thành màu xanh tái, đó gọi là “tướng chết”. Nhưng cụ già này không chỉ không lộ ra tướng chết, mà sắc mặt còn đẹp hơn cả người sống.
Thấy cảnh ấy, tôi chưa kịp mở miệng thì lão Vương đã lên tiếng trước: "Tiểu Cửu, tình huống này không ổn lắm, có khi nào phát sinh chuyện quái dị không?
Tôi cười khổ: "Chắc không đâu!"
Lão Vương nghe vậy cũng không nói gì thêm, chỉ lặng lẽ tiến sát lại gần tôi.
"Hóa ra ông cũng có lúc sợ à?" tôi trêu lão một câu, rồi bảo gọi con cháu đích hệ của chủ nhà đến, chuẩn bị đốt giấy dẫn hồn, lại nhờ vài người khiêng quan tài ra đặt ở gian chính.
Giấy dẫn hồn, ở Hồ Nam chúng tôi gọi vậy, còn nói nôm na chính là “giấy vàng mã”. Nhưng loại này khác với giấy vàng thường đốt. Nó phải đốt theo một trọng lượng nhất định, thường là 18 cân 8 lạng, nghe nói để mua chuộc hai quỷ sai dẫn hồn. Nói thẳng ra, đây chính là tiền lộ phí.
Tôi đi đi lại lại trong phòng, một lúc sau chủ nhà mới dẫn mười mấy người vào. Đi đầu là ông ta cùng hai em trai, sau đó là con cháu trai, cuối cùng mới là vợ con dâu.
Vừa bước vào, tôi đã cảm giác bầu không khí trong phòng có gì đó bất thường. Không thể nói rõ là chỗ nào, chỉ thấy không khí nặng nề, ngột ngạt, không còn trong lành như trước.
Tôi cau mày hỏi: "Mọi người tắm rửa hết rồi chứ?"
Họ gật đầu: "Sau khi cha tắt thở, cả nhà chúng tôi đều đã tắm qua!"
Tôi không nói thêm, chỉ dặn họ theo thứ tự con cháu dâu con mà quỳ trước giường, khi đốt giấy nhất định phải gấp đôi lại mà đốt. Họ tuy hơi ngạc nhiên, nhưng thấy sắc mặt tôi không ổn cũng không dám thắc mắc, đều làm theo.
Đốt giấy tất nhiên không tránh khỏi màn khóc lóc. Tiếng khóc ấy thực sự là “kinh thiên động địa, cảm động quỷ thần”, bi thương đến nỗi như muốn khóc sập cả căn nhà. Tôi vội vàng ngăn lại: "Còn bảy ngày nữa kia, đừng khóc khản cả cổ bây giờ!"
Căn phòng vốn đã nhỏ, nay khói giấy nghi ngút, đến thở cũng khó khăn. Chủ nhà vội mở cửa sổ, không khí trong phòng mới đỡ hơn chút.
Chờ khói tan bớt, tôi bảo chủ nhà bảo vợ và con dâu ra ngoài, chỉ để lại ba anh em ông ấy. Sau đó, dặn chuẩn bị nửa chậu nước sạch đặt giữa phòng. Chủ nhà không dám chậm trễ, một lát sau đã bưng nước vào để xuống giữa nhà.
Tiếp đến, tôi bảo chuẩn bị một khăn liệm (thực ra chính là khăn mặt, nhưng khác ở chỗ theo tục lệ, phải xé từ áo quần lúc sinh thời người chết yêu thích, có nơi thì dùng khăn mặt mà người đó từng dùng).
Chuẩn bị xong, tôi khom mình vái ba lạy trước người chết, rồi cho ba anh em chủ nhà đứng ở ba phương Đông, Nam, Bắc, còn tôi đứng ở hướng Tây. Đặt khăn liệm vào chậu nước, tôi xoay bảy vòng sang trái, tám vòng sang phải. Khi nước sắp trào ra, tôi buông tay, để khăn tự xoay theo dòng nước.
Động tác này gọi là chọn thân, chọn người gần gũi nhất với người chết để tắm rửa cho xác. Nơi khác gọi là “mặc trang”, “khuyến di”, còn chúng tôi Bát Tiên thì gọi là “thanh long”.
Việc tắm rửa xác cũng có rủi ro. Có khi người chưa tắt hẳn hơi, con cháu hấp tấp làm, xác bỗng dưng bật dậy, kẻ đang lau chùi mười phần thì chín bị hù đến ngẩn ngơ, người nhát gan thì sợ đến chết cũng có. Tuy xác suất thấp, nhưng thỉnh thoảng vẫn xảy ra.
Dĩ nhiên, nguy hiểm thì đi cùng lợi ích. Người lau rửa xác được cho là sẽ nhận được sự phù hộ của người chết. Cái “phù hộ” nghe tưởng hão huyền, nhưng đối với con cháu thì là ân đức to lớn. Vì vậy, từng có chuyện anh em vì tranh nhau quyền lau xác mà trở mặt thành thù. Sau này, người làm tang sự mới nghĩ ra cách chọn thân như vậy.
Khăn liệm xoay vòng, ánh mắt ba anh em chủ nhà sắp rớt ra ngoài, hơi thở cũng dồn dập. Nhưng cuối cùng, cái khăn lại dừng đúng hướng Tây, ngay trước mặt tôi.
Thấy vậy, trong lòng tôi rủa thầm tổ tiên của lão Tú tài từ đời Thanh đến tận Tam Hoàng Ngũ Đế. Mẹ kiếp, lão ta giới thiệu cho tôi cái việc quái gì đây? Lau xác thì có lợi thật, nhưng chỉ khi là người thân của người chết. Tôi, kẻ lo tang sự, chả dính máu mủ gì mà đi lau, thì chẳng được phù hộ gì, ngược lại còn xui xẻo ba năm!
Tôi liếc ba anh em chủ nhà, cười gượng: "Hay… chúng ta xoay lại lần nữa?"
"Không được, đây là tâm nguyện của cha!" ba người đồng thanh.
Thực ra tôi cũng chẳng trông mong họ đồng ý, chỉ thử nói thế thôi. Không còn cách nào, tôi đành bảo họ bôi tro nồi đen đầy mặt tôi, rồi xin một cái phong bao.
Không phải vì tôi tham tiền, mà là theo lệ. Người ngoài lau xác, phải bôi đen mặt để trừ tà, lại nhận một cái phong bao tượng trưng may mắn.
Chủ nhà cũng không keo kiệt, đưa tôi 24 đồng, dặn dò nhất định phải lau rửa sạch sẽ cho cha.
Tôi gật đầu, từ tốn cởi bỏ quần áo trên xác, vớt khăn liệm từ chậu lên, vắt còn bảy phần ướt, rồi khẽ lau bàn chân người chết.
Tôi cứ tưởng việc này sẽ khó khăn, không ngờ vừa lau xong bàn chân, tôi đã hoàn toàn thích ứng. Cảm giác như trước mặt tôi không phải là xác chết, mà là một đứa trẻ sơ sinh.
So sánh tuy có hơi lố, nhưng lúc ấy tôi thật sự thấy như vậy. Sau này tôi mới hiểu, có loại người sinh ra đã định phải gắn liền với xác chết, mà tôi chính là kẻ xuất chúng trong số đó, loại người mà thiên hạ gọi là thiên tài, nhưng cái “thiên tài” này chẳng được ai công nhận, nghĩ cũng thật bi ai.
Rất nhanh, tôi đã lau xong ba phần tư cơ thể, chỉ còn lại phần đầu. Lúc này, tôi bắt đầu lúng túng. Khuôn mặt người chết quá đẹp, quá an hòa, khiến tôi không biết nên bắt đầu từ đâu.
Tôi hít sâu một hơi, không ngừng tự nhủ: “Trần Cửu, đừng sợ! Thứ mày lau không phải là xác chết, mà là một việc thiện. Sau này mày sẽ trường thọ phú quý.”
Nói không ngoa, cách này quả nhiên có hiệu quả. Tôi ép xuống sự bất an, vắt khăn, run run bàn tay đưa lên lau khuôn mặt người chết.
Cảm giác chạm vào… thật mềm mại, ấm áp. Tôi khẽ khàng lau từng đường trên gương mặt cụ, động tác nhẹ nhàng hết mức, chỉ sợ lỡ tay… sẽ làm cụ bừng tỉnh.
Reactions: Vit.hung.han, waitforyou3, AiRoiCungKhac and 17 others
Chương 11: Chuẩn bị nhập liệm
Lau xong mặt người chết, tôi bẻ mở miệng ông ta, lau chùi hàm răng, rồi dùng khăn xác làm sạch bụi bẩn trong lỗ mũi. Tất cả đều diễn ra rất thuận lợi, sự bất an trong lòng tôi dần dần lắng xuống, động tác trên tay cũng nhanh nhẹn hơn, chẳng mấy chốc đã làm sạch toàn bộ khuôn mặt người chết.
Đúng lúc tôi định bỏ khăn liệm xuống, chủ nhà lên tiếng: “Khóe mắt vẫn còn một hạt ghèn!”
Tôi ngoảnh đầu nhìn kỹ, quả thật ở khóe mắt trái người chết có một hạt ghèn nhỏ, nếu không nhìn kỹ thì khó mà phát hiện. Tôi lấy khăn xác quấn vào ngón tay, định đưa tay lau đi.
Đột nhiên, trong phòng nổi lên một luồng gió lạnh, khiến tôi rùng mình một cái. Ngoảnh đầu lại nhìn, thấy trong phòng những đồ vật khác không hề động, chỉ chỗ tôi đứng là có gió.
Có gì đó không ổn! đó là ý nghĩ đầu tiên trong đầu tôi. Nhưng tôi cũng chẳng kịp nghĩ nhiều, vội vàng đưa tay lau hạt ghèn kia.
Ngay khi tôi chạm vào mắt người chết, đôi mắt ông cụ bỗng trợn to, nhìn chằm chằm vào tôi, ánh mắt rỗng tuếch, lộ ra màu trắng nhợt như bụng cá.
Nói thật, khoảnh khắc đầu tiên ấy tôi sợ chết khiếp, suýt nữa ném khăn mà chạy. Nhưng thấy người chết vẫn không nhúc nhích, nỗi sợ mới dần dần dịu lại.
Trái lại, ba anh em chủ nhà thì hoảng loạn đến mức quỳ rạp xuống đất, dập đầu liên hồi, miệng van vỉ: “Cha ơi, ba anh em chúng con tận tâm tận lực với người, xin cha đừng dọa chúng con!”
Tôi bình ổn lại tâm tình, đỡ ba anh em họ dậy, trấn an: “Đừng sợ, đây là phản ứng bình thường thôi, không phải vì các ông làm chưa tốt.”
Ba người run rẩy đứng dậy, hỏi tôi có thật không. Tôi khẳng định “Thật”, bấy giờ họ mới thở phào, còn dặn tôi nhất định phải lo hậu sự chu đáo, tiền nong họ sẵn sàng bồi thêm năm nghìn.
Tiền từ trên trời rơi xuống, tôi sao lại từ chối? Huống hồ vừa rồi cái cảnh mắt người chết mở to, chính tôi cũng bị dọa không nhẹ. Tôi đáp rằng nhất định sẽ dốc toàn lực lo tang sự, còn việc người chết mở mắt, dặn họ đừng nói cho các bậc bát tiên, kẻo họ biết chuyện thì sẽ từ chối khiêng quan tài, lúc đó thì khó mà xoay xở.
Là dân quê, họ cũng hiểu chuyện này không thể truyền ra ngoài, lập tức cam đoan sẽ giữ kín. Nhưng một vấn đề mới lại nảy ra trước mắt chúng tôi: làm thế nào để người chết nhắm mắt lại.
Tôi thử mấy lần dùng tay ấn mắt người chết xuống, nhưng cứ buông ra là lại mở ra ngay. Lúc đang khó xử, thì Lão Vương bước vào. Thấy đôi mắt người chết mở trừng trừng, ông ta ngẩn người một chút, rồi hỏi tôi sao lại thế.
Quan hệ giữa tôi và Lão Vương vốn nửa thầy nửa bạn, nên tôi cũng không giấu diếm, kể sơ qua sự việc. Nhưng chuyện “mạng loại đặc biệt” của người chết thì tôi không dám nói, một là sợ dọa ông ta, hai là tôi đoán nếu nói ra, ông ta sẽ khuyên tôi bỏ cuộc, không làm đám này nữa.
Nghe xong, Lão Vương nói: “Có chi khó đâu, lấy keo dán lại là xong.”
Nói rồi, ông ta móc trong người ra một chai keo đưa cho tôi.
Thấy dáng vẻ thuần thục của ông ta, tôi chợt sinh ra ảo giác, chẳng lẽ ông ta đã chuẩn bị sẵn keo từ trước rồi?
Tôi nhận lấy, nhỏ hai giọt vào mắt người chết, rồi ép mí mắt dán xuống. Chỉ chốc lát, hai mắt nhắm nghiền, nhìn qua trông vô cùng an tường.
Xong việc này, tôi hỏi Lão Vương: “Quan tài đã chuyển vào nhà chính chưa?”
Ông ta đáp: “Chuyển rồi.”
Tôi lại hỏi có xảy ra chuyện lạ gì không, ông ta bảo: “Mọi việc bình thường.”
Nghe vậy, lòng tôi mới thấy an ủi đôi chút. Tôi liền bảo ba anh em chủ nhà gọi con cháu ruột rà ra trước cửa đứng đợi nhập liệm.
Khi họ đi rồi, tôi cùng Lão Vương mặc áo thọ cho người chết, sau đó nhét một đồng tiền đồng vào miệng, rồi đặt một thỏi vàng vào tay trái, một thỏi bạc vào tay phải.
Mấy nghi thức này đều có căn nguyên. Trung Hoa từ xưa đã là đất nước lễ nghi, mà lễ nghi trong tang sự lại càng nặng.
Đồng tiền tôi đặt trong miệng gọi là “hàm khẩu” (hay còn gọi “cơm hàm”), tức tục lệ cho người chết ngậm vật. “Lễ Ký – Tạp ký hạ” có câu: “Tạc cân dĩ phạn”, trong “Hậu Hán thư – Lễ nghi chí” cũng chép: “Đăng hà, phạn hàm châu ngọc như lễ”. Ý nghĩa là giúp người chết thuận lợi vượt qua sông Vong Xuyên.
Người xưa tin rằng dưới âm phủ có sông, có thuyền, thì tất sẽ có người chèo đò. Người chết muốn qua sông, cũng như ở dương gian, phải trả tiền cho người lái. Nếu không, có thể bị làm khó dễ, thậm chí không thể qua, rồi quay lại quấy rầy con cháu. Đồng tiền trong miệng chính là lệ phí qua sông.
Còn thỏi vàng và bạc là tùy táng phẩm. Tục dân gian quy định: tay trái cầm vàng, tay phải cầm bạc. Xưa kia thường là thỏi thật, mỗi bên khoảng một lạng. Về sau biến thành giả, nhưng tục lệ vẫn còn giữ, vốn là lễ nghi tổ tiên truyền lại.
Xong xuôi, cả tôi và Lão Vương đều toát mồ hôi. Lão Vương thì chỉ ướt lưng, còn tôi thì mồ hôi vã như tắm. Dù sao đây cũng là lần đầu, bảo không sợ thì đúng là khoác lác.
Nghỉ một lát, Lão Vương hỏi tiếp: “Giờ xử lý thế nào?”
Tôi bảo ông ta giúp tôi khiêng người chết ra nhà chính, còn tôi phải đi chuẩn bị quan tài. Khoảng cách ngắn, tôi tin Lão Vương xoay sở được, bởi bát tiên ngoài việc khiêng quan tài cũng hay nhận mấy việc khiêng xác như thế này.
Lão Vương gật đầu, hỏi: “Vậy cái phong bao tiền khiêng xác, để tôi nhận hay…”
Tôi đáp: “Lão Vương, nếu ông tin tôi, thì đám tang này một phong bao cũng đừng nhận, tất cả để tôi. Còn nếu không tin, tôi chỉ nói thật, người chết có chút vấn đề, cầm tiền e là sẽ bị báo ứng.”
Lão Vương nghe xong, lặng im một hồi rồi nói: “Tôi tin cậu.”
Tôi không nói thêm nữa, sợ lại lỡ lời tiết lộ chuyện “mạng đặc biệt” của người chết, có khi hại ông ấy. Tôi xách theo một bao tải và xấp giấy vàng, đi thẳng ra nhà chính.
Trong nhà chính, ngoài một cỗ quan tài đen thẫm, còn có bàn thờ bày bài vị tổ tiên và lư hương. Nắp quan tài được dựng đứng một bên.
Loại quan tài này khá cầu kỳ, gỗ làm bốn vách thường là tùng bách, kiêng dùng liễu, vì tùng bách tượng trưng trường thọ, còn liễu không ra hạt, ám chỉ tuyệt tự. Một số nơi còn trộn thêm gỗ sam, nói rằng toàn tùng bách thì dễ bị sét đánh. Nhưng ở vùng tôi thì không có tục đó. Đáy quan tài thường lót “thất tinh bản”, ngụ ý cầu thọ.
Tôi mở bao tải, rải tro trấu xuống đáy quan, rồi phủ lên một lớp giấy vàng, cuối cùng lót thêm một chiếc đệm bông. (Tro trấu là phần vỏ lúa đốt cháy còn lại.)
Vừa sắp xếp xong, Lão Vương đã cõng người chết tới, sau lưng là hàng con cháu ruột thịt, đồng loạt gào khóc bi thương, rung động đất trời, thấu cả quỷ thần.
Tôi ra hiệu cho Lão Vương dừng ngoài cửa, không được vào. Rồi bảo chủ nhà kiếm một mảnh ngói đặt trước quan tài.
Xong, tôi vái ba vái trước quan, cầm lấy gậy khóc đã chuẩn bị sẵn, đi vòng quanh quan tài bảy vòng, cuối cùng dừng lại trước mảnh ngói.

Chương 12: Phá sát
Tôi giơ cây gậy khóc tang lên, mạnh mẽ chọc thẳng vào miếng ngói.
“Đinh” một tiếng, giống như không phải chọc vào ngói, mà là chọc vào sắt đá, chấn động làm cánh tay tôi hơi đau nhức.
Lúc này, trong lòng tôi bắt đầu căng thẳng. Miếng ngói trước khi nhập liệm nhất định phải phá vỡ, nếu không sẽ xảy ra chuyện. Ngói không vỡ có nghĩa là người chết không muốn nhập liệm.
Lão Vương quả không hổ là người “ăn cơm với người chết”, thấy tình hình như vậy liền trấn an gia chủ mấy câu, rồi lén liếc mắt ra hiệu cho tôi thử lại lần nữa.
Ngay lập tức, tôi dốc hết toàn thân sức lực, giơ gậy khóc tang chọc xuống miếng ngói. Kết quả, miếng ngói vẫn nguyên vẹn, nằm yên trên mặt đất. Liên tiếp thử ba lần, nó vẫn không nứt vỡ.
“Quỷ quái thật!” Tôi thầm rủa một tiếng, định thử lần nữa thì người em kế gia chủ, Lý Kiến Quốc cất tiếng: “Thằng nhóc ranh, được việc không đấy?”
“Kiến Quốc, đừng quấy rầy Trần bát tiên!” chủ nhà vội kéo ông ta lại, trách mắng một câu.
“Đại ca, tuy chúng ta nghèo, nhưng cũng đâu cần mời một thằng nhóc con thế này? Ngay cả miếng ngói cũng không phá nổi. Nhỡ động đến cha, ai gánh nổi trách nhiệm?” giọng điệu Lý Kiến Quốc không mấy thiện cảm.
Tôi chẳng buồn để ý, tiếp tục công việc trong tay, chỉ nghĩ trong bụng: Tại sao người chết lại không chịu nhập liệm? Có phải vì còn thiếu thứ gì đó trong quan tài? Nghĩ vậy, tôi bước đến gần gia chủ, hỏi: “Lão gia trước khi mất thích nhất thứ gì?”
Gia chủ trầm ngâm một lúc, rồi tự vả vào mặt một cái, nói: “Cha tôi khi sống mê đánh mạt chược, ngày nào cũng chơi với mấy ông già hàng giờ liền. Trước lúc lâm chung miệng còn lẩm bẩm ‘Đại Nhị’. Có phải vì cái này không?”
(Mạt chược gần giống như bài tây, “Đại Nhị” là một quân rất quan trọng, tương tự như quân Joker trong bài tây.)
Nghe vậy, tôi bảo gia chủ lấy một quân “Đại Nhị” đặt vào tay người chết. Sau đó, tôi lại giơ gậy khóc tang chọc xuống miếng ngói. Quả nhiên, “rắc” một tiếng, ngói vỡ vụn.
Thấy cảnh này, tôi không biết nên cười hay khóc. Một người có thể mê bài bạc đến mức này, cũng coi như chuyện hiếm thấy.
“Ngói đã vỡ, trăm sự bình an, vinh hoa phú quý, con cháu hưng thịnh!” tôi nghiêm giọng hô lớn, ra hiệu cho thân quyến gia chủ quỳ giữa nhà, không được ngẩng đầu. Rồi tôi ném gậy khóc tang sang một bên, đỡ người chết từ lưng lão Vương xuống, chậm rãi đặt vào trong quan tài.
Sau khi an bài thi thể vào, tôi dùng sợi chỉ đỏ buộc một đồng tiền lỗ vuông, đo từ trên xuống đối xứng thẳng với mũi người chết. Tiếp theo, lại lấy một sợi chỉ đỏ kéo từ chính giữa đầu quan tài xuống đến chính giữa đuôi quan tài.
Căng thẳng sợi chỉ, tôi vòng quanh quan tài mấy lượt, mục đích là xem mũi người chết cùng đường trung tuyến đầu, đuôi quan tài có thẳng hàng hay không. Có lẽ do đặt hơi lệch, vị trí lệch sang một bên. Tôi bèn nhờ lão Vương dịch thi thể lại. Khi ba điểm thẳng hàng, tôi lấy một tờ giấy trắng phủ lên mặt người chết, rồi đắp thêm một chiếc chăn bông, nhét mép chăn ra phía sau.
Sau đó, tôi cùng lão Vương đặt nắp quan tài lên, nhưng không đậy kín, để hở phần đầu người chết. Một là để thân nhân đến viếng nhìn lần cuối, hai là vài ngày tới khi làm “khai lộ”, cần để người chết “tận mắt” thấy con cháu mở đường cho mình.
(“Khai lộ” là cách gọi ở quê tôi, nơi khác còn gọi là lập đàn, khai sơn, đảo bày, v.v.)
Xong xuôi mọi việc, tôi bảo thân quyến đứng dậy, yêu cầu toàn bộ phải đội mũ gai, mặc áo tang. Khi ngủ chỉ được tháo vải trắng, không được tháo áo gai. Rồi tôi bấm tay tính toán, nói cho họ biết lễ khai lộ định vào ngày thứ sáu, đến ngày thứ bảy sẽ xuất quan.
Ba anh em gia chủ đều hiểu tục lệ, mỗi người đưa cho tôi và lão Vương một phong bao. Tôi bóp thử, của gia chủ và em ba chắc khoảng hai mươi bốn đồng, phong bao của Lý Kiến Quốc hơi mỏng, chắc chỉ một, hai đồng. Tôi không để tâm, vì tiền phúng điếu nhiều ít là tấm lòng, không có quy định cứng nhắc. Dù chỉ là bao lì xì trống rỗng, chúng tôi cũng buộc phải nhận.
Lão Vương cầm bao lì xì, nhìn thoáng qua quan tài, cuối cùng đưa lại cho tôi, khẽ nói: “Tiểu Cửu, cậu tự lo liệu cho cẩn thận! Không ổn thì hủy lễ khai lộ đi!”
Xem ra lão Vương cũng nhận ra người chết có gì đó bất thường. Tôi chỉ mỉm cười đáp: “Không sao, tôi có chừng mực.”
Đúng lúc đó, Lý Kiến Quốc bước đến, lườm tôi một cái, nói: “Thằng nhóc ranh, tang lễ này mà xảy ra sơ xuất gì, tao đảm bảo mày không bước ra khỏi thôn Lý được đâu!” Nói xong, ông ta vung tay bỏ đi.
Nhìn bóng ông ta khuất dần, tôi thấy khó hiểu: Mình đã đắc tội gì với ông ấy? Tôi bèn nhìn sang gia chủ với ánh mắt dò hỏi. Gia chủ cười gượng, nói: “Em trai tôi tính khí như vậy đấy, cậu đừng chấp.”
Người em thứ ba ở bên phụ họa: “Trần bát tiên, anh ba là vậy thôi, đừng để bụng!” Nói rồi kéo tôi và lão Vương về nhà mình, bảo muốn bàn chuyện mộ phần.
Theo tục lệ, sau khi nhập liệm, trưởng tử tức gia chủ, phải đi báo tang họ hàng, thông báo tin buồn và thời gian khai lộ. Còn tôi thì phải tranh thủ thời gian này chuẩn bị huyệt mộ, nếu không sẽ quá gấp.
Trên đường đi, tôi biết được người em thứ ba tên Lý Kiến Dân. So với người anh cả hiền hậu, Lý Kiến Dân thẳng thắn, có gì nói đó. Ông ta kể rằng Lý Kiến Quốc ghét tôi vì một người bà con của ông ta cũng muốn nhận tang sự này, nhưng kẻ đó chẳng biết gì, chỉ ham tiền. Gia chủ và Lý Kiến Dân dĩ nhiên không đồng ý.
Ông ta còn nhắc tôi lúc xuất quan phải cẩn thận, nói rằng trong thôn có vài “giả tiên” có thể tìm cách gây khó dễ. Tôi cười đáp: “Chỉ cần bọn giả tiên dám làm khó, tôi đảm bảo bọn chúng không rút lui yên ổn đâu.”
Về đến nhà, Lý Kiến Dân khá nhiệt tình, mang hoa quả ra mời, còn đưa cho mỗi chúng tôi một bao thuốc xịn. Ông ta nhìn lão Vương, nửa đùa nửa thật: “Vương lão ca, ông năm mươi mấy tuổi rồi, sao còn nghe lời Trần bát tiên?”
Nói xong, có lẽ thấy hơi thất lễ với tôi, bèn nở nụ cười xin lỗi. Tôi xua tay, tỏ ý không sao.
Lão Vương châm một điếu thuốc, rít vài hơi, nhìn tôi sâu sắc rồi nói: “Nghề bát tiên chúng tôi không phân tuổi tác, ai giỏi thì theo người đó. Tiểu Cửu biết nhiều hơn tôi, dĩ nhiên tôi nghe cậu ấy.”
Nghe vậy, Lý Kiến Dân mừng rỡ, hỏi tiếp: “Trần bát tiên còn biết nhiều hơn cả lão Tú Tài trong làng sao?”
Lão Vương không trả lời, chỉ nhìn tôi, ý muốn hỏi nên đáp thế nào. Sau này lão mới kể, trong lòng ông cho rằng tôi giỏi hơn lão Tú Tài, vì trong tay tôi có bản “Táng kinh” của Lục Đinh Lục Giáp, còn lão Tú Tài chỉ biết đọc sách chết. Bản “Táng kinh” này đã có hơn hai ngàn năm lịch sử, là báu vật tổ tiên truyền lại.
Tôi ra hiệu lão Vương đừng nói gì, rồi nhìn thẳng Lý Kiến Dân: “Có chuyện gì thì nói thẳng, không cần thăm dò.”
Ông ta cười ngượng: “Được, vậy tôi nói thẳng. Tôi phát hiện một huyệt phong thủy bảo địa, đã mời lão Tú Tài đến xem, ông ta nói đúng là bảo địa, nhưng bát tự của cha tôi không hợp để táng ở đó. Tôi nghĩ ông ta lừa tôi, nên muốn nhờ cậu đến xem nghiêm túc. Tôi không giấu, dù cậu nói gì, tôi cũng sẽ chôn cha tôi ở đó.”
Khi nhắc đến hai chữ “nghiêm túc”, giọng ông ta đặc biệt nhấn mạnh. Trong lòng tôi chưa chắc chắn, bèn trao đổi ánh mắt với lão Vương để hỏi ý. Lão Vương rít một hơi thuốc, gật đầu rồi lại lắc đầu, ý là có thể đi xem, nhưng phải nói rõ lợi hại trước.
Hiểu ý ông, tôi bình thản nói: “Từ xưa đến nay, phong thủy bảo địa đều dành cho người có đức, có phúc. Nếu cưỡng ép chiếm giữ, không những phá hủy long mạch, mà còn có thể hại đến con cháu. Ông nên suy nghĩ cho kỹ.”

Chương 13: La Bàn
Lý Kiến Dân im lặng một lúc, rút ra một điếu thuốc, châm lửa, hít liền ba hơi rồi mới lên tiếng: “Cứ đi xem trước đã, xong rồi bàn lại với đại ca. Chuyện này mình tôi quyết không được.”
Tôi nghe ra ý tứ của ông ta: vẫn chưa muốn bỏ cuộc. Tôi cũng không nói thêm, chỉ lấy la bàn ra, bảo ông ta dẫn đường.
Ba người chúng tôi vòng đông lách tây, đi chừng nửa tiếng đường núi thì tới một vùng gò đồi. Chung quanh chẳng thấy một nóc nhà, như thể nơi này cách biệt với thế giới. Tôi thấy lạ, rõ ràng chúng tôi chưa đi xa, sao lại vắng bóng người đến thế. Tôi dừng chân hỏi còn xa không, ông ta bảo mới đi được một nửa.
Nói xong, Lý Kiến Dân lại dẫn chúng tôi rẽ về phía đông. Đường này lâu năm không ai qua lại, cây bụi um tùm, bước xuống là ngập quá gối. Vừa đi, lão Vương vừa lầm bầm: “Dù chỗ đó có chôn được, nhưng xa xôi thế này thì làm sao khiêng quan tài đến nơi?”
Nghe vậy, Lý Kiến Dân vội móc thuốc ra, nhét cho tôi với lão Vương mỗi người một điếu, cười xòa: “Chỉ cần đất ấy chôn được, thì tiền công các vị đừng lo, tuyệt không để thiệt thòi đâu.”
Chúng tôi nhận thuốc, vừa hút vừa đi theo sau, không ai nói thêm lời nào. Đi một đoạn, trước mặt bỗng hiện ra một con suối trong vắt, rộng chừng một trượng rưỡi, mặt nước xanh biếc. Bên kia là một bãi đất bằng phẳng, không lớn lắm, chỉ độ bảy tám trượng vuông.
Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là bãi đất ấy được ba dãy núi bao quanh ở phía trái, phải và sau lưng, liên miên như dải lụa, ôm trọn lấy bãi đất, thành thế núi vây vòng. Đúng như câu trong Táng Kinh: “Địa thế nguyên mạch, sơn thế nguyên cốt; ủy y đông tây, hoặc vi nam bắc; thiên xích vi thế, bách xích vi hình; thế lai hình chỉ, thị vị toàn tề, toàn khí chi địa; đương táng kỳ địa, tam đại phú quý.”
Chỉ tiếc là núi không cao, tán cây rậm rạp che mất ánh mặt trời, khiến nơi đất bằng âm u, suýt thành đất cực hung. Nhưng ông trời lại để sót một đường sinh khí, chính là con suối phía trước. Nắng phản chiếu qua mặt nước, tán xạ một phần chiếu vào bãi đất, nhờ vậy mà không trở thành tuyệt địa, thậm chí biến thành huyệt mộ trung đẳng, hơn xa gò mả tập thể trong thôn.
“Chỗ này thế nào?” Lý Kiến Dân hỏi.
Tôi ngắm thế núi một lát rồi đáp: “Xét về sơn thế, quả là đất tốt. Nhưng sinh thần bát tự của cha ông e không chịu nổi khí thế nơi này. Nếu cưỡng ép chôn, dòng suối trước mặt tất sẽ cạn, lúc ấy đất lành hóa dữ. Nhẹ thì hậu nhân bất an, nặng thì tuyệt tử tuyệt tôn.”
Ông ta cau mày: “Không có cách nào khác để chôn cha tôi ở đây sao?”
Tôi nói: “Cứ qua bãi đất xem kỹ rồi hãy quyết định.”
Nói xong, ba người chúng tôi đi về phía con suối. Không có thuyền, đành cởi quần áo ngoài, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi mà lội xuống.
Vừa xuống nước, một luồng lạnh buốt xộc thẳng vào xương tủy, như vừa bước vào hầm băng. Tôi rùng mình, suýt nữa làm rơi la bàn xuống nước. Vội bảo lão Vương lên bờ kẻo ở lâu sẽ sinh bệnh.
Lão Vương run run môi, dặn tôi cẩn thận rồi leo lên bờ. Tôi lại hỏi Lý Kiến Dân có muốn lên không, ông ta cười, bảo mình khỏe, không sao.
Qua được bờ bên kia, toàn thân tôi run lẩy bẩy, môi tím tái, răng va vào nhau lập cập, chỉ thấy lạnh. May mà chút ánh nắng phản chiếu từ mặt nước hắt lên, sưởi cho ấm lại phần nào.
Thấy người đỡ hơn, tôi cất bước tiến vào bãi đất. Bốn phía cây cối um tùm, hơi âm u, nhưng chỉ man mát chứ không lạnh lẽo.
Tôi lấy la bàn ra, đặt vững trong lòng bàn tay, chuẩn bị trắc địa. Lý Kiến Dân tò mò hỏi: “La bàn này sao khác cái của lão Tú Tài thế?”
Tôi cười: “La bàn của lão Tú Tài chắc là loại Tam Nguyên thường dùng. Còn cái trong tay tôi đây, lai lịch chẳng nhỏ, Huyền Không bàn. Đất cát hung cát, chỉ cần nó đo, tuyệt không lọt lưới.”
Thực ra tôi nói hơi quá. La bàn trong tay tôi quả thực có chút lai lịch, nhưng không thần kỳ đến vậy, chỉ là chính xác hơn la bàn thường vài phần. Tôi cố ý thổi phồng, để phòng khi đo ra không hợp mà chủ nhà cố chấp, nhất định phải cảnh cáo trước, đã nhận tiền thì không thể để họ gặp họa.
La bàn này vốn của cha tôi truyền lại. Ông bảo là do ông nội để lại. Tôi từng hỏi ông về nó, ông thì mù tịt, chỉ nói “đồ tốt”. Sau đó tôi mang hỏi lão Tú Tài, đến giờ tôi vẫn nhớ dáng vẻ ông ta lúc ấy, run run đón lấy, nhìn kỹ hồi lâu, từ mặt mừng rỡ đến kích động, sau nhảy dựng lên lắp bắp: “Đây… đây… đây là Huyền Không bàn của Trương Trọng Sơn! Sao lại rơi vào tay một thợ khiêng quan tài, đúng là phí của giời!”
Tôi hỏi chỉ một cái la bàn thôi mà ông kích động thế sao. Ông ta nhìn tôi một lúc, nghẹn ra một chữ: “Ngu!” Rồi giảng: chế tác la bàn có sáu công đoạn: làm phôi, mài bóng, phân vạch, viết mặt bàn, bôi dầu, đặt kim từ. Trong đó, đặt kim từ là mấu chốt nhất, có câu “truyền con truyền dâu, không truyền con gái”. Người biết làm nhiều, nhưng tinh thông thì hiếm. Mà Trương Trọng Sơn chính là bậc thầy đặt kim, nên độ chính xác của bàn này khỏi phải nói.
Nghe tôi kể, Lý Kiến Dân vội rút phong bao nhét vào tay tôi: “Xin cậu, nhất định phải xem thật kỹ. Sự nghiệp của ba anh em chúng tôi trông cả vào cậu.”
Tôi xua tay, trả lại bao, nói: “Xem xong huyệt rồi đưa cũng chưa muộn.”
Ông ta tiu nghỉu, nhận lại, theo sau lưng tôi. Tôi ngẩng đầu quan sát ba dãy núi, rồi cầm la bàn bước chậm rãi quanh bãi đất, chỉnh mấy phương vị. Nhưng kỳ lạ thay, kim la bàn như loạn thần, run lẩy bẩy, lúc nghiêng trái, lúc lệch phải, không sao đứng yên.
Tôi sững lại: sao lại thế này? La bàn mất linh ư? Vừa mới khoe khoang nó, giờ thì dở chứng! Tôi vỗ nhẹ lưng la bàn, chỉnh lại, nhưng kim vẫn run không ngừng.
Đang ngờ vực, bỗng Lý Kiến Dân kéo tôi khẽ một cái, thì thầm: “Trần Bát Tiên, nghe thấy gì không?”
Tôi giật nảy mình, lập tức nín thở lắng tai. Quả nhiên, có tiếng rất khẽ: “cạch… cạch…” vọng lại.

Chương 14: Phong Thủy Địa
Âm thanh “cạch... cạch...” liên tiếp vang lên, ngày càng lớn, như tiếng gọi hồn thúc giục, khiến dây thần kinh của chúng tôi căng lên tận cùng.
Lý Kiến Dân hốt hoảng hỏi tôi: "Có phải… gặp quỷ rồi không?"
Tôi đáp: "Giữa ban ngày ban mặt thì lấy đâu ra quỷ chứ."
Bỗng nhiên, ầm một tiếng long trời lở đất, tôi kinh hãi thấy ngọn núi bên tay trái đột ngột sụp vỡ, một tảng đá khổng lồ chừng bảy tám mét vuông rầm rầm lăn xuống, theo sườn núi lao thẳng về phía chúng tôi.
Tiếng nổ ầm vang rung trời, uy thế của thiên nhiên tràn ngập, khiến chúng tôi chết lặng trong chốc lát.
Lý Kiến Dân thất thanh kêu: "Làm sao bây giờ? Làm sao bây giờ?!"
"Chạy!" Tôi vội kéo ông ta lao về phía con suối.
Tiếng đá lăn phía sau càng lúc càng gần, trong khoảnh khắc sinh tử, tiềm năng của con người bùng phát tối đa, chân chạy như bay, chỉ trong mấy hơi thở đã tới bờ suối. Không kịp nghĩ ngợi, chúng tôi nhảy bổ xuống dòng nước.
Vừa tưởng thoát nạn, thì từ bờ đối diện, lão Vương hét lớn: "Tiểu Cửu! Mau bơi đi! Đá sắp rơi xuống suối rồi đó!"
Nghe vậy, chúng tôi kinh hồn bạt vía, chẳng dám ngoảnh lại, liều mạng bơi về bờ bên kia. Đúng lúc ấy, Ùm! một tảng đá khổng lồ rơi xuống nước, bắn tung nước trắng xóa.
May mắn là chúng tôi bơi nhanh, khi đá rơi xuống suối thì đã kịp áp sát bờ. Không ai bị thương nặng, chỉ có Lý Kiến Dân lúc vội trèo lên bờ thì trán đập vào đá, sưng u một cục.
Vừa lên bờ, ông ta vừa xoa trán vừa chửi: "Xui xẻo thật, lại gặp phải núi lở!"
Ở vùng tôi vẫn lưu truyền câu nói: “Thấy núi lở, xui ba điều: một là mất tài, hai là hỏng duyên, ba là thân yếu bệnh nhiều.” Nhưng lúc này, tôi bắt đầu nghi ngờ lời đó.
Bởi tôi nhận ra long mạch bên kia đã thay đổi. Trước đó, ngọn núi bên trái cao hơn, che khuất ánh mặt trời, nay gãy mất một góc, ánh nắng liền chiếu thẳng vào mảnh đất bằng phẳng kia.
Điều kỳ diệu hơn là tảng đá rơi xuống suối. Suối vốn không rộng lắm, tảng đá vừa khéo chắn mất quá nửa dòng, khiến mực nước dâng lên. Nước dâng, ánh sáng phản chiếu trên mặt nước cũng đổi hướng, sau nhiều lần khúc xạ, bất ngờ chiếu sáng trọn vẹn cả khoảng đất bằng.
Hai luồng ánh sáng cùng chiếu, khiến khí trường nơi đó trở nên lưu thông, viên mãn.
Phong thủy cốt lõi ở chỗ “khí”. Khí thông thì vạn sự đều hanh thông. Với tình thế này, đâu cần bận tâm đến bát tự sinh thần nữa.
Nhưng bảo địa ấy cũng sinh ra một mối họa ngầm: chính là tảng đá kia.
Trong phong thủy có câu: “Thủy tức tài.” Nước tượng trưng cho tài lộc, nhưng theo Âm Dương Ngũ Hành, thủy thuộc âm. Âm cực thì tài tán.
Một khi tảng đá bị nước ăn mòn, tất sinh ra âm khí, khiến dòng suối từ sinh thủy biến thành tử thủy, cuối cùng biến bảo địa thành hung địa.
Vì vậy, nơi này chỉ là bảo địa có hạn kỳ. Tôi ước lượng sơ bộ, chỉ dùng được mười năm. Mười năm sau, nhất định phải cải táng sang chỗ khác.
Vì là lần đầu xem phong thủy, tôi không dám phán vội. Bèn lấy la bàn ra đo lại. Lần này kim chỉ cực kỳ ổn định, chỉ thẳng vào chính giữa mảnh đất. Tôi chỉ vị trí đó cho Lý Kiến Dân.
Nghe xong, ông ta vui mừng khôn xiết, lập tức dúi phong bao vào tay tôi, còn hứa rằng nếu ba anh em họ phát đạt, sẽ trọng thưởng. Chuyện mười năm sau cải táng, ông ta không chút do dự, gật đầu nhận ngay.
Việc đào huyệt tôi giao cho lão Vương, bảo ông ấy thuê người làm. Tuy mộ hơi xa đường, giá khiêng quan tài lẽ ra phải cao hơn, nhưng lúc đầu chủ nhà không nói, nên tôi vẫn trả công theo giá thường. Phần chênh lệch thì ba anh em họ phải chịu.
Một huyệt mộ tốt có thể quyết định hưng suy của cả gia tộc. Lý Kiến Dân hiểu rõ, nên chẳng so đo, còn thêm cho lão Vương một cây thuốc lá. Lão Vương cười tít mắt nhận lấy.
Khi ba người chúng tôi về đến thôn Lý thì trời đã sập tối. Trong nhà chính tụ tập không ít thân thích, không khí tang thương nặng nề.
Thấy chúng tôi, chủ nhà vội đón vào, hỏi kế tiếp nên làm thế nào. Tôi đáp: "Hôm nay tạm thời chưa cần làm gì, mai rồi tính."
Sau đó, chúng tôi ngồi trò chuyện dăm câu, rồi cùng ăn cơm tối ở nhà Lý Kiến Dân. Trong bữa ăn, ông ta kể ra chuyện chọn được huyệt địa. Nghe vậy, gia chủ cùng Lý Kiến Quốc vui mừng khôn xiết, cảm ơn tôi rối rít, suýt nữa thì quỳ lạy. Ngay cả Lý Kiến Quốc nhìn tôi cũng khác hẳn.
Các chị em dâu của họ càng nhiệt tình, liệt kê một loạt tên con gái trong làng, hỏi tôi thích ai thì họ làm mối. Tôi còn chưa từng gặp mặt, biết thích ai bây giờ? Ngượng chết đi được. May mà lão Vương nhanh trí giải vây.
Ăn xong, tôi kéo lão Vương ra chỗ vắng, hỏi: "Lão Vương, có bao nhiêu “Bát Tiên” theo ông khiêng quan tài?"
Ông sững lại, có phần không vui: "Tiểu Cửu, cậu cũng là Bát Tiên, sao nói khó nghe vậy? Chúng ta khiêng Long Cữu, chứ không phải “khiêng quan tài”!" Nói đoạn, ông trừng mắt nhìn tôi: "Cậu hỏi cái này làm gì? Chê tôi thiếu người hay sợ tôi khiêng không nổi Long Cữu?"
Tôi vội châm cho ông điếu thuốc, dỗ dành: "Đừng nóng. Người chết lần này đặc biệt, yêu cầu đối với Bát Tiên cũng khác. Những ai tuổi Tý, Sửu, Tỵ, Thìn, Thân, Hợi thì không được tham dự tang sự này."
Lão Vương thở dài, vỗ vai tôi: "Yên tâm, tôi lo đủ. Nhưng…" Ông dừng một chút, ánh mắt trở nên kỳ quặc: "Cậu nói thật đi, Bát Tiên khiêng Long Cữu… có nguy hiểm không?"
Tôi biết ông rất thương anh em Bát Tiên. Nhưng nghĩ đến mệnh cách người chết lần này, trong lòng tôi cũng bồn chồn. Đành ậm ờ: "Chắc… có lẽ sẽ không sao đâu."
Lão Vương gật gù: "Ừ, tôi hiểu rồi."
Ông châm thuốc, hút sâu mấy hơi, không nói thêm, rõ ràng đang suy tính.
Tôi liền nói: "Đây là tang sự đầu tiên mà Bát Tiên chúng ta nhận. Nếu bỏ dở giữa chừng, sau này ai còn dám mời? Hơn nữa, chẳng lẽ để người chết nằm lại trong nhà mãi? Lão Vương, tin tôi đi! Tôi sẽ không để Bát Tiên gặp nguy hiểm đâu. Có chuyện gì, tôi gánh hết!"
Thật lòng mà nói, mấy lần tôi đã muốn bỏ cuộc. Nhưng tang sự này, cũng phải có người đứng ra lo liệu.
Lão Vương trầm ngâm giây lát, rồi nói: "Được! Tang sự hay khiêng Long Cữu, rốt cuộc cũng cần có người làm. Lần này, lão già này liều một phen!"
Tôi gật đầu: "Qua tang sự này, tên tuổi Bát Tiên của chúng ta ắt sẽ vang dội cả vùng. Sau này sẽ có nhiều người tìm chúng ta, thu nhập cũng khá hơn."
Cuối cùng, tôi dặn ông kỹ: nhất định phải chọn Bát Tiên cho đúng tuổi, không được sai. Mai trước khi đào huyệt, nhớ giết một con gà trống, đốt ít giấy vàng.
Ông nhận lời, rồi một mình quay về làng.
Nhìn bóng lưng ông, lòng tôi trĩu nặng. Biết rõ lần này khiêng quan tài có thể gặp nguy hiểm, vậy mà lão vẫn đồng ý, phần lớn là vì tin tôi, phần khác là vì cái đạo nghề nghiệp.
Dù sao thì tôi nói cũng đúng: Quan tài này, không lẽ để đám “giả tiên” kia làm loạn sao?

Chương 15: Sáu Ngày
Sau khi lão Vương rời đi, tôi bảo gia chủ gọi vài người thân ruột thịt đến cùng tôi thức đêm trong nhà chính. Không phải vì tôi sợ hãi, mà bởi vì giữ đêm nhất định phải có thân nhân của người chết đi cùng, bằng không rất dễ xảy ra chuyện.
Gia chủ gọi ba anh em nhà họ Lý, trải mấy tấm chiếu tre trong nhà chính, lại bày thêm ít hạt dưa, trái cây cho mọi người.
Đêm ấy, bốn chúng tôi thay phiên nhau chợp mắt, không xảy ra chuyện gì lạ. Chỉ có lúc nửa đêm, không biết do trời trở lạnh hay vì nguyên nhân gì, mà trong nhà chính đột nhiên lạnh hơn bình thường. Tôi cũng không để tâm.
Sáng hôm sau, vừa tờ mờ, tôi bảo gia chủ bắt đầu dựng linh đường. Họ cũng hiểu tục lệ, tự tay chặt ít tre xanh, bổ đôi, uốn thành nửa vòng cung treo lên cổng lớn của nhà chính, bên trên buộc cành bách cùng hoa sen bằng giấy trắng.
Năm ngày kế tiếp, tôi gần như không rời khỏi linh đường. Trong thời gian đó, nhiều thân thích của gia chủ lần lượt đến viếng, mang pháo, vòng hoa, lễ vật. Mỗi lần như vậy, tôi đều đưa cho họ ba nén hương và ít giấy vàng, dặn phải thành tâm.
Ngày thứ sáu, vì tôi là người tiếp nhận tang sự này, nên tự bỏ hơn năm nghìn tệ, mời bảy thầy đạo sĩ đến dẫn đường cho người chết. Lúc làm lễ phá sát, sợ xảy ra tình huống như lần trước, tôi tự tay thực hiện. Kỳ lạ là, lần này viên ngói chỉ khẽ chạm nhẹ đã vỡ. (Không phải tôi lợi hại hơn đạo sĩ, mà vì mấy ông đạo sĩ ở quê chỉ biết nghi thức dẫn đường, ngoài ra chẳng hiểu gì, thậm chí có kẻ còn làm sai bét, chỉ toàn lừa tiền.)
Mọi việc mấy ngày nay diễn ra vô cùng thuận lợi, nhưng tôi cũng không vì thế mà lơ là. Chuyện tang ma, tôi đều cố gắng làm cho chu toàn.
Tầm hơn tám giờ tối, lão Vương dẫn sáu người khiêng quan tài đến tìm tôi, nói: “Tiểu Cửu, huyệt mộ đã đào xong, nhưng người khiêng quan còn thiếu một, làm sao bây giờ?”
Tôi chỉ vào mình: “Thêm tôi vào, vừa đủ tám người!”
Nói rồi, tôi nhìn kỹ nhóm bát tiên (người khiêng quan tài) mà lão Vương mang đến. Chỉ có ba gương mặt quen, còn ba người tôi chưa từng gặp, chắc là lão mời từ nơi khác. Tôi đưa cho mỗi người một điếu thuốc, dặn họ nghỉ ngơi cho khoẻ, ngày mai có thể việc khiêng quan sẽ khó khăn.
Họ đáp rằng lão Vương đã nói rõ lợi hại. Họ đến không phải vì tiền, mà vì danh tiếng của nghề bát tiên, không muốn để bọn giả tiên chê cười.
Nghe vậy, lần đầu tiên tôi cảm thấy trong lòng có chút gắn bó với nghề này. Không vì điều gì khác, chỉ vì bát tiên chúng tôi dám khiêng bất kỳ quan tài nào. Câu nói nghe có vẻ nực cười, nhưng ý nghĩa bên trong thì người ngoài không bao giờ hiểu được.
Sau đó, tôi sắp xếp cho họ nghỉ ngay bên quan tài, rồi bảo gia chủ phát cho mỗi người một chiếc khăn tay, một đôi giày vải, một bao thuốc. Tiền lì xì thì tôi nói để sau lễ sẽ phát.
Mọi việc vừa xong, lão Vương vội vàng kéo tôi ra ngoài. Tôi hỏi ông sao vậy, ông cau mày: “Tiểu Cửu, cậu không cần mạng nữa hả? Cậu là người nhận tang sự, sao còn đi khiêng quan tài được?”
Tôi liếc nhìn vào trong nhà chính, bình thản đáp: “Không sao đâu, tôi đã tính cho mình rồi, không vấn đề gì cả!”
“Thật sự không có vấn đề chứ?” Lão Vương hỏi lại, ánh mắt đầy lo lắng: “Cậu là người biết nhiều nhất trong bát tiên chúng ta. Nếu cậu gặp chuyện, bát tiên chúng ta coi như xong.”
Tôi trấn an ông: “Yên tâm đi, tôi có chừng mực mà!”
Nói rồi, chúng tôi bước vào trong nhà chính. Vì mai phải phát tang, nên thân quyến của người chết đều tập trung đông đủ, khiến căn nhà chật chội, chen chúc người.
Phải nói thật, tuy đông người, nhưng đêm nay lại là đêm yên tĩnh nhất trong suốt mấy ngày qua. Chỉ đến nửa đêm, lúc làm lễ phong quan, mới bắt đầu bận rộn. Sau sáu ngày căng thẳng, cuối cùng thần kinh tôi cũng được thả lỏng đôi chút.
Vừa bước vào, tôi thấy một bé gái ngồi thu mình ở góc phòng, cau có làm gì đó. Tôi bước đến gần, mới nhận ra là cô bé hôm trước đốt bài kiểm tra, cháu gái người chết. Nó đang loay hoay dán một con búp bê vải.
Nhớ lại lời nó nói hôm ấy, tôi nổi hứng, liền gọi lão Vương và mấy bát tiên ngồi nghỉ một chỗ, bảo lát phong quan sẽ gọi. Còn mình thì tiến lại gần bé gái.
“Làm gì thế? Gặp khó khăn à?” Tôi ngồi xổm xuống trước mặt nó.
Thấy tôi, bé con ngước lên, đôi mắt tội nghiệp: “Anh ơi, anh giúp em dán con búp bê này với, em dán mãi không được. Cha với mấy chú chẳng ai để ý đến em, anh giúp em nhé?”
Tôi xoa đầu nó, cười: “Được, đưa đây anh dán cho.”
“Vâng ạ!” Bé gái gật đầu, hôn chụt một cái lên má tôi, rồi đưa búp bê cùng lọ keo.
Tôi bật cười, cầm lấy ngắm nghía, thấy búp bê chẳng rách chỗ nào, liền hỏi: “Không bị hỏng mà, em muốn dán chỗ nào?”
“Đôi mắt.” Nó đáp tỉnh bơ.
“Tại sao?” Tôi ngạc nhiên, nhìn nó chằm chằm.
“Lần trước thấy anh dán mắt cho ông nội, vui lắm. Em cũng muốn thử. Nhưng hôm qua em rủ thằng béo hàng xóm chơi, bắt nó nhắm mắt rồi đổ keo lên, bị cha đánh một trận. Giờ em chỉ có búp bê để thử thôi.” Nó mếu máo.
Nghe mà tôi cạn lời, thầm mặc niệm cho thằng béo kia. Cũng không nghĩ nhiều, tôi giúp nó dán mắt cho búp bê, rồi ngồi trò chuyện. Con bé rất nghịch, nói chuyện lại hài hước, khiến tôi thấy nhẹ nhõm phần nào.
Nó ôm búp bê, cười tít mắt, rồi hỏi: “Anh năm nay bao nhiêu tuổi?”
“Tám mươi mốt…” Tôi đáp: “à nhầm, mười tám.”
Nó chăm chú nhìn tôi một hồi lâu, rồi chậm rãi nói: “Trong lớp em có một bạn nam, chị của bạn ấy cũng mười tám tuổi.”
Tôi cười gượng. Không lẽ bé con này cũng định mai mối cho tôi? Nhà này thật là…
Nhưng câu tiếp theo của nó khiến tôi suýt ngã ngửa: “Năm mười tám tuổi, chị ấy đã lái BMW. Còn anh mười tám tuổi thì ở đây khiêng quan tài.”
Nói xong, nó còn thở dài một cái.
Trong khoảnh khắc, tôi không muốn nói chuyện với nó nữa. Quá tổn thương lòng tự trọng! Lại còn bị một đứa nhóc chọc quê. Nếu chuyện này lan ra ngoài, chắc tôi mất mặt chết mất.
Định bụng trêu nó một chút, ai dè bị nó chơi ngược, lại không thể nổi nóng. Tôi búng mũi nó một cái, rồi đứng dậy đi tìm gia chủ, vì có vài việc cần bàn.
Không ngờ vừa tới nơi, đã thấy ba anh em nhà họ Lý đang tranh cãi kịch liệt với một người đàn ông trung niên, đôi bên mặt đỏ tía tai, mùi thuốc súng nồng nặc, sắp đánh nhau đến nơi.
Reactions: Vit.hung.han, sjlip, AiRoiCungKhac and 13 others
Chương 16: Giả Tiên
Thấy tôi bước lại gần, hai phe lập tức ngừng gây sự. Ba anh em nhà chủ hơi gượng gạo cười, chủ nhà nói: “Trần Bát Tiên, sao ngài lại qua đây? Chuyện nhỏ thôi, anh em chúng tôi tự giải quyết được.”
Sáu ngày qua ở chung, cách họ gọi tôi đã đổi khác. Từ “mày, cậu” thành “ngài”. Chỉ một chữ thôi, nhưng tôi nghe mà ấm bụng. Con người mà, ai chẳng muốn được tôn trọng?
Tôi lướt mắt nhìn người đàn ông trung niên đối diện. Ông ta mặc bộ quân phục cũ bạc màu, dáng cao lớn nhưng khung xương hơi gầy, gương mặt dài hốc hác rậm râu, sắc diện trắng bệch như mang bệnh.
Tôi còn chưa kịp mở lời, ông ta đã tiến lên, đẩy mạnh vai tôi một cái: “Thằng nhãi này, mày chính là kẻ cướp việc làm ăn của bọn tao phải không?”
Trong đầu tôi thoáng nghĩ, gã này chắc chính là “giả tiên” ở thôn Lý. Nếu ở đây mà ầm ĩ, chắc chắn bất lợi cho chúng tôi. Người ít, đất khách quê người, có cứng cũng chẳng bằng mềm.
“Anh hùng không chịu thiệt trước mắt.” Tôi lùi vài bước, không thèm đáp trả, chỉ quay sang dặn chủ nhà: “Đi chuẩn bị chăn gối cho con cháu, tám lạng thóc, và ba điểm phong quan.”
“Vâng.” Chủ nhà gật đầu, phụ họa một câu rồi quay người đi. Hai người em cũng nhìn nhau, rồi bước theo sau.
Tôi đang định rời đi, người đàn ông trung niên lại chắn ngang trước mặt, đẩy tôi thêm một cái: “Thằng nhãi, chán sống rồi à? Dám coi thường tao?”
Tôi liếc ông ta, nhạt giọng hỏi: “Ông muốn thế nào?”
Ông ta cười khẩy: “Từ khi lập làng đến giờ, thôn Lý chúng tao xưa nay là đại thôn, nhân lực đầy đủ, chưa từng nhờ người ngoài khiêng quan tài. Tốt nhất mày để việc này cho người bản thôn. Nếu không, đừng hòng khiêng nổi cỗ quan ra khỏi nhà!”
Rồi ông ta hạ giọng đe dọa: “Không tin lời tao à? Đợi đến ba giờ sáng mà xem!”
Tôi hờ hững đáp: “Chuyện này, ông cứ bàn với chủ nhà. Ở đây ồn ào với tôi thì ích gì?”
Mối đe dọa ấy, tôi chẳng để bụng. Lâu nay đã nghe tiếng dân thôn Lý cục cằn, giờ gặp mới thấy lời đồn chẳng sai.
“Ba thằng hèn kia đồng ý hết rồi, giờ chỉ còn chờ mày gật đầu!” Hắn nở nụ cười đắc ý, giọng khiêu khích: “Đồng ý, thì bọn tao coi mày là một nhân vật. Không đồng ý, quan tài sẽ nằm yên tại chỗ, chẳng ai được khiêng đi!”
“Vậy sao?” Tôi cười nhạt trong lòng. Ba anh em chủ nhà, mấy ngày qua tôi nhìn thấu tính tình, chẳng phải hạng lật lọng.
Thấy tôi không tin, hắn liền gào ra cửa: “Lý Hả Tử! Bảy thằng vào đây! Có ngoại nhân muốn cướp việc của làng mình!”
Tiếng quát ấy lập tức gọi thêm bảy người nữa. Cả đám Bát Tiên và người thân tang chủ cũng hoảng hốt, không khí hỗn loạn. Trong tang sự, điều kiêng kỵ nhất là ồn ào, nhưng ở nông thôn, mấy đám tang nào chẳng có cãi vã: chuyện lễ nghi sơ sót, sính lễ nặng nhẹ, hay tranh giành người khiêng quan.
Là người nhận việc, tôi dĩ nhiên chẳng muốn Bát Tiên và Giả Tiên thôn Lý xông vào ẩu đả. Đành nhún một bước, cất tiếng hỏi người đàn ông trung niên: “Các ông chắc chắn muốn khiêng?”
Cả đám đồng thanh gật đầu: “Nhất định phải để bọn tao khiêng!”
“Được, vậy thì cho các anh khiêng.” Tôi thuận theo, dập tắt mồi lửa. Lão Vương cùng mấy người Bát Tiên còn định mở miệng, tôi đã khoát tay ngăn lại: “Cứ để họ khiêng đi, trong lòng tôi có tính toán cả.”
Cơn ồn ào lắng xuống. Ba anh em chủ nhà lại gần, thấp giọng hỏi: “Thật sự giao cho họ khiêng? Thế lão Vương và mọi người thì sao?”
Tôi bảo họ cứ lo chuẩn bị phong quan, lễ vật tiễn đưa, đừng xen vào chuyện này. Họ gật đầu, chỉ dặn một câu: “Đừng làm rùm beng quá, không thì chúng tôi khó xử lắm.”
Lời ấy, tôi hiểu rõ. Họ đang nhắn nhủ: ân oán giữa Bát Tiên và Giả Tiên, đừng kéo chủ nhà vào. Cùng làng, sớm tối chạm mặt; còn chúng tôi chỉ là khách được mời. Nếu thật sự ẩu đả, họ chẳng thể đứng về bên nào, giúp chúng tôi thì mất lòng người làng, mà giúp Giả Tiên thì phản bội khách. Thế nên họ phải nói trắng ra, và hẳn cũng sẽ nói điều tương tự với phía bên kia.
Bát Tiên của chúng tôi vốn biết cỗ quan này khó mà khiêng trọn vẹn, lại càng khinh thường thái độ né tránh của chủ nhà, miệng bảo “chủ nhà không có trách nhiệm.” Tôi an ủi họ vài câu, rồi rút thêm mỗi người một trăm đồng, bảo tất cả tạm ra ngoài làng chờ tin tức. Phòng khi bất trắc, tôi còn dặn lão Vương mời bằng được Lưu quả phụ, người đàn bà chua ngoa nhất làng tôi tới đây.
Ở quê, đàn ông đôi khi còn chịu nói lý, chứ đàn bà thì không. Họa gặp mấy mụ đanh đá, chửi rủa chẳng cần phân phải trái. Có kẻ quá quắt, còn thò tay xuống háng, rồi tát thẳng vào mặt đàn ông. Họ bảo, đó mới là cái tát độc địa nhất. Chẳng có cơ sở gì, nhưng đàn ông quê tôi ai cũng kiêng, chỉ nghe thôi đã thấy ghê. Thế nên, mời Lưu quả phụ tới chính là để chặn mấy mụ dữ dằn ở thôn Lý.
Lo liệu xong, tôi ngồi xuống bên đầu quan tài, nhắm mắt lại. Sáu ngày vất vả, thân xác kiệt quệ. Vừa khép mi, tôi đã thiếp đi.
Không biết ngủ bao lâu, chỉ thấy có người lay mạnh: “Trần Bát Tiên, sắp đến giờ rồi, mau dậy!”
Mở mắt ra, trước mặt là ba anh em chủ nhà cùng lão Vương. Thấy tôi tỉnh, lão Vương lên tiếng trước: “Tiểu Cửu, người tôi dẫn đến rồi, còn gọi thêm chục Bát Tiên nữa!”
Tôi sửng sốt, chưa hiểu, bèn hỏi: “Gọi đông thế làm gì?”
Lão Vương cười: “Anh em Bát Tiên nghe tin chúng ta ở thôn Lý bị cướp việc, tức lắm, nên ùn ùn kéo đến để thị uy!”
Tôi quát ngay: “Loạn cả rồi! Chúng ta đến là để lo tang lễ, khiêng quan, không phải đánh nhau. Gọi nhiều người thế để làm gì? Đánh nhau à? Phô trương à? Lập tức bảo họ về, chuyện này tôi tự giải quyết!”
Lão Vương gãi đầu, lí nhí: “Họ tự nguyện tới, tôi cũng chẳng ngăn được…”
“Tìm cách đuổi về hết! Nhớ kỹ, chúng ta không được cậy đông cậy mạnh. Nếu đánh nhau, bị công an tóm, thì chúng ta mới là kẻ sai. Muốn ngồi tù à?” Tôi gầm lên.
“Đúng, đúng! Màu tang biến thành màu máu, kéo đến đồn công an thì ai cũng mất mặt!” Ba anh em chủ nhà phụ họa.
Lão Vương hậm hực: “Nhỡ đánh nhau, Bát Tiên chỉ còn tôi với cậu, chẳng lẽ để họ đánh chết?”
Tôi nhìn ông, nói rành rọt: “Đã chọn nghề Bát Tiên, thì bị ăn đòn có đáng gì. Dù thật sự bị dân thôn Lý vây đánh, chủ nhà chẳng lẽ ngồi nhìn? Mau đi, bảo họ rút ra ngoài làng, canh ở đó. Nếu có biến, chỉ cần họ kịp chạy vào cũng được. Nhưng trong làng, tuyệt đối không được tụ tập!”
Tôi còn nhấn mạnh: “Nhớ kỹ, nếu chuyện này lôi tới công an, thì chúng ta mới là bên có lý. Vì sao? Câu đầu tiên công an bao giờ cũng hỏi: ai ra tay trước? Chúng ta chỉ có hai người, ai cũng biết chẳng thể nào là kẻ gây sự!”

Chương 17: Phong Quan
Lão Vương liếc tôi một cái, ánh mắt sáng như muốn nói “cứ để ta lo”. Ông ta gân cổ hô to: "Huynh đệ, Trần Bát Tiên đã nói, chúng ta là người giữ đạo lý, chẳng như có kẻ ỷ thế mà cướp việc! Đi thôi, rút!"
Tôi bất giác cười khổ. Lúc bỏ đi, lão vẫn không quên hô tên Bát Tiên như một tấm biển hiệu rao giữa đám đông, đúng là kẻ biết mượn gió mà bẻ măng.
Khi bọn họ đi khỏi, tôi nhìn đồng hồ, đã gần ba giờ. Tôi liền bảo chủ nhà mời bớt thân thích ra ngoài, chỉ giữ lại con cháu huyết thống gần gũi, chuẩn bị nghi lễ phong quan.
Phong quan, tục còn gọi “mão đinh”, “sát khấu”, nghĩa là đóng chặt nắp quan tài, dùng năm chiếc đinh thọ để chốt lại. Có nơi ba chiếc, có nơi bảy, còn ở đây thì nhất định là năm.
Bốn chiếc đinh thường: nam tử thì đóng ba bên trái, một bên phải; nữ tử thì ngược lại, ba bên phải, một bên trái.
Chiếc cuối cùng gọi “chủ đinh” dài hơn ba tấc, ghim thẳng vào chính giữa đầu quan tài.
Theo tục lệ, chủ đinh phải do cậu ruột hoặc chú ruột đảm nhiệm. Khi giơ búa, người ấy có quyền mắng trách con cháu bất hiếu, lột trần hết nỗi khổ mà người chết từng chịu lúc sinh thời. Con cháu phải quỳ trước linh cữu, im lặng chịu đựng, không được phản đối. Nếu trưởng bối không vừa ý, nghi lễ phải đình lại, chủ đinh không được đóng xuống. Lúc ấy, cả họ phải ra sức cầu xin, dâng tóc xanh làm lễ, chôn cùng chiếc đinh kia.
Trước khi phong quan, còn có nghi thức “tử tôn bối phủ”. Khác sách vở hư cấu, ở đây không tính nặng nhẹ mà tính số lượng, càng nhiều chăn gối, âm phần của người chết càng đủ đầy. Nhưng tuyệt đối không được là số năm hay chín, bởi “cửu ngũ chí tôn” vốn dành cho đế vương, phạm vào thì chẳng khác nào đại nghịch. Nếu lỡ trao năm hoặc chín, ắt phải sắp đặt thứ tự huyết thống: từ chú bác, con trai, con gái, cháu ruột, cháu ngoại… chỉ cần sai sót một ly là đủ để cả họ oán thù. Đám tang vốn ngoài mặt thuận hòa, nhưng bên trong lại như dòng ngầm đầy đao kiếm.
Chẳng bao lâu, ba anh em chủ nhà mang đến ba tấm bối phủ. Tôi căn theo thứ bậc mà lần lượt trải lên người chết, rồi hỏi xem có ai ngăn trở việc đóng đinh không. Chủ nhà lắc đầu: không.
Tôi lấy ra năm chiếc thọ đinh đã chuẩn bị sẵn, cùng một cái rìu gỗ, bảo ba anh em phụ giúp. Chúng tôi hợp nắp quan, đóng ba chiếc bên trái, một chiếc bên phải. Đến chủ đinh, tôi hơi bất an, liền dặn lấy chu sa bôi kín, rồi mới nâng búa ghim mạnh xuống.
Mọi sự trôi chảy quá mức. Không một tiếng gió lạ, chẳng có gì ngăn trở. Nhưng chính sự thuận lợi này khiến tôi lạnh gáy. Theo sách tang điển, người mệnh cách đặc biệt thì lễ táng thường đầy dị biến. Lần này, ngoài lúc khâm liệm có chút quái dị, thì phong quan lại quá yên ả, yên ả đến mức chẳng hợp lẽ thường.
Cỗ quan vừa đóng xong, tiếng khóc òa dậy trong lễ đường, thân nhân gào thét bi thương, âm thanh xé nát canh ba, cho tới khi ánh sáng mờ của bình minh rọi vào thì mới dần lắng xuống.
Tôi nhìn đồng hồ: gần năm giờ. Bèn bảo chủ nhà gọi bọn “giả tiên” ở Lý thôn tới khiêng. Chủ nhà không nhiều lời, vội vã đi tìm.
Một lát sau, tám gã giả tiên bước vào. Trông thấy tôi đứng trước quan, sắc mặt họ trầm hẳn xuống. Gã trung niên cầm đầu cười nhạt: "Nhóc con, nghe nói ngươi là người chủ trì tang sự? Chúng ta không tham, mỗi người hai trăm, thiếu một xu cũng không động tay!"
Mặt tôi sa sầm. Giá khiêng quan bình thường chỉ một trăm, nay bọn họ ép giá gấp đôi, rõ ràng muốn đè bẹp kẻ ngoại thôn. Tôi muốn tranh luận, nhưng nhớ tới mệnh số của người đã khuất, lại đành nuốt giận, gật đầu đồng ý, chỉ mong nhanh chóng đưa quan ra khỏi nhà.
Gã trung niên vỗ vai tôi, cười khinh khỉnh: "Khá lắm, biết thức thời! Hơn hẳn lão Vương chột mắt kia. Thế nào, có muốn theo chúng ta kiếm cơm không?"
Tôi bật cười, giọng lạnh như sương: "Lão Vương dắt tôi vào nghề. Bán nghĩa phản sư, việc ấy tôi làm không nổi."
Không thèm để ý đến vẻ mặt hắn, tôi thúc giục họ buộc giá long, chuẩn bị khiêng quan ra tới đầu làng. Vì hôm nay chỉ đưa đến đó, rồi nghỉ ăn sáng, trưa mới lên núi, nên vòng hoa, pháo giấy, hương đăng đều được dặn người thân chở trước ra ngoài.
Khi họ buộc giá xong, tôi hỏi lại lần nữa: "Các người chắc chắn muốn khiêng chứ?"
"Còn làm trò gì nữa? Hay ngươi muốn lão Vương vác vào à?" gã trung niên gằn giọng, mắt tóe lửa: "Đừng lề mề, coi chừng ta tống ngươi ra khỏi Lý thôn!"
Tôi khẽ nhếch môi: "Nếu có chuyện chẳng lành, các người sẽ không oán tôi chứ?"
"Hừ, tám mươi mấy tuổi, đại thọ, là hỉ tang, có thể xảy ra chuyện gì? Mau hô một tiếng, chúng ta còn về ngủ!" gã gắt gỏng, thiếu kiên nhẫn.
"Được! Vậy làm đàn ông thì hãy nhớ kỹ lời mình!" Tôi hất tay, ra hiệu cho chủ nhà đốt pháo.
Đùng đoàng! Tiếng pháo rền vang, khói mịt mù lấp đầy cả đường đường. Tôi gân cổ hô lớn: "Khởi… quan!"
Lời vừa dứt, trống chiêng vang động, tiếng khóc nức nở của thân nhân hòa vào tiếng pháo, át cả nhịp trống, như dao cắt vào tai.
Khung cảnh náo nhiệt mà rợn ngợp. Tôi giơ gậy khóc tang, đi trước, rắc từng tờ giấy vàng, miệng lầm rầm cầu khấn, mong đừng có tai biến.
Ba anh em chủ nhà cùng con cháu bám quanh quan tài, khóc lóc như xé ruột. Những nàng dâu thì vỗ thùng quan, gào thét: "Cha ơi! Sao cha đi sớm thế, chúng con còn chưa kịp báo hiếu! Trời không mắt, đất chẳng nước, ôi…"
Tiếng khóc ấy thấu tận tim gan, khiến tôi cũng run rẩy, mờ mắt. Bao thân quyến, chẳng ai còn giữ được bình tâm.
Bỗng phía sau vang lên tiếng la hốt hoảng: "Trần Bát Tiên! Không xong rồi… Quan tài… không nhấc nổi!"

Chương 18: Quỳ Xuống
Tôi vẫn luôn thấp thỏm lo sợ chiếc quan tài xảy ra chuyện, chẳng ngờ đến lúc này nó thực sự có biến. Tôi quay phắt đầu nhìn về phía gia chủ, thấy ông ta run rẩy môi nói: “Xảy… xảy ra chuyện rồi, quan tài không nhấc nổi!”
“Tại sao lại thế?” tôi hỏi dồn.
“Ngài tự đến xem sẽ rõ.” Ông ta lôi tôi đi thẳng về phía quan tài.
Trước mắt, tám gã khiêng tang, bọn “giả tiên” chuyên làm đám thuê đang vặn vẹo cả thân mình, gồng hết sức như muốn rút cả hơi tàn mà cỗ quan vẫn nằm bất động trên nền đất, chẳng nhúc nhích lấy một ly.
“Con mẹ nó, không tin là không khiêng nổi! Mọi người cùng dồn sức nào!” gã trung niên cầm đầu vừa rít vừa chửi tục, rồi hô: “Một, hai, ba, nhấc!”
Tám gã lại đồng loạt cất vai, nhưng quan tài vẫn trơ trọi chẳng khác tảng đá ngàn cân. Gã trung niên tức tối rủa: “Quỷ quái thật! Lại lần nữa!”
“Trần Bát Tiên, phải làm sao đây? Có lỡ giờ lành không?” gia chủ sốt ruột hỏi.
Tôi chỉ cười khẩy: “Yên tâm, còn lâu mới tới giờ. Cứ để họ khổ sở thêm chút, kẻo lại tưởng gây chuyện dễ dàng.” Nói đoạn, tôi thong thả bước tới, định “cổ vũ” đôi câu.
“Tám người đàn ông cao to mà nhấc không nổi một cái quan, lực chắc đều dùng vào đàn bà cả rồi hả?” tôi đứng bên quan, cười nhạt mỉa mai.
“Con mẹ nó! Anh em, gắng lên, đừng để người ngoài làng chê cười!” gã cầm đầu trừng mắt nhìn tôi, gào với đám khiêng.
“Phải đó, không dồn sức thì làm sao nhấc nổi?” tôi dửng dưng phụ họa, giọng đều đều.
Nguyên do thì tôi hiểu rõ: người chết thuộc loại mệnh đặc biệt, ai khiêng quan đều phải hợp số, hợp vía. Đám “giả tiên” tưởng ai cũng có thể vác, vậy thì cứ để họ nếm mùi bất lực.
Bọn họ thử đi thử lại ba lần, mặt đỏ gay, mồ hôi ròng ròng, song quan tài vẫn dính chặt mặt đất như mọc rễ. Cảm thấy bất thường, gã trung niên quay sang tôi: “Nhóc con, có phải ngươi giở trò gì không?”
Tôi nhún vai: “Ông nghĩ tôi có bản lĩnh ấy à?”
Gã quét mắt nhìn tôi một lượt, rồi lắc đầu: “Xem chừng ngươi không có. Giờ thì phải làm sao?”
“Để lão Vương lên khiêng, bằng không có xảy ra chuyện gì tôi chẳng gánh đâu!” tôi nói thẳng, không muốn vòng vo. Bởi thấy gia chủ bên cạnh đã bồn chồn lắm rồi; tang sự vốn là việc trọng đại, chẳng thể sơ sẩy.
“Hừ! Lão Vương cái con khỉ!” gã trung niên cười gằn, giọng bỗng xoay ngoắt: “Anh em! Chính thằng nhãi này giở trò, đánh nó cho ta!”
Nói rồi hắn phất tay, đám “giả tiên” liền xông tới vây lấy tôi.
Tôi cũng chẳng hốt hoảng. Bao nhiêu họ hàng nhà chủ còn ở đây, tôi không tin họ trơ mắt để tôi bị đánh. Chưa nói tới thân phận người lo tang, chỉ riêng việc tôi tìm được mộ huyệt cũng đủ khiến họ không thể bỏ mặc.
Quả nhiên, khi bọn “giả tiên” vừa siết vòng, thì anh em Lý Kiến Dân, Lý Kiến Quốc dẫn hơn chục tráng đinh tiến lại. Lý Kiến Dân quát: “Lý Hắc Tử! Hôm nay là ngày cha tôi nhập quan, các anh liệu mà đừng gây rối! Bằng không, anh em họ Lý bọn tôi chẳng nể tình đồng hương đâu!”
“Hà! Ỷ đông hiếp yếu à?” Lý Hắc Tử liếc tôi lạnh lùng, rồi quay sang một gã gầy hơn: “Khỉ, gọi cho thằng cháu tao, bảo chú nó sắp bị người đánh chết. Bảo nó đến đồn công an kéo thêm người qua!”
Nghe vậy, tôi chỉ thấy buồn cười vì hắn nói năng chẳng đâu vào đâu. Nhưng sắc mặt gia chủ lập tức biến đổi, vội vàng kéo tôi sang bên thì thào:
“Ngài… ngài làm ơn cho họ khiêng đi. Nếu cháu Lý Hắc Tử đến, chuyện sẽ rắc rối lắm!”
Tôi cau mày: “Dù công an tới cũng phải nói lý chứ? Có gì mà sợ?”
Gia chủ run giọng: “Cậu không biết, cháu hắn tên Lang Cao, mới hai mươi đã làm trưởng đồn, thế lực phía sau rất cứng. Lý Hắc Tử dám hống hách chính nhờ nó!”
Thú thật, tôi chỉ là dân thường, nghe vậy không nói là không sợ thì dối lòng. Nhưng nghĩ đến người chết với mệnh cách đặc biệt ấy, tôi tuyệt đối không thể để họ làm bậy. Tôi gằn từng chữ với gia chủ: “Cứ để hắn đến. Tôi không tin thế gian này không còn pháp luật!”
“Nhưng… nhưng… hôm nay là ngày cha tôi nhập đất. Một khi loạn lên, nếu cha tôi trách phạt dưới cửu tuyền, cả nhà tôi coi như tiêu rồi!” Gia chủ nói xong, vành mắt đã hoe đỏ.
Tôi thở dài bất lực. Ăn cơm nhà người, phải nghe theo người ta. Ông ta cầu khẩn như vậy, tôi cũng khó chối từ, đành nói thật: “Cha ông bát tự có vấn đề, quan tài khó mà nhấc được.”
“Thế giờ làm sao? Chẳng lẽ cứ để quan tài nằm lì trong nhà sao?” Gia chủ thoáng nhìn Lý Hắc Tử, rồi lại nhìn chiếc quan, giọng mang chút van lơn: “Ngài đã nhận lo đám tang, xin đừng bỏ dở nửa chừng.”
“Yên tâm, tôi sẽ có cách. Nhưng trước hết, phải đuổi bọn ‘giả tiên’ kia đi, không thì khó mà xử lý.”
Gia chủ cắn răng, như hạ quyết tâm lớn. Ông ta cùng hai người em trai liền bước thẳng tới trước mặt Lý Hắc Tử, rồi đồng loạt quỳ sụp xuống: “Anh Lý! Bao năm cùng làng, tôi Lý Kiến Dân, chưa từng cầu xin điều gì. Hôm nay cha tôi xuất quan, xin anh nể mặt, cho lão Vương khiêng. Tiền công, một xu cũng chẳng thiếu cho các anh.”
“Không phải chuyện tiền nong, mà là quy củ làng xưa nay: chưa từng để người ngoài khiêng quan! Các anh phá lệ, chẳng khác gì phá vỡ gia phong!” Thấy ba anh em nhà họ Lý quỳ, giọng Lý Hắc Tử cũng dịu lại đôi chút.
“Nhà tôi nghèo, không đủ sức mời ‘người chuyên nghiệp’. Đành phải nhờ đám Trần Bát Tiên. Xin anh thương tình, cho cha tôi được yên nghỉ nơi đất mẹ!” Nói rồi, ba anh em dập đầu mạnh xuống đất.
Cảnh ấy khiến lòng tôi nhói buốt. Đúng là nỗi khổ của dân quê. Tôi bước đến, đỡ ba anh em họ Lý dậy, rồi nhìn thẳng vào Lý Hắc Tử: “Quan tài không động được, chẳng phải tôi giở trò. Các người cũng khỏi cần gọi Lang Cao tới. Nếu thật sự muốn khiêng, cũng có cách. Nhưng lỡ xảy ra chuyện, đừng đổ cho tôi!”
Tôi nhìn thẳng vào mắt hắn, nhấn từng chữ: “Các người… thật sự… muốn… khiêng?”
Lý Hắc Tử thoáng do dự, bàn bạc với bọn “giả tiên” một chốc rồi nói: “Chỉ cần khiêng được, chúng tôi nhất định đưa quan đến mộ!”
“Tốt. Đừng để hối hận!”
Dứt lời, tôi rút từ túi ra mấy đồng tiền đồng, tung mạnh lên không trung.
Ngay tức khắc, những đồng tiền bay thành hình bát quái. Tôi đập một chưởng xuống đầu quan, miệng quát lớn: “Cát bụi trả về cát bụi, dương gian không lưu kẻ âm hồn!”
Tiếng tôi vừa dứt, ánh trăng mờ nhòe cũng vụt tắt. Tiếng sấm rền vang, mưa lớn đổ xuống, cả không gian chìm trong một màu đen đặc, phảng phất mùi vị quỷ dị khó tả…

Chương 19: Quan Tài Trở Nên Nhẹ (Thượng)
Trời u ám đến rợn người. Mưa xối xuống từng hạt to như hạt đậu, nện dữ dội lên mái ngói, phát ra những tiếng tí tách, tí tách buốt tai. Tiếng mưa ấy nặng nề, như đè xuống lồng ngực mọi người, khiến cả không gian chìm vào một bầu không khí u uất.
Nhìn cảnh tượng trước mắt, tôi hiểu rằng: cuối cùng, cái mệnh kia cũng bị chạm đến rồi. Tôi hít một hơi thật sâu, đem cây gậy khóc tang giao lại cho người thổi kèn, để hắn đi trước dẫn đường. Còn tôi, bước về phía quan tài, lòng chẳng yên khi để mặc cái đám “giả tiên” kia lo liệu.
Gia chủ vội vàng cho người đi lấy thêm vài chiếc đèn pin. Trong tiếng trống chiêng dội rền, tiếng sấm nổ ầm ầm, xen lẫn tiếng khóc tang thê lương, quan tài được từ từ nhấc lên, chầm chậm rời khỏi gian chính.
Ra khỏi cửa, mưa đã biến sân đất khô thành bùn nhão, vậy mà quan tài vẫn được khiêng đi vững vàng, chẳng lung lay. Đám giả tiên nở nụ cười đắc ý, còn Lý Hắc Tử thì liếc sang tôi, ánh mắt đầy thách thức.
Nhìn cái vẻ mặt ấy, trong tôi dâng lên một cơn ghê tởm khó tả. Vì chút tiền bạc, người ta có thể làm bất cứ điều gì, bất chấp cả điều kiêng kỵ. Thôi thì, mong tổ tiên nhà các ngươi phù hộ, để các ngươi còn toàn mạng mà khiêng cho trọn đường.
Đi, đi mãi, chẳng mấy chốc đã sắp ra đến cổng làng. Lúc này, tai tôi bỗng bắt được một âm thanh kỳ dị, những tiếng thì thầm khe khẽ, rợn rợn như tiếng lũ tiểu quỷ rỉ rả bên tai. Da đầu tôi bỗng lạnh buốt.
Tôi nheo mắt nhìn quanh, chỉ thấy một màn đen đặc quánh, tối đến mức không phân biệt nổi vật gì. Sự quái dị như bao trùm cả không gian, khiến lòng tôi bất giác nảy sinh nỗi hoang mang vô cớ.
Đột ngột, một tiếng sấm nổ dữ dội. Tia chớp xé toạc bầu trời, bổ thẳng xuống ngay sát cạnh tôi, chưa đầy nửa gang tay. Chỉ trong khoảnh khắc, mảnh đất ẩm ướt đã hóa thành một vệt cháy sém, khói xanh mỏng tang bay lên, mang theo mùi khét nghẹn người.
Mồ hôi lạnh ròng ròng chảy xuống lưng tôi. Chưa bao giờ cái chết lại gần mình đến vậy. Nếu tia sét kia lệch thêm một chút, e rằng thân xác tôi đã hóa thành tro bụi.
Tôi còn đang thất thần, thì mấy tiếng “Ái da!” bật lên cùng lúc. Nhìn lại, tám tên giả tiên khiêng quan tài đồng loạt ngã lăn ra đất, mặt trắng bệch, lăn lộn kêu rên. Quan tài lại rơi phịch xuống, nằm im lìm giữa đường.
Đám người đưa tang bỗng rối loạn như ong vỡ tổ, kẻ la hét “có quỷ!”, kẻ vứt vòng hoa, bỏ lễ mà chạy toán loạn. Cảnh tượng hỗn loạn không khác gì một bãi chiến trường.
Ba anh em nhà chủ tang cùng đám thân thích vội quỳ sụp xuống, khóc gào thảm thiết: “Cha ơi! Nếu chúng con có chỗ nào bất hiếu, xin cha hãy báo mộng cho chúng con, chúng con nhất định sẽ làm theo!”
Tôi biết lúc này, có nói gì cũng chẳng ai nghe, bèn tức tốc chạy ra đầu làng, gọi lão Vương cùng đám bát tiên thực thụ đến. Họ nhìn thấy cảnh tượng, mặt mày cũng biến sắc, hoang mang chẳng kém.
Tôi phân phó cho mấy người không khiêng quan tài dìu tám tên giả tiên kia về. Sợ mấy bà vợ lại mắng nhiếc om sòm, tôi còn bảo góa phụ Lưu đi theo. Thế nhưng, vừa mới đỡ họ dậy, đám giả tiên liền khụy gối, chân mềm nhũn không đứng nổi. Hỏi nguyên do, họ chỉ thều thào rằng chân tay rã rời, chẳng còn chút sức lực. Bất đắc dĩ, các bát tiên đành cõng từng người một, lảo đảo rời đi.
Còn lại sáu bát tiên cùng lão Vương, tất cả ánh mắt đều đổ dồn về tôi, chẳng biết phải xử trí thế nào. Bảo họ khiêng, lời này khó thốt; mà không bảo khiêng, quan tài cứ nằm chỏng chơ ở đây, cũng chẳng xong.
Lão Vương là người lên tiếng trước: “ Tiểu Cửu, cậu nói đi, làm sao thì làm. Chúng tôi nghe cậu.”
Mấy bát tiên khác cũng gật gù: “Đúng đấy. Giờ cậu là đầu lĩnh của bọn tôi. Cậu bảo sao, chúng tôi làm vậy. Sau này cơm áo còn trông vào cậu.”
Tôi cảm động, cúi đầu cảm tạ, rồi nghiêm giọng: “Lần này khiêng quan tài, có thể sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng đã bước chân vào nghề bát tiên, thì không thể khiến gia chủ thất vọng, càng không thể để người chết không yên nghỉ.”
Nghe vậy, ba anh em gia chủ nghẹn khóc, cả nhà lập tức quỳ mọp xuống trước mặt chúng tôi: “Các anh là người tốt! Trời đất ắt sẽ phù hộ cho các anh được báo đáp!”
Tôi đỡ họ dậy, nhanh chóng sắp xếp lại đội ngũ. Cũng chẳng còn bụng dạ nào ăn uống, tôi dặn thẳng: “Khiêng thẳng ra mộ huyệt, chôn cất ngay. Sau đó mời đạo sĩ đến làm phép. Nếu còn chần chừ, e rằng lại sinh biến.”
Gia chủ đã hồn vía lên mây, nào dám trái lời, vội cho người cầm gậy khóc tang dẫn lối. Vừa mới xảy ra chuyện, chẳng ai ngoài bát tiên dám nhúng tay. May thay, lần này bát tiên kéo đến hơn chục người, nên cử một gã béo xách gậy khóc đi đầu.
Tôi bảo lão Vương cùng mấy bát tiên, trước khi chạm vai, phải thắp ba nén hương vái lạy trước quan tài, tỏ chút thành tâm. Đường lại trơn vì mưa, chúng tôi mỗi người đều cầm thêm một cây gậy để chống trượt.
Rút kinh nghiệm từ lần trước, lần này tôi xung phong khiêng đầu, bởi cả đám đều đã có tuổi, trẻ nhất cũng bốn mươi bảy, lớn nhất gần sáu mươi. Chỉ mình tôi còn sức trai trẻ.
Họ bàn bạc chốc lát, rồi gật đầu: “Hậu sinh khả úy.”
Tám người chúng tôi cùng đặt đòn khiêng lên vai, chuẩn bị nhấc. Để phòng bất trắc, tôi lén rưới ít huyết gà lên đầu và cuối quan tài.
“Trong số các ông, không ai tuổi Tý, Sửu, Tỵ, Thìn, Thân, Hợi chứ?” Tôi cẩn thận hỏi.
Họ đồng loạt lắc đầu. Lúc này tôi mới yên tâm, hô lớn: “Một, hai, ba… khởi giá!”
Chúng tôi cùng dồn sức, nhấc bổng quan tài. Ngay giây phút ấy, tim tôi khựng lại, quan tài nhẹ bẫng, đến mức còn chẳng nặng bằng chính nó khi rỗng.
Vừa đi, tôi vừa thấp giọng hỏi lão Vương: “Ông thấy quan tài có nhẹ không?”
Lão chỉ khẽ “Ừm” một tiếng. Tôi lại hỏi mấy người khác, tất cả đều xác nhận: quả thật rất nhẹ.
Mang theo sự hoang mang, chúng tôi chậm rãi tiến về phía huyệt mộ. Vì quá nhẹ, suốt quãng đường chẳng cần nghỉ, một mạch đi thẳng đến nơi.
Khi vượt con suối trước huyệt mộ, trời đã hửng sáng, mưa cũng ngớt. Tôi lại hỏi lão Vương: “Giờ thì sao, còn nhẹ nữa không?”
Ông chau mày, đáp: “Kỳ lạ thật, càng đi lại càng nhẹ hơn.”
Những bát tiên khác cũng phụ họa.
Tôi ngẩng nhìn mộ phần đối diện, rồi cúi xuống nhìn quan tài, trong lòng đầy thắc mắc. Bao đời nay chỉ nghe chuyện quan tài nặng thêm, chưa từng có chuyện càng khiêng lại càng nhẹ. Nếu bảo là cảm giác sai, thì không thể tám người cùng nhầm lẫn.
Chẳng lẽ do mộ huyệt? Nhưng điều này không thông. Nếu huyệt địa có uy lực ấy, sao lại có sấm sét dữ dội ban nãy? Phàm là long mạch tốt, chỉ khi nhập thổ mới phát phúc cho con cháu, nào có chuyện quan tài bỗng nhẹ như lông hồng?
Hay là vì “cái mệnh” kia? Nhưng tra trong Tang Kinh, chỉ thấy chép: “Mệnh ấy, đại kỵ. Người đưa phải thành, kẻ khiêng phải tránh, phạm tất có sét.” chẳng có chỗ nào nhắc đến chuyện quan tài nhẹ đi.
Lật tung hết kiến thức trong đầu, tôi vẫn không tìm ra lời giải. Cuối cùng đành dứt khoát, không nghĩ ngợi thêm, chỉ tập trung khiêng quan tài qua suối, đưa xuống mộ cho xong.

Chương 20: Quan tài trở nên nhẹ (hạ)
Nhà chủ sớm đã biết quan tài phải đưa qua con suối, nên từ trước đã buộc sẵn vài chiếc bè tre ở đó. May mà nước chảy không xiết, bè tre vẫn có thể chở sang bờ bên kia.
Chúng tôi để một người bơi qua trước, kéo theo đầu dây, còn đầu kia buộc vào bè. Trên bè đặt hai chiếc ghế gỗ, rồi đặt quan tài lên trên đó.
Tiếp đó, sắp xếp vài người sang bờ bên kia kéo. Mất chừng hơn nửa giờ, quan tài mới được kéo qua được. Tôi đang định đốt ít vàng mã, chuẩn bị đưa quan tài xuống khỏi bè, thì bỗng có người hét to: “Máu! Nhiều máu quá!”
Nghe vậy, tôi nhìn lại thì thấy đáy quan tài bị thủng một lỗ nhỏ, máu từ bên trong rỉ ra, tí tách rơi xuống. Chẳng mấy chốc, cả bè tre loang đỏ một mảnh, mùi tanh nồng nặc xộc khắp không trung, nhiều người chịu không nổi đã nôn ọe.
Nhìn thấy cảnh đó, người nhà chủ hoảng hốt quỳ sụp xuống, dập đầu lia lịa, vừa khóc vừa gào, không dám ngẩng mặt.
“Tiểu Cửu, phải làm sao bây giờ?” lão Vương chạy đến hỏi tôi.
Tôi cau mày, chỉ quan tài nói: “Thử lấy giấy vàng nhét vào lỗ xem sao!”
“Được!” lão Vương lập tức lấy giấy vàng nhét vào. Nhưng vừa chèn xong thì dòng máu lại ào ạt tràn ra, giấy bị đẩy bật ra ngoài. Máu càng lúc càng nhiều, thậm chí chảy xuống suối, khiến mặt nước cũng loang đỏ.
Thấy tình hình này, việc bịt lỗ là không thể, chỉ còn cách mở nắp quan tài. Tôi bảo lão Vương đi tìm một cây xà beng, mặc kệ chuyện kiêng kỵ “quan tài không được chạm đất”, chúng tôi chuyển nó xuống đất, định từ từ cạy nắp. Ai ngờ, tôi vừa dùng lực, quan tài rắc một tiếng liền vỡ vụn.
Một mùi máu tanh xộc thẳng vào mặt khiến tôi ho sặc sụa, ngay sau đó một dòng máu ồng ộc tuôn ra, nhấn chìm tôi đến tận đầu gối.
“Mẹ kiếp! Máu nhiều quá!” lão Vương hét lên, kéo tôi chạy. Nhưng bước hụt một cái, cả hai ngã dúi dụi vào vũng máu. Tôi chống tay xuống đất, định đứng dậy, thì bỗng chạm phải một vật tròn tròn.
Tôi theo phản xạ nhặt lên nhìn, thiếu chút nữa thì ngất xỉu, đó là một con mắt, vẫn còn mạch máu dính lằng nhằng, đen đỏ xen kẽ, rùng rợn đến cực điểm.
Tôi vội quăng đi, nhưng nó như dính chặt vào tay, lắc mãi không rơi. Một thoáng hoảng loạn, tôi còn có cảm giác quen thuộc… thứ nhớp nháp dính trên đó chẳng phải chính là keo mà tôi đã dán sao?
Lão Vương thấy vậy liền lột áo, buộc vào cổ tay tôi, rồi giật mạnh một cái, cuối cùng cũng gỡ được con mắt ra.
Chúng tôi nhìn nhau, ai nấy đều hóa thành người máu. Lão Vương còn đỡ, riêng tôi thì toàn thân đỏ lòm. Nhìn quanh, người nhà chủ chẳng biết đã chạy đâu mất, chỉ còn lại tôi, lão Vương, sáu người Bát Tiên và ba anh em nhà chủ vẫn đang quỳ run rẩy không xa.
Tôi lấy tay quệt máu trên mặt, tức giận quát: “Mẹ nó! Quan tài này sao lại chảy máu?”
Lão Vương không đáp, chỉ run rẩy chỉ tay vào quan tài. Tôi nhìn theo, bên trong đâu còn thi thể, chỉ có một đống xương trắng, cạnh đó nhảy nhót hàng chục con cá bằng ngón tay cái, đang rỉa ruột gan của người chết.
Tôi lập tức nôn thốc nôn tháo. Thứ cá này chẳng phải loài cá dọn bể nhỏ sao? Sao lại xuất hiện trong quan tài? Và làm sao chúng sống nổi trong đó chứ?
Nhìn kỹ ván quan tài, chi chít vết gặm nham nhở, độ dày cũng mỏng đi nhiều. Hèn chi quan tài càng lúc càng nhẹ, tất cả là do bọn cá quái này gặm sạch.
“Kẻ nào ác độc đến vậy, thả cá dọn bể vào để rỉa xác người chết? Đây chẳng khác nào đoạn tuyệt con cháu!” lão Vương thở dài.
Lúc này, ba anh em nhà chủ run rẩy bước lại, quỳ sụp giữa vũng máu, khóc lóc hỏi chúng tôi nguyên do. Tôi nói thẳng: “Có kẻ đã thả cá vào quan tài để gặm xác cha các anh. Các anh đã đắc tội với ai sao?”
Họ thì thào bàn bạc rồi đáp: “Chúng tôi chỉ là dân thường, có thù oán gì đâu. Ai lại làm chuyện tuyệt tử tuyệt tôn thế này?”
Tôi chỉ lắc đầu, bảo họ tự điều tra. Tôi chỉ lo việc tang, còn nguyên nhân tử vong không liên can đến tôi.
Quan tài đã vỡ, nhưng xương cốt vẫn còn, việc hạ táng phải tiếp tục. Chủ nhà bàn dùng quan tài khác, nhưng tôi gạt đi: “Chưa chôn mà đã đổi quan tài sẽ mang vận xấu, e rằng còn thêm người chết. Cách duy nhất là bỏ xương vào bao tải mà chôn. Nếu muốn dùng quan tài, thì ba năm sau bốc mộ rồi cải táng, nhưng làm vậy sẽ phá phong thủy, không đáng.”
Ba anh em nhà chủ bàn bạc rồi nghe theo tôi. Thế là chúng tôi dùng bao tải nhặt từng khúc xương bỏ vào, rồi làm lễ nhập thổ, rắc gạo, đốt hương, đóng đinh trấn hồn, niệm chú, đắp mộ. Người chết từ đó yên nghỉ dưới lòng đất. Nhưng tôi biết, chuyện này chỉ mới bắt đầu.
Sau khi xong việc, tôi bảo chủ nhà về trước, mai sẽ đến tính phí. Khi họ đi rồi, tôi bỗng thấy người khó chịu. Nghĩ chắc do dính máu, tôi với lão Vương nhảy xuống suối tắm. Nào ngờ sau khi tắm xong, khắp người tôi nổi chi chít mụn nước to bằng hạt gạo, không đau không ngứa, trong khi lão Vương thì chẳng sao.
Lão Vương nhìn tôi rồi bĩu môi: “Tiểu Cửu, có khi nào cậu bị giang mai không đấy?”
Nghe vậy tôi tức điên: “Con mẹ nó! Tôi còn chưa nắm tay con gái bao giờ, lấy đâu ra giang mai!”
Ông ta nhìn tôi từ đầu đến chân rồi nói: “Không đúng à nha, mặt mũi cậu sáng sủa thế này, trong làng cũng thuộc hàng đẹp trai nhất, sao lại chẳng có cô nào? Với lại, tôi nhớ cậu còn có bạn gái ở trường, lẽ nào ngay cả tay cũng chưa nắm?”
Tôi trừng mắt: “Tôi với cô ấy tôn trọng nhau, đâu như ông, gần năm mươi rồi mà cứ chui ra chui vào mấy cái tiệm tóc gội đầu ở thị trấn!”
Đến giờ tôi vẫn nhớ rõ ánh mắt lúc đó của lão Vương. Dù ông ta không nói, nhưng trong ánh nhìn sâu thẳm ấy, tôi thấy hai chữ: “thằng hèn”. Nghĩ lại thì đúng thật, làm đàn ông mà chọn nhầm nghề, nhất là nghề khiêng quan tài, thì tình yêu chỉ là giấc mộng xa vời, đừng nói chi đến bước xa hơn.
Reactions: Vit.hung.han, sjlip, AiRoiCungKhac and 15 others
Chương 21: Quách Béo
Chiều hôm đó về đến nhà, tôi bôi ít thuốc mỡ lên người, mấy cái mụn nước trên da có nhỏ lại đôi chút, nên cũng chẳng để tâm, lăn ra ngủ một mạch cả ngày, coi như bù được mấy hôm thiếu ngủ.
Đến trưa hôm sau, tôi cùng lão Vương tìm chủ nhà tính nốt tiền tang sự, rồi cũng ghé thăm tám tên giả tiên kia. Họ bảo chỉ thấy chân tay rã rời, ngoài ra không có gì khác.
Tôi đưa cho mỗi người hai trăm tệ, dù họ không hề khiêng quan tài, nhưng đã hứa thì phải trả, đó là nguyên tắc của tôi.
Sau đó tôi với lão Vương tính lại sổ sách, cho mỗi “bát tiên” thêm một trăm trẹ tiền công, lại đưa cho mụ đàn bà lắm mồm năm chục, coi như cảm ơn. Dù sao trong nghề này, chỉ cần đã mời người, bất kể có làm hay không, tiền vẫn phải trả, đó là quy củ.
Trừ công nhật và mấy khoản lặt vặt, tang sự lần này tôi lời được tám trăm. Sáu ngày kiếm tám trăm tệ nghe có vẻ nhiều, nhưng tính kỹ thì lỗ chỏng gọng: sáu ngày sáu đêm hầu như không chợp mắt, rồi còn phải chia lì xì cho bát tiên… Thực ra, nếu chủ nhà không bù thêm năm nghìn, thì vụ này chẳng những không lời, mà tôi còn phải móc ngược ra mấy nghìn bỏ vào.
Tôi đưa cha năm trăm phụ tiền nhà, giữ lại cho mình hơn ba trăm. Sau đó chạy lên thị trấn mua cái điện thoại, thời nay thế kỷ 21 rồi, không có di động thì ra đường cũng xấu hổ.
Mua xong, cú điện thoại đầu tiên tôi gọi cho bạn học cấp ba. Tôi chỉ hỏi ngắn gọn: “Có việc làm chưa? Không có thì xuống làng Ấu Tử tìm tao.” Đầu bên kia đáp ngay: “Mai em tới.”
Nhắc tới thằng bạn này, phải kể chút chuyện. Ở trường, tôi bị bắt nạt vì ham mê sách Lục Đinh Lục Giáp. Còn nó thì… chỉ cần một chữ thôi: Béo. Nói hai chữ thì là Rất béo.
Béo đến mức nào? Nói cho dễ hình dung, cả người nó như quả bóng, trên dưới bằng nhau, mắt thì ti hí như sợi chỉ, tôi chẳng bao giờ phân biệt được nó đang mở hay nhắm. Với thân hình đó, không bị bắt nạt ở trường mới lạ. Bạn bè trêu chọc gọi nó là “Quách Béo”, lâu dần đến cả thầy chủ nhiệm cũng gọi thế.
Nếu nói “béo” là vóc dáng, thì “háo sắc” chính là bản chất của nó. Tôi với nó thành bạn chí cốt cũng là vì cái chữ “sắc” này. Có lần, chẳng biết nó nghĩ quái gì, nhân lúc ra chơi chen trong đám đông, nó đưa tay sờ mông hoa khôi của lớp. Sờ xong thôi còn đỡ, đằng này nó còn hét toáng: “Wa, mông hoa khôi mềm thật!”
Thế là ăn ngay một trận đòn của đám lưu manh mà hoa khôi gọi tới. Tôi thấy nó bị đánh tội nghiệp, liền đứng ra nói giúp vài câu, kết quả là cả hai cùng bị dần cho một trận. Từ hôm ấy, chúng tôi thành anh em chí cốt.
Sau này tôi bỏ học, nó gọi điện về hỏi lý do. Tôi bảo vì nhà nghèo không kham nổi, nó còn ngỏ ý chu cấp, nhưng tôi từ chối. Chẳng hiểu sao, ít lâu sau chính nó cũng bỏ học.
Nhà nó thì hơn tôi cả ngàn lần: bố mẹ đều làm ở ngân hàng huyện. Tôi gọi nó về làng, vì dạo này mấy ông bát tiên đã già, khiêng quan tài đoạn ngắn thì còn tạm, nhưng đi xa là đuối hẳn, nên tôi mới nhắm đến nó.
Hôm sau, tờ mờ sáng nó đã xách cả túi đồ to tướng tới, vừa gặp đã nói câu đầu tiên: “Cửu ca, em tới rồi! Công việc anh nói có gái không đấy?”
Tôi đáp: “Gặp may thì có gái, gặp cực may thì cả minh tinh cũng có!”
Đó là lời thật lòng, nhưng tôi thầm thêm một câu: miễn là mấy cô ấy chết rồi và phải nhờ mình khiêng quan tài.
“Thật á?” Nó hí hửng ôm chầm lấy tôi, la lớn: “Cửu ca, biết ngay anh thương em nhất mà! Sau này cưới được gái xinh, nhất định mời anh ngồi bàn đầu.”
Nghe nó nói, tôi chẳng biết đáp sao, đành cười gượng, rồi dẫn nó về nhà, giới thiệu với bố mẹ.
Cha tôi nghe xong thì ngạc nhiên nhìn nó: “Thằng này á? Nó chịu được việc đó chắc?”
“Bác nói vậy oan cho cháu! Cháu đây người to khỏe thế này, việc gì chẳng làm được!” Quách Béo phản bác, rồi quay sang tôi: “Cửu ca, anh nói đúng không?”
Tôi vội gật đầu lia lịa, sợ cha lỡ miệng. Rồi nhanh nhảu bảo cha nấu vài món đãi nó. Cha chỉ thở dài, chẳng nói gì thêm, lẳng lặng vào bếp.
“Haha!” Quách Béo cười ha hả: “Anh em mình cuối cùng cũng lại được ở cạnh nhau. Lần này nhất định phải làm nên trò trống, sau này gặp lại lũ ranh con ở trường, ông lấy tiền đập chết chúng nó!”
“Ừ, lấy tiền mà đập chết chúng nó!” Nhìn nó hăng hái vẽ ra tương lai, tôi không nỡ phá vỡ giấc mơ, đành hùa theo.
“À mà anh chưa nói là công việc gì?” Nó ngồi phịch xuống ghế hỏi.
“Việc tay chân thôi, mày làm nổi chứ? Một lần một trăm.” Tôi đáp.
“Không phải bán thân chứ?” Nó lập tức khép chặt hai chân, liếc tôi đầy cảnh giác.
“Cút!” Tôi chửi thầm, thằng này đầu óc toàn nghĩ bậy, không hiểu bố mẹ nó sinh kiểu gì mà ra được cái hàng hiếm thế.
“Không phải bán thân thì việc gì cũng làm!” Nó gác chân chữ ngũ, ngả người ra ghế, ra vẻ bất cần.
“Được, cứ nghỉ vài hôm ở đây, có việc tao sẽ gọi.” Nói rồi tôi dọn cho nó cái giường ở phòng bên. Nói thật, nhà tôi bé, chỉ có bốn gian, lại toàn nhà đất, cả làng đều xây gạch đỏ, chỉ nhà tôi vẫn còn tường đất.
Thu xếp xong thì cha tôi cũng dọn cơm. Vì mẹ bệnh nằm liệt giường, không rời nổi, cha mang cơm đến đầu giường, từng muỗng một đút cho bà. Đôi lúc tôi thật sự phục ông, bốn mùa xuân hạ thu đông, bữa nào cũng ở bên cạnh mẹ, kiên nhẫn từng thìa. Có lẽ, nghèo khổ mới càng thương nhau.
“Bệnh của dì vẫn chưa đỡ à?” Quách Béo liếc vào phòng mẹ tôi, hỏi.
“Bác sĩ nói cả đời này chỉ có thể nằm liệt, đành phó mặc số trời thôi.” Tôi cắm cúi ăn, không muốn dây dưa, giục nó ăn cơm.
Quách Béo khẽ “ồ” một tiếng, rồi lôi từ trong túi ra một đống thuốc bổ đặt lên bàn: “Nghe nói dì bị bệnh, em cũng không biết mua gì, nên vơ mấy thứ dinh dưỡng. Anh đừng có từ chối, anh em với nhau, khách sáo làm gì.”
Tôi cũng chẳng nói lời cảm ơn, cứ nhận lấy. Hai năm học chung, tôi hiểu rõ tính nó: nói cảm ơn với nó lại hóa ra xa cách.
Vài ngày sau, tôi đưa nó đi dạo quanh làng Ấu Tử, giới thiệu núi non sông suối, rồi kể qua về nghề tang. Nhưng công việc cụ thể thì chưa hề tiết lộ.
Nó thì sốt ruột, hỏi đi hỏi lại, thậm chí nghi ngờ tôi đang lôi nó vào đa cấp. Tôi đá cho nó một phát, cười bảo: “Rồi sẽ biết.”
Cứ thế sáu ngày trôi qua.
Tối hôm đó, tôi đang chuẩn bị đi ngủ, thì Quách Béo chợt gọi giật tôi lại, nhìn chằm chằm cổ tôi rồi hét lên: “Cửu ca, mấy cái mụn nước ở cổ anh sao mà to thế, còn có cả mảng đen sì trên đó nữa kìa!”

Chương 22: Mụn Nước
Vừa nghe câu đó, tôi đưa tay sờ lên cổ, liền chạm phải một cái mụn nước to bằng ngón tay cái, ấn thử thì không đau, cảm giác như một lớp da chết.
“Con mẹ nó, cái quái gì thế này!” Tôi cau mày lầm bầm, rồi bảo Quách Béo về phòng ngủ, đừng lo cho tôi. Sau đó trở về phòng mình.
Lấy gương soi lên cổ, tôi nhìn thấy chỗ dưới vành tai mọc chi chít mụn nước, trên đó còn đen sì, cực kỳ ghê tởm. Tôi giật nảy người, vội cởi áo ra, mới phát hiện trên khắp người cũng mọc đầy mụn nước, chen chúc nhau.
Mẹ nó, sao lại thành ra thế này? Hôm qua vẫn chỉ là vài mụn nhỏ xíu, sao chớp mắt đã lớn thế này rồi?
Tôi lôi thuốc mỡ ra bôi khắp người, mụn nước truyền tới cảm giác tê dại râm ran. Nhìn tình hình này, tôi biết chắc chắn đây không phải mụn nước bình thường. Bèn lấy cây kim thêu chọc thử một cái, muốn xem bên trong có gì.
Vừa chọc thủng, bên trong chảy ra một luồng mùi hôi thối nồng nặc, chất lỏng kia ghê tởm đến cực điểm, y như thứ nước cống để lâu năm.
“Quái thật, sao lại mọc cái thứ này!” Tôi chửi thầm một tiếng, lại liên tiếp chọc thêm mấy cái, mùi thối xộc ra suýt nữa khiến tôi ngất xỉu.
Tôi lau sạch chỗ dịch thối trên người, mặc quần áo rồi cầm theo một chai rượu trắng, chạy thẳng tới nhà lão Tú Tài. Trong lòng tôi mơ hồ cảm thấy đây tuyệt đối không phải mụn nước bình thường, chắc lão Tú Tài biết chuyện gì đang xảy ra.
Đến nơi, tôi chẳng còn tâm trạng gõ cửa, giơ chân đá bật cửa rồi xông vào, lão Tú Tài đang ngáy o o trên giường.
“Lão Tú Tài, mau xem thử cái này là cái gì!” Tôi túm một cái kéo ông ta dậy.
“Cửu nhãi, đêm hôm khuya khoắt cậu phát điên cái gì, không ngủ chạy đến đây làm gì?” Lão Tú Tài dụi mắt, rõ ràng còn chưa tỉnh ngủ.
“Ông nhìn đi, cái này là cái gì?” Tôi chỉ vào cổ mình, “không đau, không ngứa, chọc thủng thì chảy dịch đen, thối kinh khủng!”
“Đêm hôm, mắt ta kém, nhìn không rõ, để mai hẵng nói.” Nói rồi ông ta lại định nằm xuống.
“Một chai rượu trắng!” Tôi lôi chai rượu ra lắc lắc trước mặt ông ta. “Nói cho tôi nguyên nhân, cái này là của ông.”
Nghe đến rượu, lão Tú Tài lập tức tỉnh hẳn, nhận lấy chai rượu, mở nắp tu một ngụm, rồi chăm chú nhìn cổ tôi một hồi, chậm rãi nói: “Người chết ở thôn Lý, chôn chỗ nào?”
“Ông từng xem rồi, chính chỗ đó.” Tôi hơi khó hiểu, cái này có liên quan gì đến mụn nước trên người tôi?
“Haiz!” Lão Tú Tài thở dài, “Đoạn long chi địa, tuyệt nhân tử tức. Cậu lại thật sự chôn người chết ở đó, mọc cái thứ này cũng là báo ứng thôi.”
“Đoạn long chi địa?” Tôi tò mò hỏi.
“Người ta đều biết dựa núi kề sông là đất phong thủy tốt. Nhưng dựa núi nào, kề sông nào, cậu có khảo sát đất núi chưa? Có kiểm tra chất lượng nước suối chưa? Nếu nước tốt, ắt có thể chôn người. Vấn đề nằm ở nguồn nước. Chính chất nước ấy biến bảo địa thành đoạn long chi địa. Tài vận thì có, nhưng tuyệt tự nối dõi.” Lão Tú Tài lại tu thêm ngụm rượu, trừng mắt mắng tôi: “Thứ gì đâu, tưởng đọc vài quyển sách phong thủy là biết xem địa mạch sao? Làm thế là tuyệt nhân tử tức đó!”
Nghe vậy tôi chết lặng. Bấy lâu nay tôi vẫn tưởng mình biết khá nhiều, cái gì cũng dựa vào sách vở mà làm. Sách nói sao thì tôi làm vậy. Giờ bị lão Tú Tài chửi thế, mới hiểu ra mình sai chỗ nào.
Tôi chỉ mải nhìn thế núi, khí mạch, hoàn toàn bỏ qua những yếu tố căn bản như đất núi, chất nước suối. Chỉ vì thấy long mạch sinh khí mà đã cho rằng đó là bảo địa, đem người chết chôn ở đó.
Lúc xem địa mạch, tôi từng thắc mắc sao lão Tú Tài lại dặn không được đoạn hương khói nhà người ta. Theo quan sát của tôi, phong thủy đó đâu có tướng đoạn tuyệt tử tức. Nào ngờ, chỗ phong thủy ấy lại bại vì chất nước suối.
Tôi vội vã xin lỗi lão Tú Tài, lại hứa sáng mai sẽ mang thêm vài chai rượu ngon đến. Ông mới bớt giận, hậm hực nói: “Ta thấy cậu với lão Vương kia đi lại quá nhiều, trong đầu toàn tiền, toàn mùi đồng tiền. Nghĩ tới hồng bao thì liền bừa bãi nói đó là bảo địa. Giờ mắc bệnh rồi, đó là báo ứng!”
Nói xong, lão lại ngửa cổ tu một ngụm lớn, tôi nhìn mà ngây người. Ông ta gần trăm tuổi rồi, vậy mà rượu trắng 52 độ uống như nước lã, không sợ chết hay sao.
“Ngài nói đúng, lần sau tôi nhất định cẩn thận!” Tôi khom người hành lễ, giọng rất chân thành. “Xin ngài xem giúp mấy mụn nước trên người tôi, sáng mai tôi sẽ đi nói chuyện với chủ nhà về phần mộ.”
Lão Tú Tài liếc tôi, rồi đổi đề tài, thản nhiên hỏi: “Mệnh cách của người chết, cậu có nói cho ai khác biết chưa?”
Tôi lắc đầu: “Chưa!”
Ông ta gật gù hài lòng: “Thế thì tốt. Mệnh cách ấy chỉ cậu biết, ta biết, trời biết, đất biết. Một khi lộ ra ngoài, hậu quả cậu thừa hiểu. May mà cậu chưa nói, sự việc vẫn còn đường xoay chuyển. Hãy kể lại cho ta nghe chuyện hôm cậu đi khảo sát mộ, xem có cách nào hóa giải.”
Thế là tôi kể lại không sót chữ nào chuyện hôm đó, cả chuyện núi lở, nước suối lạnh buốt cũng đều nói hết.
Lão Tú Tài lắng nghe im lặng, lại nhìn lên cổ tôi, dùng tay bóp thử, rồi cứ lắc đầu: “Không thể nào… núi lở, theo lý thì chỗ phong thủy ấy đã thành bình địa, không đáng để cậu gặp vận xấu. Sao lại thành ra thế này?”
“Ngài nói, có khi nào là do người chết không?” Nghe không phải do phong thủy, lòng tôi thở phào, liền rụt rè hỏi, không dám nói to, sợ ông lại mắng.
“Do người chết?” Lão Tú Tài nghi hoặc nhìn tôi.
Tôi gật đầu, ông lại hỏi: “Lúc hạ táng có xảy ra chuyện gì không?”
“Ừm…” Tôi đem chuyện sấm sét cùng bọn dọn đường kể ra hết. Lão Tú Tài nghe xong, im lặng rất lâu, không nói câu nào, khiến tôi sốt ruột.
Khi tôi vừa định lên tiếng, ông lão đột nhiên đẩy tôi ra, bật dậy khỏi giường, lao tới giá sách lấy một cuốn cực kỳ cũ nát, lật tìm một hồi lâu. Mỗi lần lật một trang, sắc mặt ông lại trầm trọng thêm một phần.
Đến khi ông đọc xong, trong mắt đầy hoảng sợ, thân thể khẽ run, nói năng đứt quãng: “Sao… sao… sao lại thành thế này!”
“Có chuyện gì vậy?” Nhìn vẻ mặt ông, tôi thấy chuyện này chắc chắn không hề đơn giản, trong lòng thấp thỏm bất an.
“Cậu sẽ chết!” Lão Tú Tài gằn từng chữ, ánh mắt dán chặt vào những mụn nước trên cổ tôi.

Chương 23: Sát Khí
Trong lòng tôi thót lại, nói: “Ngài… ngài đừng đùa, tôi mới 18 tuổi, sao có thể chết sớm như vậy được.”
“Cậu thật sự sẽ chết!” – Lão tú tài nhíu mày nói.
“Ngài không đùa chứ?” Tôi bắt đầu hoảng loạn, ai mà chẳng sợ chết?
“Không!’’ Lão tú tài chích thủng một cái bọng nước, nói: “Cậu ngửi xem, có thấy mùi này quen quen không?”
“Có chút quen… hình như là mùi xác chết!” Quả thực, khi ngửi kỹ, cái mùi hôi thối này rất giống mùi thây ma thối rữa.
“Giữa mùa hè nóng bức, thi thể để trong nhà bảy ngày, cậu có ngửi thấy mùi xác chết không?” Lão tú tài lại hỏi.
“Không có!” Tôi lắc đầu, bắt đầu hiểu ra ý ông ấy: “Ngài chẳng lẽ muốn nói, mấy cái bọng nước trên người tôi thực ra là tử ban?”
“Không phải!” Lão tú tài liếc tôi: “Còn đáng sợ hơn cả tử ban, đó là sát bào.”
Nghe xong, chân tôi mềm nhũn, ngồi bệt xuống đất. Ai cũng biết, sau khi chết, trong người đều còn lại một hơi khí, trong huyền học gọi là sát khí. Bởi vậy, sau khi có người mất, đều phải làm lễ tế bái, một là để tỏ lòng hiếu thảo, hai là để hóa giải luồng sát khí đó.
Mà sát khí thì vô hình vô tướng, chẳng ai biết trông thế nào, chỉ biết là người chết thì tất có thứ này. Trong sách Táng Kinh từng ghi chép, cái gọi là sát bào chính là hình thái cố định của sát khí. Nếu chỉ là dính sát khí thì còn có thể nhờ đạo sĩ cầu xin vong linh, đốt ít vàng mã, vẫn có thể cứu. Nhưng một khi sinh ra sát bào… thì dính là chết, không đường sống.
Nghĩ đến đây, trong lòng tôi sợ hãi cực độ. Tôi mới mười tám, vừa kiếm được chút tiền đỡ đần cha, sao có thể chết thế này? Tôi là con một trong nhà, nếu chết rồi cha mẹ biết làm sao?
“Không còn cách nào hóa giải sao?” Tôi ngẩn ngơ một lúc, mới nghẹn ngào thốt ra. Trong lòng chỉ mong lão tú tài gật đầu, dù chỉ một chút hy vọng. Nhưng đó cũng chỉ là ảo tưởng.
Lão tú tài lắc đầu, vô tình dập tắt tia hy vọng mong manh, nói: “Nghe theo số phận thôi!”
Tôi thất hồn lạc phách bước về nhà. Vốn tưởng có Táng Kinh, có thể vang danh trong nghề phu khiêng quan tài, nào ngờ ngay lễ tang đầu tiên đã vướng phải thứ quái quỷ này. Thật ứng nghiệm câu thơ của Đỗ Phủ:
“Xuất sư vị tiệp thân tiên tử,
Trường sử anh hùng lệ mãn khâm.”
(Vừa khởi binh chưa thắng đã vong, khiến anh hùng rơi lệ đẫm vạt áo).
Vừa đến cửa nhà, Quách Béo đang ngồi trên bậc thềm, thấy tôi, nó đứng dậy cười hì hì: “Cửu ca, nửa đêm đi đạp cửa nhà quả phụ nào vậy?”
Tôi chẳng buồn để ý, chỉ nhạt nhẽo nói: “Sao mày chưa ngủ?”
“Em thấy anh lén lút đi về phía kia, tưởng anh sang phá cửa quả phụ, nên lén đi theo. Sau lại nghĩ, sợ phá chuyện tốt của anh, nên ngồi đây chờ. Nói mau, là quả phụ nào? Mai em đi phá luôn cho bõ!” Quách Béo cười khà khà.
Ở cạnh Quách Béo, dù tâm trạng có tệ thế nào cũng dễ bị nó chọc cười. Dù tôi biết mình sắp chết, nhưng vẫn bị chọc bật cười, liền đá mạnh một cái vào mông nó: “Cút, mày mới đi phá cửa quả phụ ấy!”
Nói rồi, hai chúng tôi cùng đi vào nhà. Vừa đi, tôi vừa lơ đãng nói: “Béo, nếu một ngày nào đó tao chết, mày có thể chăm sóc cha mẹ tao không?”
“Cha mẹ anh cũng là cha mẹ em!” Quách Béo vỗ mạnh vai tôi, nghiêm túc nói: “Có chuyện gì à?”
“Không có gì!” Tôi nhạt nhẽo đáp, xoay người về phòng. Vừa bước vào, tôi khẽ quay lại, nói nhỏ: “Cảm ơn!”
“Còn coi em là huynh đệ không? Nếu còn, thì nói thật ra!” Quách Béo tức giận kéo áo tôi, gằn từng chữ: “Nói, rốt cuộc có chuyện gì?”
Do nó kéo mạnh, áo tôi bị nhấc lên, để lộ mấy cái bọng nước ở bụng. Nó lập tức buông tay, không nói gì, rút điện thoại ra bấm số: “Ai da! Đau chết tôi rồi, cha ơi, con bị tai nạn xe rồi! Trời ạ, đau quá, mau chuyển cho con mười ngàn tiền viện phí! Nhanh lên không thì không còn thấy con nữa đâu. Số thẻ là 622848…”
Nói xong, nó tháo pin điện thoại, cười hề hề: “Cha em lát nữa chắc chắn sẽ chuyển tiền. Ngày mai anh đi bệnh viện lớn ở thành phố xem, bọng nước thôi mà, dễ chữa, bi quan làm gì? Sống thì phải vui vẻ chứ!”
Tôi chỉ mong đó thực sự là bọng nước. Nhưng thứ này, đến bệnh viện cũng vô phương cứu chữa. Dù vậy, việc nó làm khiến tôi thực sự cảm động.
“Cảm ơn!” Tôi khẽ nói, rồi về phòng, đóng cửa lại.
Tôi lấy điện thoại ra, gọi cho cha Quách Béo, số này tôi đã nhớ từ hồi còn đi học. Vừa nghe máy, tôi nói ngay: “Chú Quách, đừng tin lời Béo, nó gạt tiền để đi gái thôi.”
Rồi tôi tán gẫu vài câu, sau đó cúp máy, ngồi thẫn thờ trên giường. Nhớ lại mười tám năm đời mình, không hẳn thất bại, nhưng chắc chắn chẳng thành công. Trong lòng đầy chua xót, bắt đầu hối hận vì đã quá mê muội Lục Đinh Lục Giáp.
Có người nói, mê muội cũng là một cảnh giới. Nếu nhờ mê muội mà thành công, người ta gọi đó là kiên trì. Nhưng nếu vì mê muội mà thất bại, thì đó chỉ là ngu ngốc một cách đơn thuần.
Có lẽ tôi thuộc loại thứ hai. Trong tuyệt vọng, tôi lấy Táng Kinh ra lật xem, định đọc lần cuối rồi đốt đi, coi như tiễn biệt tuổi xuân ngắn ngủi.
Đang lật thì bất ngờ thấy một câu: “Sát diệc phá, bào diệc oan, nhị giả tương thành, tức chi.”
(Sát phá, bào oan; hai thứ gặp nhau, tất hữu nguyên do.)
Thấy câu này, tôi suýt khóc. Tưởng đời mình đến đây là hết, không ngờ Táng Kinh lại hé ra một tia hy vọng.
Câu ấy dễ hiểu: nếu sát khí đã giải nhưng bọng còn tồn tại, nghĩa là người chết có oan khuất. Chỉ cần làm sáng tỏ hai việc này, mọi sự sẽ trở lại yên ổn.
Tôi vui mừng khôn xiết, hôn lấy hôn để quyển Táng Kinh, rồi đặt lại chỗ cũ, lao ra cửa, định chạy sang tìm lão tú tài. Vừa mở cửa đã thấy Quách Béo đứng đó, chuẩn bị gõ.
“Lại tương tư rồi à? Cười dâm thế?” Quách Béo ngẩn ra.
Trải qua nỗi bi ai rồi vui mừng cực độ, hành động con người thường chẳng thể lường. Tôi nhào tới ôm chặt nó, hôn chụt một cái thật kêu lên mặt: “Đàn ông mập mạp mới được quả phụ thích đó!”
Mặc kệ nó phản ứng thế nào, tôi chạy thẳng sang nhà lão tú tài. Sau lưng vang lên tiếng gào như heo bị chọc tiết của Quách Béo: “Trần Cửu! Đồ súc sinh! Anh cướp mất nụ hôn đầu của em rồi!”

Chương 24: Quay lại thôn Lý
Tôi chạy đến nhà lão Tú tài, đem câu chữ phát hiện trong Táng Kinh kể lại.
Ông cười khẽ rồi nói: “Không ngờ đấy, tiểu tử, phúc khí của cậu cũng không nhỏ đâu!”
Tôi gãi đầu cười ngốc nghếch, chẳng biết trả lời sao, bèn hỏi: “Nếu quả thật là chết oan, thì phải làm thế nào?”
“Thay hắn kêu oan, sau đó đem sự thật nói rõ trước mộ phần của người chết, rồi dùng tam sinh (lợn, gà, cá) tế lễ. Nếu người chết bằng lòng bỏ qua cho cậu, thì tắm bằng lá ngải trong bảy ngày, mấy cái mụn sát khí trên người cậu có lẽ sẽ tiêu đi. Nhưng mà…” Lão Tú tài vuốt chòm râu, chậm rãi nói: “Cách này có hiệu quả hay không thì còn phải xem người chết có chịu tha cho cậu hay không.”
Tôi lại hỏi thêm mấy chuyện khác, ông đều kiên nhẫn giải đáp. Khi tôi bước ra khỏi gian phòng, trời đã sáng rõ. Trong lòng thấy áy náy, bèn để lại chỗ ông số tiền còn sót lại trên người, chỉ vài chục đồng thôi, dù sao ông cũng chẳng có nguồn thu nhập nào, tiền với ông là thứ quan trọng.
Về đến nhà, tôi rửa mặt sơ qua, ăn tạm chút điểm tâm, rồi kéo theo Quách Béo chạy một mạch đến thôn Lý, chuẩn bị điều tra cho ra nhẽ nỗi oan của người chết.
Chạy chừng hơn hai mươi phút, vừa đến đầu thôn, tôi liền thấy bất an. Không khí trong thôn Lý tràn ngập mùi hôi thối xác rữa.
Tiến thêm mấy bước, liền thấy trên cửa chính nhà thờ treo dải lụa trắng, chính giữa dán nổi bật chữ “奠” (Điện – tế điếu).
“Lại có người chết rồi sao?” tôi chột dạ nghĩ, rồi dẫn Quách Béo đi thẳng vào.
Vừa qua cổng thôn, bảy tám phụ nữ mặt mày u ám đã vây quanh chúng tôi. Tôi càng thêm khó hiểu, định mở miệng, thì Quách Béo đã nhanh hơn: “Cửu ca, không ngờ đấy, anh thành bạn của các chị em rồi à!”
Lời nó vừa dứt, sắc mặt mấy người phụ nữ kia càng đen sì. Họ nhặt đá dưới đất ném thẳng về phía chúng tôi, vừa ném vừa mắng chửi: “Đền mạng cho chồng tao! Đều tại cái thằng nghiệt chủng nhà mày, còn dám vác mặt tới thôn này!”
Chúng tôi vừa lấy tay che đầu vừa kêu lên: “Các chị ơi, có gì nói cho rõ, rốt cuộc là ai chết vậy?”
“Còn giả vờ không biết à? Đập! Đập chết nó cho tao!” Người phụ nữ dẫn đầu quát to, không biết từ đâu rút ra một con dao phay, ném thẳng về phía chúng tôi.
Có lúc tôi thực sự bất lực với thằng Quách Béo này. Đang bị đá bay tới tấp, mà nó còn chảy nước dãi, mắt hau háu nhìn chằm chằm vào ngực người đàn bà cầm đầu. Dao phay đã bay tới mà hắn vẫn đứng đực ra không phản ứng.
Tôi vội đẩy mạnh nó, con dao không chệch không lệch, nện thẳng vào lưng tôi. May mắn là dao trúng bằng sống lưng, nên không bị thương nặng.
“Mẹ kiếp! Muốn đàn bà thì xuống thị trấn mà vào tiệm cắt tóc! Đi theo tao!” Tôi chửi một tiếng, rồi kéo Quách béo cắm đầu chạy vào trong thôn.
Quách Béo ngơ ngác gật đầu, miệng còn lẩm bẩm: “Cửu ca, rốt cuộc anh đã làm cái gì thế?”
“Tao có làm cái mẹ gì đâu!” Tôi vừa chạy vừa thanh minh. Trốn chui trốn lủi mấy phút, cuối cùng cũng thấy được nhà Lý Kiến Dân, liền kéo Quách Béo xông vào, tiện tay đóng sập cửa lại.
Ngoài kia, người phụ nữ cầm đầu vẫn không ngớt chửi: “Đồ súc sinh! Có gan thì đừng chui ra. Đợi trưởng sở Lang Cao đến, xem thằng sát nhân mày trốn kiểu gì!”
Tôi ấm ức gào lên: “Chị ơi, rốt cuộc có chuyện gì, nói cho tôi rõ ràng đi chứ!”
Nhưng bà ta chẳng đáp, chỉ hậm hực kéo mấy phụ nữ kia bỏ đi.
Đúng lúc ấy, Lý Kiến Dân từ trong đi ra, thấy chúng tôi trốn trong nhà hắn thì ngẩn người, sau đó vội cười nịnh: “Ôi, Trần Bát Tiên, sao ngài lại đến đây? Tôi vừa định lên thôn Ấu Tử tìm ngài hỏi chút chuyện.”
Ông ta liếc sang Quách Béo, hỏi tôi: “Vị này là?”
“Bạn tôi, cũng là Bát Tiên!” Tôi giới thiệu, rồi ngồi xuống chiếc ghế dài, hỏi thẳng: “Có chuyện gì thế? Thôn các ông ai chết rồi?”
Lý Kiến Dân rót cho chúng tôi mỗi người một chén nước nóng, đánh giá chúng tôi một lượt, rồi nói: “Cậu thực sự không biết ai chết à?”
Tôi lắc đầu. Ông ta bèn thở dài: “Lý Hắc Tử chết rồi. Mấy ông giả tiên đều nói là cậu hại chết đó!”
“Tôi mẹ nó mấy ngày nay đều ở thôn Ấu Tử, làm sao hại chết ông ta? Ai tung cái tin vớ vẩn đó?” Tôi tức giận quát.
“Cậu bớt giận, cũng có nguyên do cả.” Lý Kiến Dân gượng cười, giải thích: “Hôm cậu rời đi, Lý Hách Tử vẫn nằm liệt giường. Lúc đầu chỉ yếu chân tay, sau thì toàn thân nổi đầy mụn nước. Vợ hắn đưa đi bệnh viện thị trấn, bác sĩ bảo là nhọt độc, kê ít thuốc bôi. Nào ngờ về nhà bôi chưa được mấy hôm thì hắn tắt thở.
Chị dâu hắn liền đi bắt bác sĩ đó về đồn công an tra hỏi, rồi đem thuốc lên cục dược phẩm xét nghiệm, đều chẳng có vấn đề.
Người mới ngoài bốn mươi mà chết, đương nhiên phải tìm nguyên nhân. Thằng cháu hắn vốn cũng có chút bản lĩnh, bèn gọi mấy pháp y ở huyện về khám nghiệm. Bọn họ kết luận là chết vì nhiễm vi khuẩn bào tử.
Nông dân như chúng tôi nào biết cái thứ vi khuẩn quái quỷ đó là gì, liền hỏi lại. Pháp y bảo, loại vi khuẩn này thường mọc trên xác chết.”
Nói đến đây, ông ta uống ngụm nước, nhìn tôi áy náy, rồi kể tiếp: “Gần đây ngoài cha tôi ra thì trong vùng chẳng có ai chết cả. Vợ Lý Hắc Tử liền nghi ngay sang nhà tôi. Thật ra ban đầu việc này cũng chẳng liên quan gì đến cậu, đều tại thằng tam đệ nhà tôi, bị vợ Lý Hắc Tử hù dọa, liền khai ra giấc mơ ban đêm.”
“Giấc mơ gì?” Tôi hỏi.
“Cũng vì giấc mơ này mà tôi định đi tìm cậu. Ba anh em tôi đêm nào cũng mơ cùng một giấc mơ!” Lý Kiến Dân nhìn chằm chằm tôi: “Trong mơ, cha tôi bảo ông chết rất oan, cần có người xuống bầu bạn với ông!”
“Tìm ai xuống bầu bạn?” Tim tôi giật thót. Quả nhiên là chết oan.
“Chính là cậu!” Lý Kiến Dân buột miệng.
“Tại sao?” Tôi vội hỏi.
“Trong mơ, cha tôi không nói lý do, chỉ bảo muốn cậu theo xuống. Vợ Lý Hắc Tử nghe vậy liền khẳng định cậu đã làm trò trên quan tài, khiến cha tôi dưới âm phủ không được yên. Vì e ngại phép thuật của cậu lợi hại, không dám tìm cậu báo thù, nên mới hại chết chồng chị ta. Tối qua chị ta đã gọi điện cho trưởng sở Lang Cao rồi, chắc lát nữa ông ta sẽ đến thôi.”
“Mẹ kiếp! Trí tưởng tượng phong phú thế, không đi viết tiểu thuyết thì phí quá.” Tôi nhịn không được chửi thề.
Bản thân đang dính phải mụn sát khí đã đủ thảm rồi, giờ còn bị gán thêm cái tội giết người. Tôi bèn tức tối hỏi: “Những giả tiên khác chết chưa?”
“Chưa, nhưng cũng chẳng sống được bao lâu nữa đâu. Cả người thối rữa, bốc mùi hôi kinh khủng, chắc chỉ vài ngày nữa là đi tong.” Lý Kiến Dân lắc đầu đáp.

Chương 25: Bị bắt
Tôi thở dài. Tình trạng của đám “giả tiên” kia chắc cũng giống như tôi, toàn thân mọc đầy bọng nước. Không biết lão Vương và đám huynh đệ khiêng quan tài hôm đó có bị thế không?
Nghĩ vậy, tôi lập tức lấy điện thoại gọi cho lão Vương, hỏi ông ta trên người có nổi bọng nước không. Ông ta nói không. Tôi lại bảo ông ta gọi từng người trong tám tiên hôm đó để hỏi thăm. Kết quả ai nấy đều bảo không có gì lạ.
Nghe vậy, tôi mới yên tâm phần nào. Sau đó, tôi hỏi Lý Kiến Dân xem có cách nào để tôi được tận mắt nhìn tình trạng mấy “giả tiên” kia không.
Ông ta nói, tình hình bây giờ chẳng còn cách nào cả. Đám vợ con của những “giả tiên” ấy chắc chắn sẽ xé xác tôi. Nghĩ cũng phải thôi, chồng họ thì chết, kẻ thì tàn phế, mà tôi, “kẻ thù giết chồng” lại đường hoàng bước vào nhà họ, chuyện gì cũng có thể xảy ra.
Tôi không dám liều, chỉ còn cách ở lại trong nhà Lý Kiến Dân, chờ trưởng đồn công an Lang Cao tới. Có ông ta ở đó thì đám đàn bà kia mới không dám làm càn. Nghĩ cũng buồn cười, mấy ngày trước tôi còn chẳng ưa gì Lang Cao, thậm chí không muốn thấy mặt. Vậy mà giờ đây lại mong ông ta đến nhanh, chỉ có vậy tôi mới có thể kiểm tra tình trạng trên người mấy “giả tiên”.
Tôi ngồi tán gẫu với Lý Kiến Dân, đa phần xoay quanh chuyện lúc sinh thời của cha ông ta. Qua lời kể, tôi biết được cụ già này sống cả đời không hề gây thù chuốc oán với ai, sở thích duy nhất chỉ là đánh bài.
Theo mức sống vùng quê chúng tôi, mấy cụ già đánh bài thì to lắm là hai hào, nửa đồng đã gọi là “cờ bạc lớn” rồi. Như thế thì không đến mức gây thù oán trên chiếu bạc. Vậy thì tại sao lại có người đặt “thanh trùng ăn xác” vào quan tài của cụ? Nếu không phải mối hận sâu nặng thì ai lại làm cái chuyện đoạn tử tuyệt tôn này?
Hơn nữa, mấy ngày quàn xác trong nhà chính, tôi và ba anh em họ Lý thay phiên nhau trông coi quan tài, căn bản không ai có cơ hội động tay động chân. Chuyện này rốt cuộc là sao?
Lý Kiến Dân còn nói thêm, sau khi hạ táng cha, ba anh em họ bàn bạc cả nửa ngày cũng không phát hiện kẻ khả nghi nào. Mỗi lần muốn hỏi trong mơ xem ai là người bỏ “thanh trùng” vào quan tài, cụ già chỉ mỉm cười mà không đáp.
Bọn họ thậm chí từng nghi ngờ tôi và người chết có quan hệ mờ ám gì đó, may mà cuối cùng phủ định. Bằng không, tôi đúng là “chuột chui ống bễ”, hai đầu đều bị kẹp.
Manh mối hoàn toàn bế tắc, chẳng biết rốt cuộc là ai đã bỏ “thanh trùng” vào trong quan tài. Chỉ có tìm ra kẻ đó mới hóa giải được nỗi oan của người chết, tôi mới có thể khỏi những bọng nước này. Nếu không, tôi cũng chẳng sống được bao lâu.
“Ý cậu là… trên người cậu… cũng mọc những bọng đó?” Lý Kiến Dân bất chợt vỗ đùi, như chợt hiểu ra.
Tôi gật đầu, vén áo cho ông ta xem một mảng lớn bọng đỏ lồi ra, rồi hỏi: “Đám giả tiên kia cũng nổi thứ này à?”
“Đúng… đúng rồi, chính là thứ này, nhìn ghê lắm! Sao trên người cậu cũng có vậy?” Ông ta vừa nhìn vừa hỏi, vẻ đầy kinh ngạc.
Đúng lúc tôi định giải thích thì Quách Béo bỗng ré lên: “Mẹ ơi! Bọn mình quen nhau lâu thế mà giờ mới phát hiện anh không phải người!”
“Cút! Chính mày mới không phải người!” Tôi gầm lên, tiện tay nhét quả táo trên bàn vào mồm nó, rồi quay sang Lý Kiến Dân: “Đừng bận tâm, bạn tôi nó vốn thế.”
“Không sao. Cậu quên rồi à? Cháu gái tôi cũng giống giống bạn cậu đó thôi.” Lý Kiến Dân xua tay cười.
“Cháu gái ông bao nhiêu tuổi rồi? Có chồng chưa?” Quách Béo vừa nhồm nhoàm nhai táo, vừa sáng mắt hỏi, mặt mũi đúng kiểu dê xồm.
“Cái đồ mặt dày! Cháu gái người ta mới bảy, tám tuổi thôi, mày cưới kiểu gì?” Tôi lại túm một quả táo khác nhét vào miệng nó.
“Thế thì thôi… để dành cho anh vậy.” Quách Béo tỉnh bơ đáp, rồi bắt chéo chân, ôm quả táo gặm tiếp.
Nhiều lúc tôi thật sự bất lực với thằng này. Giống như ông trời cố tình trừng phạt tôi, bắt tôi phải quen với cái thằng vừa béo vừa suốt ngày nghĩ bậy bạ. Bao nhiêu lần tôi hối hận vì ngày xưa đã nói đỡ cho nó, bằng không thì đâu phải quen biết cái tên phiền phức này.
Đúng lúc ấy, bên ngoài vang lên những tiếng “Cốc cốc cốc” dồn dập.
“Nghe đây! Tôi là Lang sở trưởng, công an thị trấn Đông Hưng! Cho các anh một phút, lập tức ôm đầu bước ra, nếu không chúng tôi sẽ phá cửa xông vào!”
Nghe xong, tôi suýt phì cười. Vị Lang sở trưởng này chắc xem nhiều phim cảnh sát hình sự quá rồi. Đối phó mấy dân thường như chúng tôi mà cũng bày trò đó. Nhưng ở dưới mái hiên thì phải cúi đầu, chúng tôi đành làm theo. Lý Kiến Dân cũng định giơ tay đầu hàng, tôi ngăn lại: “Chuyện này không liên quan đến ông.”
Tôi và Quách Béo bước ra ngoài, lập tức thấy bảy tám công an mặc sắc phục. Người đi đầu là một thanh niên chừng hai mươi tuổi. Ấn tượng đầu tiên là chính khí lẫm liệt, gương mặt góc cạnh như dao tạc, cặp mày kiếm rậm rạp, dưới là đôi mắt sâu thẳm, thoạt nhìn có chút giống tài tử Triệu Văn Trác.
“Nằm xuống!” Đó là câu đầu tiên Lang Cao nói với tôi. Về sau, trong suốt quãng đời khiêng quan tài của mình, câu tôi nói nhiều nhất với Lang Cao cũng là: “Nằm xuống!” Đúng là đời thường trớ trêu.
Tôi gật đầu, trong lòng hơi ấm ức nhưng không dám phản kháng, chỉ biết ôm đầu ngồi xổm xuống. Tôi hiểu, nếu chống cự thì hôm nay chắc chắn sẽ bị ăn đòn. Thà thuận theo hắn rồi vào đồn giải thích còn hơn.
“Mẹ nó! Tôi có phạm tội đâu, dựa vào cái gì mà bắt tôi nằm xuống?” Quách Béo tính khí nóng nảy, vừa nghe từ “nằm xuống” đã nổi khùng, giơ nắm đấm định lao lên. Tôi vội túm ống quần nó, lắc đầu: “Tin tao đi, người này sẽ không vu khống bừa đâu.”
“Sao? Tên mập kia, cậu dám chống người thi hành công vụ à?” Một công an trung niên bên cạnh Lang Cao quát to.
Lang Cao chỉ khẽ lắc đầu, nói: “Đưa về đồn thẩm vấn.”
Thế là tôi và Quách Béo bị áp giải lên xe. Sau một tiếng rưỡi lắc lư, cả hai bị nhốt vào trại tạm giam. Suốt quãng đường, Quách Béo không ngừng than vãn, miệng la hét “Chúng tôi bị oan!” y như mấy bà hàng xóm nhiều chuyện, khiến ngay cả mấy công an đi kèm cũng phát bực. Cuối cùng, họ phải tìm vài chiếc găng tay trắng nhét vào miệng nó, xe mới yên tĩnh trở lại.
Trong buồng giam ngồi chờ khoảng hai tiếng, tôi bị dẫn vào một phòng thẩm vấn. Lang Cao ngồi đó, nhíu mày suy nghĩ điều gì.
“Lang sở, hung thủ giết cậu của anh, đã mang đến rồi!” Một người nói xong liền đẩy tôi đến trước chiếc ghế đối diện Lang Cao rồi rời đi.
“Ngồi đi, huynh đệ!” Thái độ của Lang Cao làm tôi sững sờ. Không ngờ anh ta còn đứng dậy, tự tay kéo ghế cho tôi.
“Lang sở trưởng, đây là…?” Tôi nhìn chằm chằm vào mặt anh ta mấy phút, không dám ngồi xuống. Chuyện này quá bất thường, tôi sợ có bẫy, chỉ còn cách đứng mà hỏi.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 9 others
Chương 26: Lang Cao
Lang Cao cười khổ một tiếng, rút ra một bao thuốc, lấy một điếu đưa cho tôi rồi nói: “Huynh đệ à, tôi cũng bất đắc dĩ mới phải mời các cậu về đây làm cho có thủ tục, mong các cậu đừng trách.”
“Tại sao?” tôi hiếu kỳ hỏi.
“Aizz! Người chết là cậu ruột tôi, hôm qua mợ tôi gọi điện cho tôi. Ý bà ấy rất đơn giản, nếu không bắt cậu lại, ngày mai bà ấy sẽ đến đồn công an gây chuyện. Cậu cũng biết đấy, mấy bà thôn quê mà đã ầm ĩ thì chẳng có hồi kết. Huống hồ bà ấy lại là mợ của tôi, tôi cũng không tiện dùng biện pháp cứng rắn, đành làm khổ các cậu thôi!” Lang Cao châm điếu thuốc, rít một hơi, giọng nói chân thành.
Đây đúng là lời thật. Ở quê, một số bà chanh chua vốn thế, dựa vào việc có họ hàng làm quan chức nhỏ liền hống hách trong làng, gây phiền phức cho chính người thân. Loại chuyện này chẳng hiếm.
Tôi ngồi xuống ghế, hỏi: “Anh không nghi ngờ tôi là hung thủ giết cậu anh sao?”
“Sao mà nghi được. Chúng tôi làm công an không tin mấy chuyện mê tín đó. Hơn nữa, mười năm trở lại đây hồ sơ của cậu tôi đã tra sạch sẽ, chẳng có chút thù oán nào với cậu tôi. Nếu nói có chút xích mích, thì là ở đám tang mấy hôm trước, do việc khiêng quan tài mà phát sinh chút bất đồng. Nhưng sau đó cậu vẫn ở lại thôn Ấu Tử, chưa từng rời đi. Chúng tôi làm công an chỉ nói bằng chứng, sẽ không vì vài lời đồn mê tín mà bắt bừa người.” Lang Cao gõ nhẹ ngón tay lên bàn, giọng điệu chợt trầm xuống: “Tất nhiên, nếu tôi biết được có kẻ dùng mấy thủ đoạn tà ma bậy bạ hại chết cậu của tôi, thì Lang mỗ cũng quyết không tha.”
Ý anh ta rất rõ, muốn tôi đưa ra bằng chứng, chứng minh mình không biết những tà thuật quái dị ấy.
Tôi cũng không dài dòng, cởi áo ra, để lộ những vết bọng độc trên người rồi nói: “Tôi có thể đưa bạn tôi đi chưa?”
Lang Cao nhìn chằm chằm trên người tôi đến mấy phút, sắc mặt biến đổi liên tục, sau đó mới quay ra cửa gọi lớn: “Lão Tống, đưa cậu nhóc béo kia vào đây.”
Chẳng bao lâu sau, Quách Béo bị dẫn vào. Thấy tôi cởi trần, nó lập tức cởi giày cầm lên tay, ném thẳng về phía Lang Cao, gào: “Con mẹ nó! Anh làm gì Cửu ca của tôi thế hả?”
“Béo, đừng loạn! Chúng ta đi thôi!” tôi vội kéo nó lại, lôi ra cửa.
“Huynh đệ, đợi đã!” Lang Cao gọi với theo: “Xem như lời xin lỗi, đây là ba trăm đồng coi như bồi thường tinh thần cho các cậu. Đây nữa, giấy xác nhận tôi viết, có đóng dấu đỏ của đồn. Về Lý thôn chỉ cần đưa cho mợ tôi, nói rõ các cậu không phải nghi phạm.”
Anh ta dúi vào tay tôi ba trăm đồng cùng một tờ giấy trắng có chữ viết.
Tôi nhận tờ giấy, đẩy lại tiền: “Nghèo thì nghèo, nhưng tôi không vì tiền mà mất khí tiết.” Có tờ giấy của công an là đủ để vào Lý thôn, không lo đám góa phụ của mấy gã giả tiên gây sự nữa.
Ý tôi là thế, nhưng Quách Béo lại không nghĩ vậy. Nó giật lấy ba trăm đồng, nói: “Nhốt bọn ta hai tiếng, bồi thường ba trăm, tại sao lại không lấy? Đây là chúng ta đáng được nhận!”
Lang Cao chỉ cười, rồi tiễn chúng tôi ra tận cửa đồn, dặn dò: nếu gặp khó khăn thì cứ tìm anh ta, đồng thời nhấn mạnh tôi nhất định phải làm rõ nguyên nhân cái chết của người cậu.
Tôi chỉ gật đầu, không nói thêm. Sau đó cùng Quách béo thuê một chiếc xe máy, phóng thẳng về Lý thôn.
Nhờ có tờ giấy đóng dấu đỏ, lần này chúng tôi vào thôn suôn sẻ, đám góa phụ của mấy gã giả tiên cũng không gây khó dễ, còn dẫn chúng tôi đến tận phòng bọn họ.
Tôi xem từng người một, những giả tiên ấy trên người nổi đầy bọng độc giống hệt tôi: to bằng ngón tay cái, trên mặt nổi lấm tấm đen, hễ chọc thủng là chảy ra thứ dịch hôi thối nồng nặc.
Tình trạng của họ còn nặng hơn tôi, bắt đầu ngứa ngáy, gãi một cái là một vũng dịch bẩn trào ra.
Thú thực, tôi cũng chẳng có cách nào khống chế những bọng độc này, chỉ dặn vợ con họ dùng ngải cứu lau rửa, tối đốt ít giấy vàng cúng cho người chết.
Xem xong bọn họ, tôi đi về phía nhà chính. Quách béo nhất quyết không vào, kêu sợ ma, chạy ra đầu thôn ngồi ngắm gái.
Tôi thật sự muốn đấm cho nó một trận. Cái thân hình thịt mỡ ấy mà chẳng làm được việc gì, hối hận vì đã lôi nó đến Ấu Tử thôn. Nếu sau này bắt nó khiêng quan tài, không khéo nó lại tè ra quần vì sợ.
Tôi một mình bước vào nhà chính. Bên trong nồng nặc mùi thối rữa. Một cỗ quan tài gỗ đen kê giữa gian, nắp hơi xê dịch, lộ ra gương mặt người chết, phủ tờ giấy trắng.
Mấy đạo sĩ lo tang lễ đều đeo khẩu trang, ngay cả họ hàng Lý Hắc Tử cũng thế.
Thấy tôi vào, họ chẳng ngẩng đầu, chỉ lo làm việc. Tôi bất đắc dĩ cười nhạt, xin ba nén hương, thắp lên vái người chết ba lạy.
Tôi quay sang vợ Lý Hắc Tử, khẽ nói: “Đại tẩu, đây là giấy của Lang sở trưởng. Tôi không phải hung thủ giết Lý Hắc Tử. Trên người tôi cũng nổi bọng độc như ông ấy. Tôi muốn xem thi thể, không biết có tiện không?”
Người đàn bà không nói, chỉ quỳ gục khóc nức nở. Tôi cúi mình chào một cái, rồi bất chấp, tiến đến quan tài.
Vừa vén tờ giấy trắng, tôi lùi hẳn hai bước.
Đây tuyệt đối không còn là gương mặt người! Đôi mắt trợn to như mắt trâu, bên trên lúc nhúc dòi bọ bò lổm ngổm. Ngũ quan méo mó đến quái dị, dịch bẩn rỉ xuống thành giọt, ruồi nhặng vo ve quanh.
Tôi hít mạnh một hơi lạnh. Lý Hắc Tử chết chưa đến ba ngày. Dù trời nóng, cũng không thể thối rữa nhanh như thế, hoàn toàn trái với quy luật tự nhiên!
Trong lòng dấy lên nghi ngờ, tôi bước lên vén tấm chăn phủ trên thân xác.
Mùi thối gắt gỏng phả thẳng vào mặt. Trên thi thể, từng đàn dòi đã bò kín áo tang, chẳng nhìn ra được vải vóc ban đầu. Có thể tưởng tượng, bên trong lớp áo ấy là một cơ thể mục nát đến mức nào.
“Tại sao thi thể thối rữa thế này mà các người còn làm tang lễ!” tôi ngẩng đầu quát vị đạo sĩ chủ sự: “Rắc vôi ngay! Trừ tà khí!”
“Trần Bát Tiên, đám tang này là chúng tôi phụ trách. Mong anh tự trọng, đừng tưởng làm nghề khiêng quan tài thì có thể nhúng tay vào việc tang sự. Nếu còn vượt ranh giới, đừng trách chúng tôi đạo sĩ không khách khí.” gã đạo sĩ cười khẩy.
Nghe thế, tôi cứng họng. Hắn nói đúng, nước có pháp luật, nghề có quy củ. Việc tôi nhận tang sự nhà Lý Kiến Dân lần trước đã vượt quá phạm vi nghề khiêng quan tài.
Nhưng thi thể Lý Hắc Tử chưa kịp chôn mà đã rữa đến mức này thì rõ ràng bất thường! Nếu cứ thế mà hạ táng, chẳng biết còn hại bao nhiêu người. Huống hồ, mạng tôi và bảy gã giả tiên kia đều liên quan đến thi thể này. Chỉ khi tìm ra nguyên nhân nó thối rữa nhanh như vậy, có khi mới hiểu rõ toàn bộ sự việc…

Chương 27: Xung đột
Người ta vẫn nói “người chết là lớn”, nên tôi cũng không muốn tranh cãi thêm với lão đạo sĩ kia. Tôi chỉ khẽ cúi đầu xin lỗi rồi nói: “Thi thể mục rữa thế này, các ông còn định mở đường, đem đi chôn sao?”
Tôi cố gắng giữ giọng nói thật hòa nhã, chỉ sợ lỡ lời thì chọc giận bọn họ. Mấy ông đạo sĩ này, bản lĩnh chẳng có bao nhiêu, nhưng cái tính tình thì lớn lắm, mà lại toàn có tổ chức, dây dưa với nhau.
Lão đạo sĩ gật gật đầu: “Không còn cách nào khác, chỉ có thể hạ táng thôi. Pháp gì cũng làm rồi, mà thi thể vẫn thối rữa nhanh như vậy.”
“Tôi hỏi, kim chống phân hủy cũng tiêm rồi chứ?” Tôi liếc nhìn vào trong quan tài, rồi hỏi tiếp.
“Hôm vừa chết đã tiêm rồi, không thì thi thể còn thối rữa nhanh hơn nữa!” Nói xong, lão khẽ nhắm mắt lại, hai tay vòng trước ngực, ngồi trên ghế với dáng vẻ nhàn nhã, như chẳng còn chuyện gì liên quan đến mình.
Thấy thái độ của lão như vậy, tôi biết có hỏi thêm cũng chẳng moi được gì. Đành rắc ít vôi quanh quan tài, rồi vòng quanh đó mấy lượt, hy vọng có thể phát hiện điều gì từ thi thể.
Quả nhiên, mới đi được ba vòng, tôi đã nghe thấy trong quan tài phát ra âm thanh rất nhỏ. Nếu không tập trung lắng nghe, căn bản sẽ không nhận ra.
Tôi nghiêng người về phía trước, mùi tử khí nồng nặc xộc thẳng vào mũi, buộc tôi phải bịt mũi lại. Tôi dán tai sát mép quan tài, lắng nghe thật kỹ.
“Chót… chót…”
Âm thanh đó the thé, chói tai, giống như hàng vạn con muỗi đang vo ve ngay bên tai. Tôi giật mình, lập tức lùi lại, xoa xoa lỗ tai, rồi chạy tới chỗ người đàn bà, nói: “Trong quan tài có vật sống, tôi muốn lật xác của Lý Hắc Tử lên để xem!”
Người đàn bà còn chưa kịp đáp, thì thằng bé con chừng năm, sáu tuổi bên cạnh bà ta bất ngờ lao tới, cắn một phát thật mạnh vào cánh tay tôi. Cơn đau khiến tôi phải hét lên.
“Ngươi trả cha cho ta! Chính ngươi hại chết cha ta! Bây giờ còn muốn lật xác cha ta! Ngươi là đồ xấu xa!”
Nó vừa khóc vừa gào, cắn xong thì lại òa ra khóc lớn. Tôi xoa vết cắn trên cánh tay, cố nén giận, nhìn người đàn bà mà nói: “Nếu không muốn để Lý Hắc Tử chết không nhắm mắt, thì phải lật xác ra xem!” Trong lòng tôi cũng tức, cái đám tang này vốn chẳng liên quan gì đến mình, thế mà giờ tôi bị đẩy thành kẻ đứng giữa, cả hai bên đều ghét.
Người đàn bà ôm con trai, bắt nó lạy vài cái, rồi im lặng rất lâu mới nghẹn ngào nói: “Chuyện đã đến nước này, tùy cậu vậy. Chỉ cần đừng để chồng tôi chết không nhắm mắt là được.”
Trong thôn quê, lật xác là điều cấm kỵ lớn, chẳng ai dám đồng ý trừ khi tình thế bất đắc dĩ. Người đàn bà nói được câu đó quả thật không dễ.
Tôi lập tức gật đầu, tìm một cây gậy tre, rồi nhờ thêm vài người dịch nắp quan tài ra. Cái nắp nặng nề, tôi gọi mấy đạo sĩ giúp một tay, nhưng lũ khốn ấy cứ đứng khoanh tay, ra vẻ người ngoài. Tôi thật sự muốn vả cho chúng vài cái, làm đạo sĩ kiểu gì mà hèn thế, không sợ người chết tìm đến tính sổ sao?
Cuối cùng, tôi một mình gắng sức, mới dịch được nắp quan tài ra, thở hồng hộc, định hít vài hơi sâu để điều chỉnh nhịp thở. Nhưng chưa kịp, một luồng mùi tử khí nồng nặc đã xộc thẳng vào mũi. Tôi ói ngay tại chỗ, nôn sạch cả cơm nước hôm qua, suýt nôn cả mật xanh mật vàng ra. Cái mùi thối rữa này quả thật quá kinh khủng.
Nôn xong, tôi lau miệng, rồi cầm gậy tre chọc vào tấm vải phủ trên thi thể. Ngay sau đó, tôi nghe tiếng “tí tách, tí tách” rơi xuống.
Trong căn nhà khô ráo này, lấy đâu ra tiếng nước nhỏ giọt? Tôi nghi hoặc, đưa mắt nhìn quanh. Căn nhà đơn sơ, tường khô cong, chẳng có chút hơi ẩm nào, vậy mà vẫn vang lên tiếng tí tách.
Âm thanh càng lúc càng dồn dập. Tim tôi thót lại, chẳng lẽ lại xảy ra chuyện giống lần trước?
Tôi lại nhìn quanh, từ góc tường, mái nhà cho đến từng khe kẽ, không bỏ sót chỗ nào, nhưng vẫn không thấy gì khác thường.
Chẳng lẽ…
Tôi vội vàng cúi xuống, nhìn dưới đáy quan tài: Trời ạ! Bên dưới đã rỉ ra một đống nước xác, màu xanh lè, nhìn thôi đã buồn nôn.
“Không hay rồi, đèn Trường Sinh sắp tắt!” Tôi ngẩng lên nhìn phía đầu quan tài. Quả nhiên, có mấy giọt nước xác đã rơi vào đĩa dầu của ngọn đèn Trường Sinh.
Nghe tôi nói vậy, lão đạo sĩ liếc tôi bằng ánh mắt khinh khỉnh: “Con mẹ nó, ta nhìn thấy rồi!”
Nói rồi, hắn chỉ tiện tay dịch ngọn đèn ra chỗ khác, mặc kệ nước xác rỉ xuống. Hắn còn bảo gia chủ kiếm ít nilon bọc quan tài lại, rồi đem đi chôn luôn, khỏi mở đường gì hết.
Tôi thật sự bất lực trước đám đạo sĩ chỉ biết đến tiền này. Những quy củ của tổ tiên để lại, bị bọn chúng bỏ sạch, tiết kiệm được gì thì tiết kiệm, chỉ nghĩ đến tiền của chủ nhà. Giờ đến cả mở đường, nghi thức quan trọng bậc nhất mà chúng cũng muốn cắt bỏ.
“Không được! Nhất định phải mở đường! Nếu chôn thẳng thế này, các người chính là hại chết gia chủ! Kiếm cái loại tiền này, các người tiêu xài có thấy yên lòng không?!” Tôi nổi giận, chẳng thèm giữ kẽ nữa, hét thẳng vào mặt bọn chúng.
“Gia chủ chưa nói gì, ngươi, một thằng khiêng quan tài, có tư cách gì mà nói?” Lão đạo sĩ hất hàm, rồi gọi mấy tên cùng phe vây chặt lấy tôi, chuẩn bị động thủ ngay trong nhà tang lễ.
Những kẻ chuyên mở đường trong thôn quê, thường chẳng ai dám đắc tội. Lý do đơn giản thôi: nhà nào chẳng có ông bà già? Cho dù nhà mình không có, họ hàng cũng sẽ có. Nếu chọc giận bọn đạo sĩ này, sau này cần họ mở đường, dựng pháp đàn, tiễn đưa… thì bọn chúng sẽ chém giá cắt cổ. Mà số đạo sĩ trong vùng thì đếm trên đầu ngón tay, đã vậy còn liên kết với nhau. Tôi cũng lo việc đó, nên lần trước phải mời đạo sĩ từ ngoài về làm.
Vì thế, những người có mặt đều đứng nhìn, chẳng ai dám can ngăn, ngay cả thân nhân của Lý Hắc Tử cũng chỉ thở dài, chứ không dám mở miệng, mặc kệ đám đạo sĩ vây đánh tôi.
Cơn tức trong tôi bùng lên như lửa đốt, lý trí cũng mờ đi. Tôi liền cởi áo, để lộ những nốt bọng nước đen sì trên người: “Các người mở to mắt mà nhìn! Đây là hậu quả của lần làm tang trước! Nhìn người chết trong quan tài đi! Nhìn bảy tên giả tiên ở Lý thôn đi! Tất cả đều do tang lễ không làm đàng hoàng mà ra! Các người còn dám nói đem chôn luôn? Người chết không được an nghỉ, các người nghĩ họ sẽ bỏ qua cho các người sao? Sẽ bỏ qua cho gia chủ sao? Mẹ kiếp, lương tâm các người bị chó tha đi rồi à?!”
Vừa dứt lời, trong lòng tôi dâng lên một cảm giác vô cùng kỳ lạ. Mơ hồ như mình vừa chạm tới thứ gì đó rất quan trọng. Nhất là khi nhắc đến hai chữ “tang lễ”, cảm giác đó càng rõ rệt, nhưng lại mông lung, không thể diễn tả bằng lời.
Tôi còn chưa kịp nghĩ nhiều, bụng đã trúng một cú đá trời giáng. Cơn đau khiến tôi trượt ngã ngồi phịch xuống đất. Ngay sau đó, bảy tám cú đá nữa dồn dập giáng lên người tôi.
“Con mẹ ngươi! Một tên khiêng quan tài cũng dám làm càn trước mặt bọn ta? Có tin chỉ cần bọn ta buông một câu, thì cả đám khiêng quan tài các ngươi khỏi có việc làm không? Còn mẹ nó dám khoe cái bọng nước trên người? Nếu ngươi không nhận tang lễ kia, thì đã chẳng xảy ra chuyện này rồi!”
Lão đạo sĩ vừa chửi vừa lại giáng thêm một cú vào bụng tôi: “Đánh cho ta!”

Chương 28: Lại gặp loài cá dọn bể
Một mình sao địch nổi bốn, năm người; anh hùng cũng khó mà thoát khỏi bầy sói. Tôi chỉ còn cách ôm đầu cuộn người lại, mặc cho nắm đấm, cú đá trút xuống thân mình. Không phải tôi không muốn phản kháng, mà là có phản kháng thì chỉ chuốc thêm nhiều cú đấm hơn.
“Mẹ nó, trẻ ranh không ăn học đàng hoàng, lại muốn giành miếng cơm với bọn ta. Lần sau còn dám tái phạm, ông đây đánh cho ngươi tàn phế luôn!” tên đạo sĩ dẫn đầu tung thêm một cú đá vào ngực tôi, giọng đầy khinh bỉ: “Cút! Đừng có lắm lời ở đây. Tang sự phải làm thế nào, ông đây hiểu hơn cái loại phu khiêng quan tài như ngươi nhiều.”
Tôi gượng dậy, lau máu ở khóe miệng. Nhìn xuống người, không ít bọc mụn độc trên da đã bị chúng đá vỡ, mùi hôi thối bốc ra nồng nặc. Cộng thêm mùi tử khí từ xác Lý Hắc Tử, hai luồng hôi thối quyện lại, khiến cả gian nhà đường ngập trong mùi ghê tởm. Không ít người chịu không nổi, ôm miệng nôn rồi chạy ra ngoài.
Ngay lúc ấy, chuyện quái lạ xảy ra. Tên đạo sĩ dẫn đầu vừa bước một chân qua ngưỡng cửa nhà đường, chân còn lại như bị dính chặt, không nhấc nổi. Đám đạo sĩ khác cũng vậy, y như bị trúng bùa định thân, đứng chết lặng tại chỗ.
Rồi bất ngờ, cả đám như bị rút gân, đồng loạt quỳ rạp xuống, mắt vô hồn ngước nhìn lên trần. Tôi chạy đến kéo họ dậy, nhưng nặng như đá, gọi cũng chẳng thưa, chỉ trơ mắt nhìn trời.
Thấy tình hình, tôi vội xoay người quỳ xuống trước quan tài, đốt ba nén hương, ít giấy vàng, dập đầu ba cái, khấn: “Tiểu nhân vô ý mạo phạm, chỉ muốn tìm rõ nguyên do, xin ngài đừng trách tội!”
Kỳ lạ thay, mùi thối nồng nặc trong nhà đường bỗng nhạt đi rõ rệt. Nhưng tiếng động bên trong quan tài lại vang lớn hơn.
Tôi đứng dậy, khom người vái thêm ba cái, rồi cầm gậy tre đi đến cuối quan tài. Dùng gậy gạt tấm chăn phủ ra ngoài, liền thấy bộ áo tang trên xác đã biến mất. Thân thể mục rữa nát bấy, tứ chi chi chít hạt trắng lông mịn như trứng. Bụng xác chết bị vật sắc bén rạch toang, ruột gan đỏ lòm lòi cả ra ngoài.
Âm thanh “chóc, chóc” càng lúc càng dữ dội. Tôi vốn định đưa tay dịch xác ra, nhưng cảnh tượng trước mắt kinh tởm đến mức không thể nào xuống tay. Đành dùng gậy tre khều khều dịch thi thể sang bên.
Vừa tách được một khe, mấy con cá dọn bể to bằng ngón tay cái phóng vọt ra từ dưới xác. Mép miệng chúng còn dính máu, rõ ràng vừa gặm nhấm xác chết.
“Quái, sao lại có cá dọn bể ở đây?” Tôi rủa thầm, rồi giơ gậy phang xuống. Nhưng càng đánh, càng nhiều con nhảy ra. Sơ sơ cũng phải đến hàng trăm.
Chúng cứ nhảy nhót trong quan tài, nhưng lại không thoát ra ngoài. Thế nhưng điều khiến tôi kinh hãi hơn, là thi thể kia bị lũ cá này gặm nhấm với tốc độ mắt thường cũng thấy được. Chỉ trong chốc lát, đã chỉ còn bộ xương trắng hếu.
Chẳng mấy chốc, trong quan tài chỉ còn lại nửa hòm đầy máu. Đám cá dọn bể bơi tung tăng như trong ao, thoải mái vô cùng. Nhưng cảnh tượng ấy lại khiến tôi nổi da gà, hồn vía bấn loạn, đầu óc trống rỗng.
Sững người một lúc lâu, tôi bật ra tiếng gào thét lớn nhất đời mình: “Có ai không! Xác Lý Hắc Tử bị ăn sạch rồi!”
Khi con người đối mặt nỗi sợ cùng cực, chỉ có ánh sáng và tiếng hét mới đem lại chút an toàn. Nếu không, dễ mà hóa điên. Sau tiếng hét ấy, tôi gắng gượng giữ bình tĩnh, nhưng đôi chân run rẩy vẫn bán đứng sự hoảng hốt trong lòng.
Mọi người ùa vào, thì đám cá đã bắt đầu gặm cả thành quan tài. Họ hỏi chuyện gì, tôi run rẩy chỉ vào quan tài: “Xác… xác bị ăn mất rồi!”
Họ vừa nhìn thoáng qua đã nôn mửa liên hồi. Vợ Lý Hắc Tử khóc lóc hỏi tôi: “Giờ… phải làm sao đây?”
“Đốt đi! Thứ cá này ăn cả người!” Tôi hít sâu, chậm rãi đáp: “Mau gom củi khô, chất quanh quan tài, rồi đốt cùng nhau. Tôi tin linh hồn Lý Hắc Tử trên trời cũng mong chúng ta làm vậy.”
Nghe tôi nói, mọi người vội gom vài bó củi khô quây quanh quan tài rồi châm lửa. Nhưng vì trong quan tài máu quá nhiều, củi chẳng đủ. Cuối cùng, vợ Lý Hắc Tử phải gom hết củi trong cả thôn mới đốt sạch được quan tài.
Ngọn lửa cháy suốt tám canh giờ. Khi lửa tàn, đám đạo sĩ quỳ ngoài cửa mới hoàn hồn. Nhìn cảnh trước mặt, họ chẳng nói lời nào, chỉ ném cho tôi ánh mắt căm hận rồi lạnh lùng buông: “Non xanh chẳng đổi, nước biếc còn dài. Về sau tang sự, chúng ta sẽ phân cao thấp!”
Mối thù này coi như đã kết. Tôi cũng chẳng còn cách nào, đành để mặc họ bỏ đi, tự nhủ coi như hôm nay bị ma quỷ dần cho một trận. Chỉ có Quách Béo tức khí muốn đi trả thù, tôi phải kéo lại.
Sau đó, tôi gọi điện cho Lang Cao, bảo sáng mai mang hũ tro đến Lý thôn, để đựng tro cốt cậu ruột anh ta. Nghe xong, anh ta hỏi vì sao, tôi kể sơ tình hình.
Lang cao lại hỏi, cá dọn bể đâu ra, không có nước sao sống nổi. Tôi nghĩ một hồi rồi đáp: “Loài cá này sức sống và sinh sản cực mạnh, chỉ cần chút ít tử thủy là sống được, lại còn đẻ trứng, mấy ngày là nở cả bầy. Còn việc chúng lọt vào quan tài thế nào, thì tôi chưa rõ.”
Nghe xong, anh ta im lặng thật lâu, rồi nói một câu: “Ngày mai tôi sẽ mang người đến điều tra!”
Đêm ấy, tôi không về thôn Ấu Tử, mà ở lại nhà Lý Kiến Dân cùng Quách Béo. Sáng sớm, Lý Kiến Dân mở cửa, cười hả hả: “Trần Bát Tiên, đêm qua tôi lại mơ thấy cha rồi!”
Tôi bật dậy, cấu vào người Quách Béo cho nó tỉnh, rồi hỏi: “Mơ thấy gì?”
“Cha tôi bảo, nhờ cậu mà cảm ơn. Dưới âm phủ giờ ông sống yên ổn, không còn bị bầy cá nhỏ quấn quanh nữa. Chỉ là ngực còn thấy tức, hình như thiếu thứ gì, mong cậu giúp để ông được đi đầu thai.” Lý Kiến Dân hớn hở kể.
Nghe vậy, tôi day day thái dương, xâu chuỗi lại mọi chuyện. Đốt đám cá dọn bể xong, Lý Kiến Dân liền mơ thấy cha mình yên ổn. Có nghĩa, oán khí của ông phần lớn đến từ bọn cá này.
Nghĩ cũng phải, ai mà chẳng hận kẻ dám gặm xác mình? Lần trước tôi thả bọn chúng, ông hận tôi cũng dễ hiểu. Giờ đốt đi một phần, chứng tỏ tôi không cố tình dung túng, oán khí mới tan. Đây không hẳn là báo thù, mà là tấm lòng an ủi.
Còn chuyện đám giả tiên kia, chắc là vì cảnh huyên náo trong linh đường đã khiến ông oán cả bọn họ. Huống chi tuổi, mạng bọn họ xung khắc với ông, càng dễ chọc giận. Thế nên bọc mụn trên người họ còn nặng hơn tôi, khiến Lý Hắc Tử vong mạng.
Còn lời ông nói tức ngực, chưa thể đầu thai, e là ám chỉ kẻ đã bỏ cá dọn bể vào quan tài.
Nhưng ai đã làm chuyện đó? Lẽ nào cha Lý Kiến Dân và Lý Hắc Tử cùng có một kẻ thù?

Chương 29: Tìm kiếm manh mối
Sau đó, chúng tôi qua loa ăn chút cơm sáng ở nhà Lý Kiến Dân, trong lúc ấy, đại ca và tam đệ của ông ta cũng đến, bày tỏ lòng cảm ơn với tôi. Tôi chỉ nói đó là việc nên làm, rồi dẫn Quách Béo đến nhà Lý Hắc Tử.
Do trận đốt hỏa đêm qua kéo dài quá lâu, cả gia quyến Lý Hắc Tử gần như không được chợp mắt, ai nấy đều lộ ra đôi mắt thâm quầng. Thấy tôi đến, thái độ của họ thay đổi rõ rệt, nhiệt tình đến mức tôi có chút không quen.
Nói chuyện hồi lâu, họ nhất quyết giữ chúng tôi lại ăn chút cơm sáng ở nhà họ, viện cớ rằng đó là lễ nghĩa, đã giúp lo tang sự cho gia đình thì không thể đi ăn ở nơi khác. Tôi và Quách Béo đành bất đắc dĩ lại ăn thêm một chút.
Đợi khoảng nửa tiếng, Lang Cao mang theo hai cảnh sát đi vào. Lần này anh ta không mặc cảnh phục, mà vận áo tang, rõ ràng lấy thân phận người cháu để tang mà tham gia tang lễ.
Tôi bàn bạc với thân quyến của Lý Hắc Tử, cuối cùng quyết định bỏ qua nghi thức khai lộ (rước linh đi vòng trong pháp trường). Nguyên nhân là vì con cái của Lý Hắc Tử còn quá nhỏ, cháu chắt cũng chỉ có ba người, sợ rằng vòng quanh pháp trường không xoay đủ. Thêm nữa, trong làng còn bảy tên giả tiên trên người mang đầy bọng sát khí, lỡ chọc giận thêm người chết thì không hay, mà việc này ít nhiều lại có liên quan đến cái chết của Lý Hắc Tử.
Xét đủ lý do, nghi thức khai lộ được bỏ qua. Nhưng lại thêm một nghi thức khác: dựng bia máu. Theo phong tục bên tôi, bia mộ thường phải đợi sau một năm mới được dựng. Nhưng vì lần này tình hình đặc biệt, thân quyến Lý Hắc Tử yêu cầu dựng bia máu, xem như một cách khác để bày tỏ lòng thương nhớ với người chết.
Dựng bia máu và dựng bia mộ chỉ khác nhau một chữ, nhưng thủ tục lại phức tạp hơn nhiều, đồ chuẩn bị cũng không ít. Thậm chí có thể nói, dựng một tấm bia máu còn tương đương với lo liệu một tang sự lớn.
Tôi không từ chối, mà bảo rằng tang lễ cứ để đám đạo sĩ kia tiếp tục chủ trì, còn việc khiêng bia, dựng bia thì tôi có thể nhận. Họ suy nghĩ một lúc, thấy cũng hợp lý, liền đồng ý.
Cũng hết cách, vì tang sự vốn đã do nhóm đạo sĩ đó nhận trước. Nếu tôi chen ngang, sẽ thành cái cớ cho người ta chỉ trích. Tôi không muốn bị điều tiếng. Dù sao trong đám đạo sĩ cũng có kẻ tham tiền, nhưng cũng không ít người giữ thiện niệm. Tôi không thể vì một tang sự mà đắc tội cả giới đạo sĩ.
Sau này tôi còn phải sống nhờ cái nghề này, tôi đại diện không chỉ bản thân, mà là cả nhóm bát tiên của lão Vương. Đắc tội bọn họ, e rằng sau này chẳng còn mối khiêng quan tài nào để làm. Lời của đạo sĩ hôm qua không phải dọa nạt, mà là sự thật, nói trắng ra, bát tiên chúng tôi sống nhờ miếng cơm dưới mắt bọn họ.
Cuối cùng, vợ Lý Hắc Tử hỏi tôi thời gian dựng bia máu. Tôi xin bát tự của con trai bà ấy, lại hỏi thêm bát tự của Lý Hắc Tử, tính toán rồi quyết định thời điểm vào chiều ngày mai, tức cùng ngày hạ táng.
Mọi việc bàn xong, Lang Cao nhờ tôi phối hợp với hai cảnh sát điều tra xem ai là kẻ bỏ cá dọn bể vào quan tài. Tôi đồng ý ngay, vì trên người tôi những bọng sát tuy đã giảm bớt nhưng vẫn chưa khỏi hẳn, mà hung thủ bỏ cá liên quan trực tiếp đến sức khỏe của tôi.
Vốn Lang Cao cũng muốn tham gia điều tra, nhưng tôi từ chối. Tôi nói, đã khoác áo tang thì phải làm tròn bổn phận người cháu để tang, nếu không sẽ khiến người chết không vui. Anh ta nghĩ rồi gật đầu, bảo tôi nhất định phải tìm ra kẻ đã hại chết cậu mình.
Ra khỏi nhà Lý Hắc Tử, bên cạnh tôi có thêm hai cảnh sát đi cùng. Quách Béo thì phổng mũi, huênh hoang nói có cảnh sát làm vệ sĩ cho mình thì oai vô cùng, khiến hai anh cảnh sát trừng mắt nhìn.
Tôi bảo họ trước tiên cứ đến linh đường (nhà tang) xem có manh mối nào không, còn tôi thì dẫn Quách Béo đi thăm mấy gã giả tiên, muốn xem tình trạng của họ thế nào.
Sau khi kiểm tra, phát hiện những bọng sát trên người họ so với hôm qua đã bớt nhiều. Vợ con họ bảo tắm nước ngải cứu có hiệu quả, còn cảm ơn tôi rối rít, lại dúi cho tôi ít tiền.
Nói thật, tôi chẳng phải hạng quân tử cao thượng gì, cũng không phải loại làm ơn không cần báo đáp. Họ cảm ơn tôi thì tôi thản nhiên nhận, tiền bạc tôi cũng không từ chối. Tôi cần tiền mua thuốc cho mẹ, cần tiền chia sẻ trách nhiệm với cha, thậm chí ích kỷ hơn một chút, tôi cũng cần tiền để sau này cưới vợ.
Đã nhận tiền thì càng phải làm việc cho đến nơi. Tôi dặn họ tiếp tục tắm ngải cứu cho đám giả tiên, nếu có điều kiện thì ra mộ cha Lý Kiến Dân mà đốt ít vàng mã, khấn vài lời, chắc chắn sẽ hồi phục nhanh hơn.
Họ lại cảm ơn thêm lần nữa, suýt quỳ xuống. May mà Quách Béo nhanh tay đỡ dậy, miệng còn nói: “Nghe lời cửu ca là không sai đâu, bảo đảm mấy ngày nữa sẽ khỏi hẳn.”
Đám phụ nữ ấy chắc không nhận ra, nhưng tôi thì thấy rõ, nó đâu có đỡ, mà là nhân cơ hội sàm sỡ. Có lúc tôi thật chẳng hiểu nổi thằng béo này, khẩu vị sao mà nặng thế chứ?
Tôi đá cho nó một phát, mắng: “Cút ra ngoài! Đừng có giở trò vớ vẩn nữa!”
Quách Béo ấm ức rụt tay lại, mặt đầy vẻ ấm ức, lẩm bẩm rồi lủi ra ngoài. Tôi cũng bước theo sau, rồi cùng hai cảnh sát tiến vào linh đường, định xem xét kỹ càng.
Lúc tôi bước vào, trong linh đường đã có khá nhiều người. Một đạo sĩ trung niên đang nhặt nhạnh xương cốt của người chết, miệng lẩm nhẩm mấy câu chú mà tôi nghe không hiểu. Người nhà thì đang quỳ trước đống tro tàn, khóc nức nở.
Tôi ngẩng đầu nhìn vị đạo sĩ đó: khuôn mặt vuông vức, dưới khóe miệng có chòm râu dài chừng ba tấc, trông toát ra dáng vẻ tiên phong đạo cốt. Thấy chúng tôi vào, ông ta chỉ ngẩng lên liếc một cái, cau mày, rồi lại tiếp tục làm việc, chẳng nói năng gì.
Quách Béo thì chỉ trỏ, nói nhỏ với tôi: “Thằng cha này là ai vậy? Nhìn ghê gớm phết!”
Tôi lắc đầu, bảo không biết. Có lẽ vì tiếng chúng tôi làm phiền, vị đạo sĩ kia mới ngẩng lên nhìn rồi lại cúi xuống.
Tôi khẽ nhắc: “Đừng ồn, chúng ta cứ làm việc của mình, đừng quấy rầy người ta.”
Rồi tôi dẫn cả nhóm tiến thẳng vào bên trong.
Do ảnh hưởng của trận đốt lửa, mùi trong đường đường không dễ chịu, trong không khí vẫn còn phảng phất mùi tanh tưởi. Ở cuối linh đường, chỉ có một bàn thờ gỗ, trên đó đặt linh vị tổ tiên của các hộ trong thôn, cùng một bát hương.
Tôi quan sát sơ qua, không thấy gì khả nghi. Xung quanh nền đất cũng chỉ là những vết cháy xém. Theo lẽ thường mà nói, Lý Hắc Tử và cha Lý Kiến Dân vốn ít qua lại, khả năng có kẻ thù chung gần như không có.
Ấy vậy mà sau khi chết, thi thể hai người lại cùng bị cá dọn bể gặm nhấm. Điều khiến tôi khó hiểu là, bình thường cạnh quan tài đều có người trông coi, làm sao kẻ khác có cơ hội bỏ cá vào trong?
Sau một hồi lục lọi mà chẳng có manh mối gì, Quách Béo bắt đầu sốt ruột, càu nhàu: “Cửu ca, rốt cuộc anh đang làm cái gì vậy? Điều tra hung thủ chẳng phải là việc của công an à? Sao anh cứ nhúng tay vào làm gì?”

Chương 30: Người Quản Lễ
Tôi trừng mắt nhìn Quách Béo, nói: “Trước mặt người chết, đừng có nói năng bừa bãi!”
Quách Béo le lưỡi, không dám cãi, chỉ lẽo đẽo theo sau.
Hai viên công an trong đại sảnh cũng lượn quanh một hồi mà chẳng thấy manh mối gì. Người công an lớn tuổi hơn hỏi tôi: “Tiểu huynh đệ, có phát hiện gì không?”
Tôi lắc đầu: “Không, chuyện này quái lạ lắm!”
“Một đám đần độn, chỉ biết cúi gằm xuống đất tìm, còn trần nhà thì đã xem chưa?” Quách Béo lầm bầm, ánh mắt khinh khỉnh quét qua cả ba chúng tôi.
Một câu như sấm đánh ngang tai. Tôi và hai viên công an liếc nhìn nhau, thấy nó nói có lý. Từ nãy tới giờ, chúng tôi chỉ lo nhìn dưới đất mà chưa hề ngó lên phía trên.
Thế là chúng tôi kiếm một cái thang dài, dựng vào tường. Động tác này khiến thân quyến của Lý Hắc Tử chú ý, nhưng nghĩ chúng tôi đang làm việc chính sự, họ cũng chẳng nói gì, tiếp tục quỳ lạy ở phía dưới.
Tôi bảo hai công an và Quách Béo giữ thang, rồi từ từ leo lên. Đại sảnh cao hơn bảy thước, cái thang tuy dài nhưng khá chòng chành, lắc lư không vững. Tôi mất khá nhiều sức mới leo tới gần đỉnh.
Ngẩng đầu lên, tôi thấy trên xà nhà có một thứ gì đó trắng muốt, nhưng do khoảng cách xa nên nhìn không rõ.
“Béo, kiếm cho tao cây trúc dài chút!” tôi gọi xuống.
Một lát sau, nó lôi tới một cây trúc dài chừng hai ba mét. Tôi tụt xuống nửa thang, nhận lấy rồi lại leo lên. Có thêm cây trúc, cái thang càng bấp bênh hơn, rung rinh suýt ngã.
Tôi hít sâu vài hơi, cố gắng nghiêng người, nâng cây trúc chọc về phía vật trắng kia.
“Pạch pạch pạch…” tiếng vỡ vang lên như trứng bị bóp nát. Tôi ấn mạnh, một khối trắng to cỡ quả bóng đá rơi xuống, rơi ngay trước chân Quách Béo.
“Á! Cửu ca, anh tính mưu sát em à?” nó ngửa mặt chửi.
Tôi cười áy náy: “Giữ chắc cái thang cho tao, tao xuống xem nó là thứ gì.”
Tới đất, tôi dựng cây trúc vào tường rồi cúi xuống. Thứ kia phủ đầy trứng trắng li ti, nhìn đến rợn người, chính là loại trứng giống hệt như trên xác Lý Hắc Tử. Không, không phải giống, mà đúng chính xác là trứng trên xác ông ta.
Tôi khẽ ấn, “bụp” một tiếng, quả trứng vỡ nát. Tôi liếc sang hai công an, cả ba chúng tôi đều sững sờ: thứ này sao lại nằm trên xà nhà?
Chẳng lẽ có kẻ cố ý đặt chúng ở đó, để trứng rơi xuống quan tài?
Nghĩ tới đây, tôi cầm cây trúc đo thử khoảng cách. Đúng như dự đoán, vị trí đó thẳng với đầu quan tài. Theo phong tục, trước khi nhập thổ, nắp quan tài không đậy kín mà chừa phần đầu hở. Rõ ràng kẻ kia hiểu rõ tập tục này nên mới để trứng trên xà nhà. Trứng cá dọn bể lại rất nhẹ, chỉ cần một cơn gió thoảng là rơi xuống quan tài.
Như vậy, chúng mới có thể lọt vào quan tài một cách thần không hay quỷ không biết. Mà điều kiện để chúng sống chỉ cần chút nước, chính là dịch thể từ xác chết. Chẳng trách mấy hôm trước, tôi và ba anh em Lý Kiến Dân canh giữ mà không hề ngửi thấy mùi tử thi: e là dịch thể vừa rỉ ra đã bị cá dọn bể hút sạch.
Trên xác Lý Hắc Tử lại càng dễ, toàn thân đầy bọc sát khí, chỉ cần vỡ vài cái là chảy ra thứ dịch bẩn thỉu, vốn là “thức ăn ngon” của lũ này. Thế nên thi thể ông ta mới thối rữa nhanh, bị gặm nhấm kinh khủng như vậy.
Vấn đề là: Ai đã đặt trứng lên xà nhà?
Nhưng ngày mai đã phải lập “Huyết Bia”, việc cần chuẩn bị rất nhiều, tôi không còn thời gian để đào sâu. Tôi bèn bảo hai công an cho trứng vào túi nilon, đem đi từng nhà dò hỏi, may ra tìm được manh mối.
Xong việc, vị đạo sĩ kia cũng nhặt gần xong xương cốt của Lý Hắc Tử. Tôi mỉm cười cúi mình tỏ lễ. Ông ta hơi bất ngờ, nhưng vẫn gật đầu đáp lễ.
Tôi vòng qua đám tang quyến đang quỳ, khẽ kéo áo Lang Cao, thì thầm: “Trưởng sở Lang, mai lập Huyết Bia, giờ phải ra trấn mua bia mộ ngay, kẻo không kịp.”
Đáng ra tôi định nói với vợ Lý Hắc Tử, nhưng thấy bà ta quỳ ngay trước, sợ mạo phạm đạo sĩ nên đành nói với Lang Cao. Một là, hôm qua tôi thấy anh ta cũng dễ nói chuyện; hai là, ở đây tôi chỉ quen biết mỗi anh ấy.
Lang Cao gật đầu, đứng dậy dắt chúng tôi ra ngoài, vừa đi vừa nói: “Tiền bạc, tôi đã bàn với mợ. Bia mộ chừng hai nghìn tệ, khắc chữ mười tệ một chữ, khoảng bốn mươi chữ tức bốn trăm tệ. Thuê xe chở bia từ trấn về đại lộ của thôn hết tám chục. Từ đại lộ vào nghĩa địa, nhờ các cậu Bát Tiên khiêng, đường cũng xa, trả một trăm rưỡi cho mỗi người. Đào huyệt bia thêm ba trăm. Cậu là người chủ trì, tôi trả thêm một trăm. Tất cả cộng lại bốn nghìn tệ, còn tiền lì xì thì tính riêng. Các đồ cúng bái khác nhà tôi tự lo. Cậu thấy thế nào?”
Tôi gật đầu đồng ý. Với Lang Cao, tôi phải nhìn bằng con mắt khác, cách anh ta tính toán rành rẽ, rõ ràng, không sai một xu so với con số trong lòng tôi. Nếu không biết anh ta là sở trưởng, tôi còn tưởng anh ta chính là người quản lễ trong tang sự.
“Quản lễ” tức là người chuyên giúp gia chủ quản lý tiền bạc, đôi khi kiêm cả việc tiếp đãi khách khứa. Có nơi gọi là “tri tân”. Hỉ sự hay tang sự đều thường mời loại người này. Khi thì do gia chủ mời, khi thì do nhóm lo việc tang hỉ dẫn tới.
Thân phận quản lễ khá đặc biệt, quyền hạn cũng lớn, chẳng khác gì tổng kế toán của một công ty. Như lần tang sự trước, mọi việc tôi đều phải tự mình lo liệu, cực kỳ mệt mỏi. Nếu có một quản lễ bên cạnh, sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều, việc mời người, chi tiêu, tất cả họ đều sắp xếp đâu vào đấy.
Reactions: Vit.hung.han, sjlip, AiRoiCungKhac and 14 others
Chương 31: Trần Thiên Nam
Nếu sau này tôi thật sự muốn lăn lộn lâu dài trong nghề tang sự này, thì việc tìm một người quản lễ đi theo bên cạnh là điều không thể thiếu. Tôi đã ngấm ngầm để ý đến Lang Cao, nhưng xét cho cùng anh ta là sở trưởng, ép buộc người ta đi làm công việc tỉ mẩn này thì chẳng khác nào “thêu hoa lên trời”, nghĩ thì đẹp đấy, nhưng rõ ràng là không thực tế.
Đè nén suy nghĩ trong lòng, tôi đem chuyện cái xà nhà kể lại cho anh ta nghe, còn việc xử lý tiếp theo thì để anh ta giao cho hai cảnh sát kia là được. Dù sao hiện thực không phải tiểu thuyết, đã có trứng cá dọn bể (cá lau kiếng) làm chứng, thì việc tìm ra thủ phạm cũng không phải là chuyện khó, chẳng có gì bí ẩn thần thần quỷ quỷ cả.
Anh ta gật đầu, đưa cho tôi bốn nghìn tệ, còn viết ra những chữ cần khắc lên bia mộ, rồi chỉ nói ngắn gọn: “Làm cho tốt chuyện này, tôi nợ cậu một ân tình!”
Tôi nhận tiền, cùng Quách Béo rời khỏi thôn Lý, chuẩn bị lên thị trấn mua bia mộ. Trên đường tôi gọi điện cho lão Vương, nhờ ông tìm giúp sáu người bát tiên đến khiêng bia. Lão Vương nghe xong thì do dự khá lâu, rồi ậm ừ nói: “Tiểu Cửu à, bọn tôi đang khiêng quan tài ở Hoàng Trang, e là khó gom đủ sáu bát tiên cho cậu!”
“Hả? Bên các ông có việc rồi sao?” Tôi ngẩn người. Chuyện lão Vương nói, trước đó tôi không hề hay biết. Theo lý mà nói, tôi với lão vốn chung nhóm, có việc khiêng quan tài ông ấy không thể nào không báo cho tôi, trừ phi… ông ta muốn gạt tôi ra khỏi vòng tròn này.
Bên kia hình như lão Vương cũng nghe ra giọng tôi không ổn, vội vàng giải thích: “Tiểu Cửu, đừng nghĩ bậy. Hôm đó thấy người cậu toàn mụn nước, nên tôi không gọi. Trong vòng bát tiên này, cậu mãi là anh em của bọn tôi, mấy huynh đệ cũng rất phục cậu mà!”
Nghe vậy tôi mới thở phào một hơi. Từ khi học được chút bản lĩnh trong Lục Đinh Lục Giáp Táng Kinh thiên, quả thật thái độ tôi đối với lão Vương đã có thay đổi. Xem ra sau này cần để tâm nhiều hơn. Tôi liền hỏi: “Thế ông có thể gọi được mấy người cho tôi? Giờ bên tôi mới có hai người cả thảy.”
“Ở Hoàng Trang này chết một phú hộ, chủ nhà đòi mười sáu bát tiên khiêng quan. Bát tiên quanh vùng gần như đều dồn hết về đó rồi. Chắc còn khoảng năm người rảnh rỗi ở nhà. À phải rồi, mới có một bát tiên mới đến, tuổi ngang tầm cậu, không rõ có đi không. Cậu gọi thử xem, thanh niên dễ nói chuyện. Năm người kia thì để tôi gọi cho.”
“Anh ta tên gì? Số điện thoại bao nhiêu? Tôi gọi thử.” Tôi nghĩ bụng, thanh niên còn trẻ đã đi khiêng quan, chắc gia cảnh cũng nghèo lắm.
“Trần Thiên Nam, số là 1536060… Người này hơi quái một chút, tôi cũng chẳng nói rõ được. Cậu gặp rồi sẽ biết!” lão Vương giải thích, rồi lại hỏi thêm: “Nghe nói cậu với bọn đạo sĩ khai đường có xích mích gì đó?”
Tôi bảo Quách Béo ghi lại số điện thoại, trong lòng hơi nghi hoặc. Mới hôm qua thôi tôi mới va chạm với bọn đạo sĩ kia, sao lão Vương đã biết rồi? Tôi đáp: “Cũng coi như thế! Sao vậy?”
“Tiểu Cửu, nghề bát tiên của bọn ta vốn địa vị lửng lơ, cơm áo đều phải nhìn sắc mặt bọn đạo sĩ đó. Có chuyện gì thì nhịn họ một chút, chứ đừng đắc tội. Bằng không thì chẳng còn đất sống đâu!”
Ông ta khuyên giải rất nhiều, ý chính là bảo tôi nên nhường nhịn bọn đạo sĩ kia. Tôi chỉ “ừ” một tiếng, rồi báo địa chỉ, dặn năm bát tiên kia sáng sớm mai tập hợp ở thôn Lý, sau đó đi đào huyệt mộ.
Cúp máy xong, tôi gọi cho Trần Thiên Nam. Chuông reo khá lâu mới có người bắt máy.
“Alo! Ai đấy? Tôi đang bận!” giọng một gã nghe khá dâm đãng vang lên trong điện thoại. Ngay sau đó là tiếng thở dốc của một người phụ nữ: “Thiên ca, sờ em đi, nhanh lên, em còn muốn nữa…”
Mẹ kiếp, xui xẻo thật! Chẳng lẽ bấm nhầm số? Tôi vội bảo Quách Béo kiểm tra lại, không sai, đúng là số này. Tôi đang định mở miệng, thì cái giọng dâm đãng kia lại vang lên: “Mẹ nó, ai đấy? Nói đi chứ!”
“Lão Vương giới thiệu, khiêng bia mộ có đi không, nói một câu dứt khoát!” Nếu không phải đang thiếu người, tôi thật chẳng buồn nói thêm câu nào. Giữa ban ngày ban mặt mà làm trò vận động mạnh như vậy, đúng là không biết xấu hổ!
“Đi! Đi! Đi! Ở thôn nào, tôi đến ngay!” giọng hắn có vẻ gấp gáp.
“Sáng sớm mai, tập hợp ở thôn Lý!” Tôi ném lại câu đó rồi cúp máy. Trong lòng thầm rủa, lão Vương càng ngày càng quá đáng, loại sắc lang như vậy mà cũng lôi vào nghề bát tiên. Đột nhiên tôi lại thấy Quách Béo còn thuần khiết hơn hắn ta nhiều.
“Cửu ca… anh… anh gọi em từ huyện đến thôn Ấu Tử, là… là để khiêng bia mộ sao?” Quách Béo lùi lại mấy bước, giữ khoảng cách với tôi, giọng lộ rõ vẻ sợ hãi.
“Sao? Coi thường phu quan à?” Tôi lườm hắn, hỏi.
“Cửu ca, em sợ ma, xin anh tha cho em!” Quách Béo gần như muốn khóc, trên mặt biểu cảm đủ cả chua ngọt đắng cay.
“Bớt lảm nhảm đi! Giờ vừa đúng tám người, mày mà dám rút lui, tao gọi điện cho cha mày, kể chuyện mày sờ mông hoa khôi trường.” Tôi đe dọa. Giờ chỉ có cách kéo nó xuống nước, thân hình thịt mỡ của nó mà không đi khiêng quan thì quá phí.
“Cửu ca, chơi anh em kiểu gì thế! Lúc đầu anh bảo công việc có gái đẹp, còn có khi gặp minh tinh cơ mà. Khiêng quan tài thì gặp đâu ra mấy người đó, toàn xác chết thôi! Anh lừa tình anh em trắng trợn thế à!” Quách Béo mặt mũi đầy ấm ức, muốn bỏ mà không dám, bởi nếu để bố hắn biết chuyện ở trường thì một trận đòn chắc chắn không tránh khỏi.
“Tao lừa chỗ nào? Gái đẹp chết rồi không cần người khiêng quan chắc? Minh tinh chết rồi không cần người khiêng quan chắc?” Tôi cố ý nâng giọng. Trước kia ở trường, tôi thường dằn mặt nó thế này, lần nào cũng có hiệu quả.
Quả nhiên lần này cũng không ngoại lệ. Nghe thấy tôi chuẩn bị nổi giận, Quách Béo lập tức nhũn nhặn: “Cần, cần chứ! Em nghe anh là được chứ gì. Chẳng phải chỉ khiêng cái bia mộ thôi sao, có gì mà sợ!”
Tôi mỉm cười hài lòng, vỗ vai hắn: “Dù ngành này có cực chút, nhưng chắc chắn có tương lai. Nghĩ xem, việc gì cũng có thể thất nghiệp, chỉ nghề của ta là không. Đời nào triều nào mà chẳng có người chết? Mà đã có người chết thì phải cần người khiêng quan, đúng không?”
Quách Béo gật gù: “Nghe cũng có lý thật!”
Tôi lại an ủi thêm mấy câu, còn hứa sẽ tìm cho hắn một cô gái tốt ở quê. Cứ thế vừa dỗ vừa doạ, cuối cùng cũng lôi được nó nhập vào hàng ngũ bát tiên. Nhiều năm sau, tôi hỏi nó có hối hận không, nó bảo: “Phải cảm ơn Cửu ca đã dẫn em vào nghề, nói gì đến hối hận.”
Sau đó, chúng tôi thuê một chiếc xe máy chạy thẳng lên thị trấn. Hôm nay nhất định phải mua được bia mộ, khắc chữ trong đêm, thời gian gấp gáp, không thể chậm trễ.
Đến nơi thì đã gần hai giờ chiều. Quách Béo bảo phải ra ngân hàng xem cha có gửi tiền xuống chưa. Tôi cũng không vạch trần, chỉ hẹn nó tối gặp lại tại một nhà trọ trong trấn.

Chương 32: Bia máu Linh Lung
Tôi đi dạo một vòng trong trấn, lại hỏi thăm mấy người mới tìm được một cửa hàng bán bia mộ. Cửa hàng chẳng lớn lắm, tầm hơn ba chục mét vuông, bên trong toàn là những tấm bia phẳng chưa khắc chữ. Ông chủ khoảng hơn sáu mươi, tóc bạc mà mặt mày hồng hào, tướng mạo trông trẻ hơn tuổi thật.
Thấy tôi bước vào, ông hơi sững lại, rồi hỏi: “Thanh niên, cậu cần gì?”
Tôi đi thẳng vào vấn đề: “Cao một mét bảy, rộng năm mươi lăm, dày ba phân. Chất liệu đá hoa cương. Kiểu song long chầu ngọc, khung bia nền đen, chữ khắc màu đỏ, thể chữ Ngụy, bốn mươi chữ. Tổng cộng bao nhiêu tiền?”
(Ở nông thôn, bia thường là 1m5 × 50cm. Cái tôi đặt coi như to hơn hẳn. Bia chưa khắc chữ gọi là bia phẳng, coi như bán thành phẩm).
Ông chủ hỏi: “Bao giờ cần?”
“Ngày mai!” tôi vừa sờ thử mấy tấm bia trong tiệm, thấy rất trơn, có vết gia công nhân tạo. Chủ nhà chỉ đưa chừng ấy tiền, cũng chỉ mua được loại hàng như vậy. “Kịp không?”
“Nếu làm thâu đêm thì chắc kịp. Nhưng giá e hơi cao đấy.” Ông liếc tôi một cái, đáp: “Ước chừng khoảng hai nghìn bốn trăm tệ.”
Thật ra giá còn có thể mặc cả, nhưng nghề của bọn tôi bao nhiêu tiêu bấy nhiêu, không được ăn chặn tiền cúng ma. Nguyên nhân thì đơn giản: tiền dành cho quỷ thần không được bỏ túi, nếu tham lam thì sẽ mất đi từ chỗ khác, kiểu như bệnh tật tai ương.
Mấy cửa tiệm bán giấy vàng mã cũng thế, cân bao giờ cũng đủ, thậm chí thường cho thêm. Đều là một đạo lý cả.
“Được, hai nghìn tư thì hai nghìn tư!” tôi gật đầu, rút ra một xấp tiền, đếm đủ hai mươi tư tờ đưa ông. Rồi nói: “Chủ nhà này chết thảm, lập bia máu, ông hiểu ý tôi chứ?”
Ông cười: “Haha, chú em à, tôi làm bia hơn ba mươi năm, mấy chuyện này chẳng lẽ còn không rõ. Yên tâm, tôi chọn cho cậu một tấm bia tốt, đảm bảo nhập thổ bình an.”
Ông cầm tiền, ngoắc tôi đi theo vào một gian phòng khác.
Phòng chỉ vài mét vuông, ánh sáng mờ tối, mấy tấm bia dựng dựa vào tường. Tôi sờ thử, chất lượng quả nhiên tốt hơn hẳn đám ngoài kia.
Ông chủ thở dài: “Hồi bằng tuổi cậu, tôi khinh nhất là cái nghề ăn tiền người chết. Không ngờ cuối cùng vẫn làm thợ bia. Nhưng hôm nay thấy cậu sảng khoái, tôi bán cho cậu một tấm hàng riêng.”
Ông dẫn tôi đến trước một tấm bia: “Cái này vốn tôi định giữ cho mình, đã nhiều năm rồi. Cậu xem sao?”
Tôi liếc qua, tấm bia hơi xanh, hai bên khắc hình chân long, trên đỉnh là một quả cầu đá, chữ “奠” (điện) khắc theo thể Ngụy. Nhìn vào có cảm giác khác lạ.
Tôi đưa tay sờ, mặt bia vừa trơn vừa nhám, trơn là bề mặt mượt, nhám là các hạt đá li ti tạo cảm giác chân thực. Rõ ràng là đá tốt, không như loại ngoài kia đã được đánh bóng quá kỹ.
“Ông chủ, bia này chắc không chỉ hai nghìn tệ chứ?” tôi nghi ngờ.
Ông ta cười mà không đáp thẳng: “Giờ làm nghề này toàn người già, mấy ai trẻ như cậu. Mà cậu tuổi còn nhỏ đã đến mua bia, tôi đoán không sai thì cậu là bát tiên phải không?”
Tôi gật: “Ông nhìn ra bằng cách nào?”
“Ngày trước tôi cũng từng khiêng quan tài, hiểu nghề chút ít. Nhìn bước chân cậu nặng, vai trái hơi thấp, chứng tỏ từng gánh đồ nặng. Người lại phảng phất mùi giấy vàng. Giờ còn vào tiệm bia của tôi… không phải bát tiên thì là gì?”
Nghe vậy, sắc mặt tôi chợt đổi, ông già này không đơn giản. Tôi liền nói lảng: “Ông chủ, thôi cho tôi mua loại ngoài kia. Trong này giá cao quá, chủ nhà không đưa đủ tiền.”
“Chủ nhà đưa cậu bao nhiêu?” ông ta cười.
“Tổng cộng bốn nghìn. Trong đó tiền bia với khắc chữ là hai nghìn tư.” tôi thành thật, ý bảo tôi chỉ có ngần ấy, đừng cố bán thêm.
Ông ta cười lớn: “Tiểu tử thú vị. Đã cho cậu xem tấm này thì không hề tăng giá. Tôi, Tưởng Thiên Sinh, không thiếu chút tiền ấy!”
Rồi ông ta rút điện thoại gọi: “Tiểu Lưu, gọi mười mấy người tới khiêng bia!”
Nghe xong, tôi sững người, một tấm bia mà phải hơn chục người khiêng? Nực cười! Theo mắt tôi ước chừng nặng nhất cũng chỉ 600 cân.
“Tại sao cần nhiều người vậy?” tôi hỏi.
Ông ta bật cười, đưa tôi một điếu thuốc: “Hồi tôi mới tìm được tấm này, cũng ngạc nhiên như cậu. Ngày mai cậu khiêng sẽ rõ.”
Tôi càng khó hiểu. Người xa lạ, tự dưng cho tôi tấm bia tốt thế này, không mưu đồ thì ai tin? Tôi nắm điếu thuốc trong tay mà chẳng dám hút, sợ có tẩm thuốc mê. Trong người tôi đang có bốn nghìn tệ, lỡ ông già này muốn cướp thì sao.
“Ông rốt cuộc có ý gì? Nói thẳng ra đi. Tôi tuy còn trẻ, nhưng cũng biết không ai cho không ai cái gì.”
Ông ta bật cười ha hả: “Đừng nghĩ nhiều. Tôi không cho cậu không. Chỉ có một yêu cầu nhỏ. Nếu cậu làm được, tôi còn cho thêm ba nghìn tệ. Thế nào?”
“Tôi nghe đây. Nếu làm được thì làm. Còn ba nghìn tệ thì ông giữ mà dưỡng già.” nói chuyện với ông ta mà tôi thấy mệt, chẳng hiểu ông ta muốn gì.
Ông ta nhìn tôi, rồi chậm rãi nói: “Cậu bảo người chết lần này thảm, lập bia máu. Tấm này có tên gọi học thuật là Linh Lung Huyết Bia. Nó vốn liên quan đến bia máu. Chỉ cần dùng bia này nhập thổ, oán khí, uất khí, sát khí của người chết sẽ tiêu tan ngay, hiệu quả hơn cả đạo sĩ hay hòa thượng tụng kinh bảy ngày bảy đêm.”
Nói xong, ông ta nhìn tôi từ đầu đến chân, cau mày rồi lại lắc đầu: “Yêu cầu của tôi rất đơn giản: Ngày mai chỉ được 8 người bát tiên khiêng bia, đặt xuống mồ bình an. Không hơn, không kém. Nếu nhiều hơn, xảy ra chuyện gì tôi không chịu trách nhiệm.”
Tôi nghe mà rùng mình. Đưa tay thử nhấc bia, nặng khủng khiếp, không động nổi. Cái này rõ ràng phải hơn chục người mới khiêng nổi, vậy mà bắt chúng tôi chỉ có 8 người?
Chẳng phải nói nhảm sao?

Chương 33: Hai tên cực phẩm
“Thế nào? Nhóc bát tiên, dám đồng ý yêu cầu của tôi không?” Ông chủ cười gian trá: “Nếu thấy ít tiền quá, tôi thêm số 0 phía sau, đưa thêm ba vạn. Cả đời này tôi thiếu gì cũng được, chỉ không thiếu tiền.”
Mẹ nó, câu sau của lão đâm thẳng vào tim tôi. Tôi cái gì cũng thiếu, duy chỉ có tiền là thiếu nhất. Trong lòng hơi động, nhưng nghĩ tới trọng lượng bia mộ kia, tôi vẫn lắc đầu: “Không nhấc nổi đâu!”
“Không thử sao biết? Nhỡ đâu nhấc được thì sao?” Ông chủ vừa nói vừa rút ra ba xấp tiền mới tinh, phẩy phẩy trước mặt tôi: “Ba vạn, bằng thu nhập cả năm của một gia đình bình thường. Cậu chỉ cần cùng bảy người nữa khiêng tấm bia này hạ huyệt, số tiền này chính là của cậu.”
Nhìn khuôn mặt hiền từ của Mao gia gia in trên những tờ bạc, tôi thật sự muốn giật lấy ngay. Sống 18 năm rồi, chưa từng thấy nhiều tiền như vậy. Cảm giác ấy, chỉ có thể tả bằng một từ: hiếm thấy như cái loa phóng thanh ở đầu làng!
“Không nhấc nổi. Tôi vẫn lấy bia mộ thường ngoài kia là được rồi.” Ý nghĩ tham lam chỉ để trong đầu, chứ cái gì không thuộc về mình thì có cưỡng cầu cũng vô ích.
“Tôi nói này nhóc, sao mà không có chí khí vậy?” Ông chủ thở dài: “Mới một tấm bia mộ nặng một chút mà đã làm cậu sợ thế, sau này khiêng quan tài thì làm sao?”
Tôi liếc nhìn lão, thấy câu này cũng có lý, bèn hỏi: “Thế bia mộ Linh Lung Huyết kia nặng bao nhiêu?”
“Người có duyên tới khiêng, nó chỉ nặng hơn trăm cân; còn kẻ vô duyên, nó nặng tới một nghìn tám trăm cân.” Ông chủ khẽ vuốt bia mộ Linh Lung Huyết, trong mắt lộ vẻ bi thương, khiến tôi rất kinh ngạc.
“Được, sáng mai tôi tới lấy bia!” Không biết bị điên thế nào, nhìn ánh mắt ấy, tôi liền mơ hồ đồng ý. Rồi đưa ngày sinh bát tự của Lý Hắc Tử cùng tên con cháu của ông ấy cho ông chủ.
“Khá lắm! Chỉ cần cậu chôn được nó xuống huyệt, cuộc đời cậu sẽ thay đổi.” Ông chủ khen một câu, rồi phẩy tay ý bảo khách nên đi.
Ra khỏi cửa hàng bia mộ, không hiểu sao toàn thân tôi đẫm mồ hôi. Sợ mồ hôi dính vào mụn độc trên ngực, tôi vội vén áo kiểm tra. Thở phào nhẹ nhõm, mụn độc đã nhỏ đi nhiều, dịch đen bên trong cũng nhạt bớt.
Sau đó, tôi gọi điện cho lão Vương, hỏi có biết ông chủ tiệm bia không. Ông ta bên kia im lặng một lúc rồi nói: “Người đó là thần tiên sống, ngàn vạn lần đừng đắc tội.”
Tôi nói đã biết, rồi cúp máy, không dám nhắc chuyện khiêng bia Linh Lung Huyết, sợ ông lo. Tôi lang thang quanh trấn, mua ít ngải cứu về định tối ngâm tắm.
Mua xong ngải cứu, tôi đến nhà trọ đã hẹn với Quách Béo. Nhà trọ ấy dễ tìm, vì cả trấn chỉ có một cái. Chưa đến mười lăm phút đã tới nơi, còn chưa bước vào cửa đã nghe tiếng ồn ào bên trong, chính là giọng Quách Béo.
“Mẹ kiếp, đồ khỉ gầy, tao đặt phòng trước, sao mày lại cướp của tao?”
“Đồ lợn béo chết tiệt, tao có nhiều tiền, đương nhiên phòng là của tao.”
“Cỏn con, tao ngồi một phát là ép chết mày.”
“Lại đây, lại đây, tao đứng yên cho mày ngồi thử xem.”
“Được, đứng yên đấy, tao cho mày biết thế nào là nghìn cân đè xuống.”
Tôi bước vào, thấy Quách Béo xắn ống quần, chuẩn bị lao vào thằng thanh niên đối diện.
Người này gầy tới mức da bọc xương, tóc nhuộm vàng óng nổi bật, tai trái đeo khuyên kim cương sáng lấp lánh, khuôn mặt khá thanh tú, trên người lại mặc bộ đồ “ăn mày thời trang” đủ màu.
Khỉ thật, đeo kim cương lủng lẳng ở tai, đúng là nhân tài quái gở. Tôi vội gọi Quách Béo lại, hỏi: “Chuyện gì thế?”
“Cửu ca, anh đến rồi à. Thằng này cướp phòng của em.” Quách Béo vừa nói vừa chỉ thanh niên kia.
“Cụ thể thế nào?” Tôi hỏi.
Nó đáp: “Em rút tiền ở ngân hàng xong liền gọi điện đặt phòng ở đây. Sau đó ra quán net tán gẫu QQ, tới nơi thì thằng khỉ gầy này dùng giá gấp đôi cướp phòng của em.”
“Đồ lợn mập, mày chửi ai là khỉ gầy?” tay thanh niên lao tới định ra tay.
Quách Béo nghe xong gào: “Lại đây, xem tao nện mày một trận ‘vạn tử thiên hồng’ không?”
“Thôi, đủ rồi! Để ông chủ giải thích xem.” Tôi kéo cả hai ra, bước đến quầy lễ tân hỏi: “Ông chủ, làm ăn phải giữ chữ tín. Đều là người trong trấn, ông làm thế thì ai còn dám đến đây nữa? Lỡ tôi thuê phòng rồi, nửa đêm có người trả gấp đôi, ông cũng đuổi chúng tôi đi sao?”
Tay thanh niên trừng mắt nhìn tôi: “Anh nói gì vậy? Ông chủ mở nhà trọ để làm gì? Không phải để kiếm tiền sao? Anh nói vậy chẳng khác nào cắt đứt đường sống của ông ấy. Trên đời này có ai làm người như anh không?”
Nói xong hắn quay sang ông chủ: “Đúng không ông chủ?”
“Đúng, đúng, đúng!” Ông chủ gật liên tục.
“Khỉ thật, ông nói cái gì? Muốn ăn đòn hả, tin tôi đập nát cái nhà trọ này không?” Quách Béo tức giận giơ nắm đấm.
“Các vị, nghe tôi nói một câu thôi, chỉ một câu!” Ông chủ vội vàng lùi lại tránh cú đấm.
“Nói!”
“Nói!”
Quách Béo và tay thanh niên đồng thanh hét. Tôi đứng cạnh ngẩn ra: hai tên cực phẩm này, kiếp trước chắc chắn là vợ chồng ly dị, đời này đầu thai lại để trả thù nhau.
“Nhà trọ tôi còn nhiều phòng, các vị đâu cần tranh giành.” Ông chủ mặt mếu máo.
“Khỉ thật, sao không nói sớm?”
“Khỉ thật, sao không nói sớm?”
Hai giọng lại đồng thanh, ăn ý đến mức kinh người.
“Các vị vừa tới đã chửi ầm lên, tôi có cơ hội mở miệng đâu.” Ông chủ sắp khóc.
Hóa ra chỉ là hiểu lầm. Tôi vội xin lỗi, lấy chứng minh thư thuê phòng rẻ nhất.
Ông chủ gật đầu, ghi tên và số chứng minh của tôi vào sổ. Tôi thoáng thấy cái tên ngay trên dòng của mình, bất giác giật mình, con mẹ nó, sao lại trùng hợp thế? Chính là tên kia!
Tôi ngẩng lên nhìn thanh niên gầy, trong mắt đầy kinh ngạc. Nhìn mãi vẫn không giống kẻ thiếu tiền, riêng cái khuyên kim cương ở tai, một gia đình bình thường cả đời cũng chẳng mua nổi.
“Này nhóc, nhìn cái gì? Tôi là trai thẳng, không có hứng thú với anh đâu.” tên kia trừng mắt.
“Tao thấy mày thẳng chỗ nào? Rõ ràng là cong.” Quách Béo lầm bầm.
“Mẹ kiếp, lợn mập, mày nói cái gì?” tên kia lại nổi nóng.
Thấy hai tên sắp đánh nhau lần nữa, tôi vội kéo ra, rồi nhìn thẳng vào thanh niên ấy, hỏi: “Cậu là Trần Thiên Nam? Đi Lý thôn khiêng bia mộ đúng không?”

Chương 34: Nét chữ
Thanh niên kia buông cổ áo của Quách Béo, kinh ngạc nhìn tôi rồi hỏi: “Anh là ai? Sao lại biết tôi phải đi Lý thôn khiêng bia mộ?”
Tôi liếc nhìn cậu ta từ trên xuống dưới. Gầy nhẳng thế này, thật sự có thể khiêng nổi bia mộ sao? Không sợ bị bia đè chết à?
Thấy tôi không đáp, cậu ta lại gặng hỏi: “Này, anh kia, sao anh biết tôi đi Lý thôn khiêng bia mộ?”
Tôi ngẩn ra một lúc mới lên tiếng: “Tôi là Trần Bát Tiên, người sáng nay gọi điện cho cậu. Đây là Quách Béo.”
“A, thì ra nước lớn tràn vào miếu Long Vương, người nhà mà chẳng nhận ra nhau. Nào, nào, hút điếu thuốc, toàn hàng cực phẩm: Phù Dung Vương.”
Sắc mặt Trần Thiên Nam thay đổi nhanh như lật sách, vội móc ra một bao thuốc xịn, đưa cho tôi một điếu, do dự giây lát rồi cũng đưa cho Quách Béo một điếu.
“Ai thèm điếu thuốc rách rưới này!” Quách Béo cầm lấy, ném xuống đất, giẫm vài cái để xả tức trong lòng.
“Thôi nào Quách Béo, đừng nhỏ nhen nữa. Sau này đều là người một nhà cả.” Tôi vỗ vai nó, rồi cười xin lỗi với Trần Thiên Nam: “Quách Béo tính nóng đến nhanh, đi cũng nhanh, chứ thật ra rất dễ sống chung.”
Sau đó, ba chúng tôi trò chuyện thêm một lúc rồi kéo nhau về phòng tôi thuê. Nhưng vì cảnh tượng lúc nãy, Quách Béo với Trần Thiên Nam chẳng ưa gì nhau, liên tục đấu khẩu, kẹp tôi ở giữa mà tôi tức đến chết. Bất đắc dĩ, tôi đành để mặc hai người cãi vã, còn mình thì vào nhà vệ sinh đun ngải cứu tắm gội.
Tắm xong quay ra, không biết hai người kia đạt thỏa thuận gì, lại khoác vai bá cổ, Quách Béo gọi Trần Thiên Nam một tiếng “Thiên ca” rồi “Thiên ca” tiếp, cứ như anh em thất lạc nhiều năm mới đoàn tụ.
Tôi hỏi Quách Béo sao đổi thái độ nhanh thế, nó trả lời suýt nữa làm tôi cười sặc: “Thiên ca cho em mấy phim ‘bộ binh’ của Yui Hatano, đúng là người tốt! Toàn xem ‘kỵ binh’ mãi, thật là ức chế.”
Ban đầu tôi chẳng hiểu “kỵ binh” với “bộ binh” nghĩa là gì, còn phải bảo Quách Béo giải thích. Nó nói: kỵ binh có ngựa, bộ binh không ngựa. Tôi thật sự muốn tát nó, xem phim con heo đến mức ấy cũng là một loại “thái độ sống” rồi.
Một đứa háo sắc, một đứa dâm đãng, chẳng mấy chốc đã thành bạn thân, bỏ tôi ngồi một bên. Hai người hàn huyên đến nửa đêm mới chịu nghỉ. Chỉ nghe thấy Trần Thiên Nam nói: “Tiểu Béo, hầu hạ anh cho tốt, sau này anh tìm cho chú một em gái bồi cùng mấy ngày.”
“Cảm ơn Thiên ca, Tiểu Béo nhất định hầu hạ anh tận tình!”
Quách Béo mặt mày nịnh bợ, nhìn hèn hết chỗ nói.
Nói xong, Trần Thiên Nam cười với tôi, để lại mấy bao thuốc ngon coi như quà gặp mặt rồi rời đi.
Đêm đó yên ổn không chuyện gì.
Sáng sớm hôm sau, tôi kéo Quách Béo dậy, gọi luôn cả Trần Thiên Nam ở phòng bên, ba người cùng thẳng tiến tới cửa hàng bia mộ.
Khi đến nơi, mặt trời vừa ló rạng, ánh sáng đỏ hồng rải khắp thân thể, tựa như khoác thêm tấm áo mềm mại, thật dễ chịu. Quả là một ngày đẹp trời, mong rằng chuyện bia mộ hôm nay cũng thuận lợi như thời tiết.
Chúng tôi đến khá sớm, hai bên đường các cửa tiệm đều còn đóng chặt, chỉ riêng cửa hàng bia mộ này mở toang. Tựa như ông chủ đã biết trước chúng tôi sẽ tới, bày sẵn một bàn trà, bốn chiếc ghế nhỏ, bốn tách ngọc đầy trà nóng, hơi nước còn nghi ngút.
“Các vị đến rồi, mời ngồi!”
Ông chủ làm động tác mời, ý bảo chúng tôi an tọa.
Quách Béo và Trần Thiên Nam thản nhiên ngồi xuống, cầm chén trà lên uống cạn, khen: “Trà ngon!”
Tôi thì đứng ngẩn tại chỗ, không ngồi, mà bước chậm về phía sau lưng lão chủ, nơi đặt khối Linh Lung Huyết Bia.
Những chữ khắc trên đó hút chặt ánh mắt tôi. Nét chữ xanh biếc như vật sống, nhảy múa trên bia, mạnh mẽ hùng hồn, khí thế ngút trời, toát ra vẻ ngạo nghễ. Tôi thậm chí có ảo giác, dường như chữ viết có linh khí, nhìn vào khiến lòng tôi thoải mái, tựa hồ mọi phiền muộn đều tan biến.
“Tiểu huynh đệ, nét chữ này lọt vào mắt cậu thế nào? Có xứng với bốn trăm đồng của cậu không?” ông chủ nhấp một ngụm trà, cười ha hả.
Tôi kinh ngạc đến không nói nên lời. Trước kia tôi cũng từng học qua thư pháp, nên biết khắc chữ lên bia mộ còn khó hơn viết trên giấy. Chỉ có một cơ hội, sai một nét là bỏ cả tấm bia, lại mang ý xấu “đoạn tử tuyệt tôn”.
Quy trình thường là viết trước bằng bút lông trên mặt bia, rồi thợ mới cẩn thận đục theo nét chữ. Công việc này cực tinh vi, mạnh tay một chút thì để lại vết xấu bên cạnh, nhẹ tay thì độ sâu không đều, phá hỏng thẩm mỹ cả tấm bia.
Mà tấm Linh Lung Huyết Bia này, bất kể chữ viết hay kỹ thuật đục đều đạt đến mức thượng thừa, không chê vào đâu được, đúng là tuyệt tác quỷ phủ thần công. Theo hiểu biết của tôi, bỏ qua giá trị của bản thân tấm bia, chỉ riêng chữ và đục thôi cũng đã trị giá bảy con số.
“Thỏa mãn, quá thỏa mãn rồi!” Tôi xúc động nói: “Ngài đúng là thần nhân! Chỉ là… bia mộ này giá trị sớm đã vượt xa số tiền công tôi trả, cái này… cái này…?”
“Hà hà, giá trị không cần để tâm. Hôm qua tôi nói rồi, chỉ cần các cậu đưa bia này xuống mộ bình an, tôi ngược lại còn thưởng cho cậu ba vạn. Đừng hỏi nguyên nhân, chỉ vì tôi vừa mắt cậu. Sau này có thể sẽ nhờ cậu vài việc.”
Ông chủ đứng dậy, vuốt ve Linh Lung Huyết Bi, khẽ lẩm bẩm: “Tấm bia này coi như quà gặp mặt tôi tặng cậu.”
Nghe vậy tôi choáng váng. Người ta tặng bút, tặng hoa, tặng tiền, chứ chưa từng nghe ai tặng bia mộ cả. Thế này gọi là cái gì?
Nhưng nghĩ ông ta là cao nhân, tôi đành nuốt ý nghĩ trong lòng xuống, cúi người hành lễ: “Về sau nếu ngài cần đến, tiểu tử nhất định nghĩa bất dung từ.”
“Tiểu tử, nhớ kỹ lời hôm nay, đến lúc đó đừng hối hận!” ông chủ cười, ý bảo tôi uống trà.
Tôi thoáng có cảm giác bị gài bẫy. Nghĩ kỹ lại, một kẻ nghèo như tôi thì có gì đáng để ông ta lừa? Thế là không nghĩ nhiều, cầm chén trà nhấp một ngụm. Liếc sang Quách Béo và Trần Thiên Nam, không hiểu sao họ uống ngon lành, còn tôi thì thấy chát đắng tận cổ, có gì ngon đâu?
“Trà thế nào?” ông chủ hỏi.
“Chẳng ra gì, đắng lắm!” Tôi nói thật. Uống trà là chuyện của nhà giàu, tôi còn ăn chẳng no, lấy đâu rảnh mà thưởng trà. Với tôi, trà chỉ để giải khát thôi, chứ không phải loại này.
“Tốt! Cậu là người thật thà.” Ông chủ gật đầu hài lòng, không nói thêm với tôi nữa mà quay sang ngắm nghía Quách Béo và Trần Thiên Nam. Một lúc sau mới bảo: “Hai vị tiểu huynh đệ, vạn sự đều có nhân có quả, hãy giữ vững bản tính của mình. Biết đâu một ngày nào đó, các cậu sẽ nhận được điều bất ngờ.”
Nói xong, ông ta lại nhìn tôi, khẽ lẩm bẩm: “Bát Tiên tụ, tụ bát phương. Dực long đằng không. Phong tục quả thật nên trở về với vòng tay tổ tiên rồi…”

Chương 35: Tranh ghế (Phần 1)
Nghe câu nói kia, tôi hơi nghi hoặc: “Bát Tiên tụ, tụ bát phương, dực long đằng không” nghĩa là gì? Tôi liền nhìn về phía ông chủ, phát hiện nơi khóe mắt ông ta ẩn chứa một tia bi thương, nhưng nơi khóe miệng lại mang vài phần tiếu ý.
Tôi hỏi ông câu đó có nghĩa ra sao, ông chỉ lắc đầu: "Không thể nói, không thể nói."
Chúng tôi lại tán gẫu thêm mấy câu, sau đó tôi thuê một chiếc xe tải ở thị trấn. Ông chủ lại gọi đến hơn chục công nhân khiêng tấm bia huyết tinh lên xe. Trong suốt quá trình, tôi muốn thử xem trọng lượng của bia mộ nhưng đều bị ông cản lại, điều này càng khiến ba chúng tôi nghi ngờ hơn.
Lúc sắp ra cửa, ông chủ gọi chúng tôi lại, nói: "Ba người trẻ tuổi các cậu, hãy giữ vững bản tâm, đừng để đứt đoạn sự truyền thừa của nghề. Dù là công việc thấp hèn hay cao quý, cũng phải có người làm. Ai ai cũng muốn ngồi kiệu, vậy ai sẽ là người khiêng?"
Tôi không nói gì, chỉ khom lưng thật sâu trước ông. Tôi biết, những người kiếm cơm từ người chết vốn không cần nói nhiều, hành động thay lời là đủ. Đối với thân phận của ông chủ này, tôi vẫn chưa đoán ra được, chỉ cảm thấy ông ta vô cùng thần bí.
Thấy tôi làm vậy, Quách Béo và Lưu Thiên Nam cũng khom lưng theo. Quách Béo cười nói: "Ông chủ, sau này tôi ăn cơm theo Cửu ca, anh ấy làm gì thì tôi làm nấy."
"Ha ha, tuổi trẻ thật tốt!" Ông chủ cười với Quách Béo, rồi ra hiệu cho hơn chục công nhân theo chúng tôi lên xe. Ông còn dặn: "Trước khi hạ đất, ba người các cậu tuyệt đối không được chạm vào bia mộ, sẽ hỏng phong thủy. Khiêng bia mộ, người mua bia không cần đeo găng, còn lại bát tiên đều phải mang găng."
Chúng tôi còn muốn hỏi nguyên nhân, nào ngờ ông đã phất tay rồi quay vào trong tiệm. Bất đắc dĩ, cả bọn chỉ đành lên xe. Quách Béo với Lưu Thiên Nam ngồi ghế phụ trong cabin, còn tôi ngồi cùng đám công nhân ở thùng sau.
Xe chuẩn bị khởi động thì hai tên kia đã nhảy xuống, vừa chửi vừa than: "Mẹ nó, nóng quá chịu không nổi, ngồi thùng sau hóng gió cho mát!"
Tôi “ừ” một tiếng, kéo cả hai lên thùng sau, sợ bọn họ nghịch ngợm đụng vào bia huyết tinh nên sắp xếp cho họ ngồi tận phía cuối.
Xe từ từ lăn bánh hướng về Lý thôn. Suốt đường đi rất thuận lợi, không va chạm chút nào. Đến gần Lý thôn, cũng đã khoảng 11 giờ trưa.
Hơn chục công nhân hạ bia xuống, đặt ở bên đường cái. Tôi vốn định hỏi họ về thân phận của ông chủ, nhưng thấy ai nấy mặt lạnh, như viết chữ “người lạ chớ lại gần” trên mặt, nên đành thôi. Tôi rút 100 tệ mua nước cho họ uống.
Không ngờ họ chẳng thèm nhìn, còn trừng mắt cảnh cáo: "Nhóc, tốt nhất đừng làm ông chủ thất vọng. Nếu không, anh em bọn này tuyệt đối không tha cho cậu."
Người nói mặc áo ba lỗ xanh lam, cơ bắp cuồn cuộn, qua lớp vải còn lờ mờ thấy tám múi bụng. Với dáng người ấy, vừa nhìn đã biết không phải dân thường, trông giống hệt vệ sĩ trong TV.
Tôi cười gượng, rút lại tiền, nói: "Tôi sẽ cố không để ông chủ các anh thất vọng."
"Hy vọng thế." Hắn hất tay ra hiệu, rồi dẫn đám người lên xe quay về thị trấn.
"Thằng khốn đó kiêu căng thật, có nên bỏ chút tiền xử nó không?" Lưu Thiên Nam lẩm bẩm bên tai tôi.
"Với cái dáng gầy nhẳng của cậu, người ta đánh bảy tám người như cậu cũng chẳng hề hấn, bỏ đi thì hơn!" Tôi vừa nói vừa kéo Quách Béo đi vào thôn, định ăn no rồi mới khiêng bia lên núi.
Lưu Thiên Nam lại làu bàu sau lưng: "Mẹ kiếp, có ngày ông rảnh sẽ lấy mười vạn đồng xu đập chết thằng khốn ấy."
Mắng xong, hắn vẫn lèm bèm đuổi theo. Có tiền đúng là thích làm gì thì làm. Tôi ngoái nhìn hắn, trong bụng thầm nghĩ: tên này giàu thế mà cũng đi khiêng bia mộ, đúng là khó đoán nổi suy nghĩ nhà giàu. Nhưng chỉ hợp tác một lần, tôi cũng chẳng hỏi thêm.
Khi chúng tôi đi vào Lý thôn, vừa gặp đội đưa tang trở về. Người dẫn đầu là Lang Cao, đang trò chuyện với một đạo sĩ.
Thấy chúng tôi, Lang Cao khẽ gật đầu chào, rồi tiếp tục thì thầm với đạo sĩ kia, sau đó rút một phong bao đỏ đưa.
Đạo sĩ khoát tay từ chối, thoáng liếc về phía chúng tôi, khóe môi nở nụ cười hiền hòa, bước tới, nói: "Tiểu huynh đệ, không tệ, cũng có chút bản lĩnh. Ngay cả nan đề “bọc sát” khó như vậy mà cũng tìm được đột phá. Có thời gian hãy đến chỗ ta, lão đạo có vài chuyện muốn bàn với cậu."
Thật lòng mà nói, tôi khá có thiện cảm với đạo sĩ này, thấy ông không giống đạo sĩ thường. Chỉ riêng cái cách ông nghiêm túc thu dọn hài cốt trong nhà đường hôm nọ, đã cho thấy là người không tồi.
Ông nói muốn bàn chuyện, tôi biết ý ông nhắc đến chuyện xung đột hôm trước. Tôi không nhận lời ngay, chỉ nói: "Có thời gian nhất định sẽ tới!"
Đạo sĩ không nói thêm, liếc qua ba chúng tôi, thoáng ngạc nhiên, rồi bỏ đi.
"Trần Bát Tiên, cuối cùng cậu cũng về. Vừa rồi dì tôi còn lo bia huyết lập không kịp, không ngờ cậu về nhanh vậy." Lang Cao bước tới, đưa mỗi người chúng tôi một điếu thuốc, cười nói: "Theo tôi vào linh đường ăn cơm."
Bận rộn cả buổi sáng, lại chưa ăn sáng, bụng đói cồn cào, chúng tôi bèn theo anh ta vào.
"Bia mộ làm xong chưa?" Vừa đi trước, Lang Cao vừa hỏi.
"Xong rồi, đang để ngoài đường cái." Tôi đáp, chợt nhớ lão Vương tìm cho tôi năm Bát Tiên, liền hỏi: "Năm Bát Tiên kia đâu, sao không thấy?"
"Sáng nay họ đến mà không thấy cậu, nên đã ra mộ địa đào huyệt giếng. Chắc sắp về rồi, lúc tôi đi, họ đang dọn dẹp mộ giếng." Lăng Cao vừa đi vừa giải thích.
Tôi khẽ “ừ”, châm điếu thuốc, hít sâu rồi thở ra, liếc nhìn Quách Béo với Lưu Thiên Nam, trong lòng hơi bất an, hai tên này đều là lính mới, liệu có ổn không?
Vào đến linh đường, sàn nhà đã được lau chùi sạch bóng, còn xịt nhiều nước hoa, mùi hôi thối hầu như phai hẳn, nếu không ngửi kỹ sẽ khó mà nhận ra nơi này từng đốt xác.
Trong linh đường đặt hai bàn: một bàn chỗ trước thần án, vốn là chỗ để quan tài; một bàn gần cửa. Vì sau khi đưa tang, đa số họ hàng đã về, chỉ còn thân thích ruột thịt và tám Bát Tiên đi chôn, tổng cộng chỉ mười ba mười bốn người.
Khi tôi bước vào, bàn gần thần án có tám người ngồi, nhìn kỹ đều là gương mặt xa lạ, không phải thân nhân của Lý Hắc Tử.
"Ý gì đây?" Thấy tám người đó ngồi sẵn, mặt tôi trầm xuống, quay sang Lang Cao, giọng lạnh tanh.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 9 others
Chương 36: Tranh chỗ ngồi (Hạ)
Sắc mặt tôi sa sầm xuống là có nguyên nhân. Theo quy củ trong nghề chúng tôi, vị trí ngồi trong tiệc rượu tang sự đặc biệt quan trọng. Bàn gần thần đàn là bàn chính, là bàn quan trọng nhất trong cả tang lễ, cũng là bàn có món ăn phong phú nhất.
Lấy ví dụ việc để quan tài ở nhà ba ngày: ngày đầu tiên, bàn chính do gia chủ và người chủ trì tang sự (nếu tang không giao cho bên ngoài thì là "tri khách") ngồi; ngày thứ hai, khi rước đường, là người chủ trì và đạo sĩ đi mở đường ngồi; ngày thứ ba, khi đưa tang, thì là bát tiên (người khiêng quan) ngồi.
Còn trong nghi thức lập bia máu, bữa trưa theo lệ thường chính là do chúng tôi, những người khiêng bia mộ ngồi ở bàn chính. Rõ ràng bọn họ cũng biết quy củ này, vậy mà vẫn ngồi lì ở đó, hiển nhiên là bắt nạt người khác, bởi sáng nay bọn họ đã ăn ở bàn chính rồi, không thể nào lại ngồi tiếp được.
Chúng tôi không phải tranh ăn, cũng không phải tranh thể diện, mà là tranh một hơi thở, tranh bổn phận, tranh tôn nghiêm.
Trong mắt người ngoài, chỉ là một bàn tiệc có món ăn ngon hơn đôi chút, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Nhưng nào ai hiểu được, bàn rượu tưởng như không quan trọng ấy đối với chúng tôi lại quý giá đến mức nào. Chúng tôi làm công việc hèn mọn nhất, kiếm tiền từ cái chết mà người đời ghê sợ, ăn bữa cơm lẫn mùi tử khí. Chỉ khi hạ táng và lập bia, chúng tôi mới có thể đứng cao hơn người khác một bậc, mới được ngồi ở bàn chính mà ăn một bữa cơm yên lòng. Cơm có thể không ngon, nhưng lòng thấy thơm; món có thể nhạt, nhưng trong lòng có vị; rượu có thể không nồng, nhưng tâm lại hân hoan.
Người ta có thể gọi chúng tôi là phu khiêng quan, có thể bảo chúng tôi kiếm tiền từ người chết, thậm chí chửi chúng tôi là phường hèn hạ. Nhưng, trên bàn tiệc, chúng tôi nhất định phải ngồi ở bàn chính, vì ở đó có tôn nghiêm của chúng tôi.
Thấy sắc mặt tôi tối sầm đến đáng sợ, Lang Cao ngượng ngập cười: "Họ đến trước, nên ngồi đó thôi. Tôi sẽ bảo họ rời đi ngay."
Tôi im lặng, không nói, chỉ nhìn chằm chằm mấy người bát tiên đang ngồi ở bàn chính, lửa giận bốc lên. Tôi vốn ít khi nổi nóng, nhưng ai chạm đến giới hạn của tôi, tôi sẽ bất chấp hậu quả mà đạp người đó xuống chân. Cũng bởi tính khí ấy mà về sau trong nghề khiêng quan, tôi đắc tội không ít đồng nghiệp, phần nhiều đều là vì tranh bàn chính.
"Ôi chao! Sở trưởng Lang, anh định lấy thế ép người sao? Vừa mới chôn cất cậu ruột của anh xong đã muốn đuổi bọn tôi khỏi bàn chính à? Làm cháu thế có ra thể thống gì? Không sợ cậu anh từ quan tài bò ra tìm anh hả?"
Người nói chỉ tầm năm mươi, mặt mũi gian xảo, ngồi ngay chính giữa bàn chính.
Lang Cao ôn tồn đáp: "Vị lão tiên sinh đây, tôi bỏ lớp vỏ chức vụ thì cũng chỉ là dân thường, chẳng có ý lấy danh sở trưởng mà ép ông. Càng không phải muốn đuổi các vị khỏi bàn chính. Chỉ là việc gì cũng phải hợp lễ. Hôm nay cậu tôi lập bia máu, sợ mấy vị không lo xuể nên tôi đặc biệt mời thêm tám vị bát tiên khác đến lo việc. Theo lẽ thường, bàn chính phải nhường cho họ ngồi."
Nói xong, anh ta đưa tay chỉ về phía chúng tôi.
Lời của Lang Cao rất có lý. Hẳn anh ta cũng hiểu đôi chút về tang lễ ở nông thôn. Cũng phải thôi, bát tiên chúng tôi trước giờ hay đánh nhau, gây chuyện, anh ta xử mấy vụ như thế nhiều rồi, nên dần dần cũng biết được lễ nghi.
Tên mặt mũi gian xảo nhìn theo tay anh ta về phía chúng tôi, thoáng sửng sốt rồi nở một nụ cười quái dị. Hắn đứng dậy, bước đến trước mặt tôi, bóp má tôi rồi nói: "Nhóc con, tao nghe danh mày rồi. Trần Cửu, đúng không? Thằng ăn cùng mâm với lão Vương độc nhãn. Giờ thế nào mà thành ra lão Vương ăn cùng mâm với mày rồi? Nói tao nghe thật đi, mày có phải mẹ kiếp đang… "làm" với lão Vương không?"
Tôi không thèm cãi, cũng chẳng buồn nói, chỉ dùng hành động để trút giận. Tôi tung chân đá thẳng vào hạ bộ hắn, rồi một cú móc phải giáng vào thái dương, thuận tay vớ lấy cái ghế dài đập thẳng xuống đầu hắn.
Máu bắn tung tóe, bắn cả lên áo tôi. Hắn đổ vật xuống đất, quằn quại mấy cái rồi ngất lịm, chưa kịp kêu một tiếng.
"Giết người rồi!" Vài gã bát tiên ở bàn chính hét lên, lao về phía tôi.
Quách Béo và Trần Thiên Nam thấy vậy, chẳng dám chần chừ, vớ lấy ghế dài chắn ngang người, sẵn sàng đỡ bọn kia.
"Giữa ban ngày ban mặt, các người định làm loạn hả?" Thấy đôi bên sắp lao vào nhau, Lang Cao đập bàn cái rầm, quát lớn: "Ai dám gây chuyện trong tang lễ của cậu tôi, mai tất cả vào nhà giam ngồi hết!"
Đôi khi, một câu nói của quan chức còn nặng hơn cả nghìn lời của dân. Một tiếng quát ấy vang lên, không ai dám động thủ nữa. Chúng tôi trừng mắt nhìn nhau, chỉ hận không thể xé xác đối phương. Trong đầu tôi chợt hiện lên câu thơ:
"Bản thị đồng căn sinh, tương tiễn hà thái cấp".
(Cùng sinh một gốc, sao nỡ tàn hại nhau).
Đời vốn là thế. Cùng làm một nghề hèn mọn, nhưng lại chẳng chịu thấy người khác hơn mình một chút. Có lẽ, ở ngành nào cũng thế cả. Đó chính là bản tính con người.
"Này, bảo anh em của anh đưa ông ta đi viện đi, chi phí tính vào tôi." Lang Cao chỉ vào một gã trong nhóm kia.
Gã đó nhìn chúng tôi đầy oán hận, gọi vài người khiêng kẻ bị thương lên. Trước khi đi, hắn dừng lại trước mặt tôi vài giây, buông một câu: "Nhóc con, bọn tao ăn cùng mâm với Thủy Vân Chân Nhân. Mày cứ đợi đấy!"
Nói xong, bảy người khiêng kẻ bất tỉnh vội vã đi ra ngoài làng.
Lang Cao liếc chúng tôi một cái, chẳng nói gì thêm, chỉ bảo người dọn sạch vết máu rồi mời chúng tôi ngồi vào bàn chính, còn anh ta thì bỏ đi.
Ba chúng tôi ngồi ở bàn chính, không ai mở miệng. Trong gian nhà chính, bầu không khí lạnh căm căm. Chẳng bao lâu, năm người đào giếng mộ bước vào, toàn người quen, từng khiêng quan tài cùng nhau.
"Trần bát tiên, sao thế? Trông mặt không ổn vậy?" Người lên tiếng là Cao Lão, hơn bốn mươi, da ngăm, ngồi ngay cạnh tôi.
Tôi lắc đầu: "Không sao, ăn uống no đi. Hai giờ chiều lập bia máu. Lát nữa ra quốc lộ khiêng bia Linh Lung về nghĩa địa."
Tám chúng tôi ăn vội ít cơm, uống chút rượu. Trong lúc ấy, Quách Béo và Trần Thiên Nam mấy lần định mở lời, đều bị tôi ngăn bằng ánh mắt. Tôi không muốn nhắc lại chuyện vừa rồi. Bởi lẽ lần này bia rất khó khiêng, lại có hai người mới, tôi chẳng có chút tự tin nào. Tôi chỉ đặt hy vọng vào câu nói của ông chủ: "Người có duyên khiêng bia Linh Lung chỉ nặng chừng trăm cân".
Câu sau thì tôi cố tình bỏ qua. Trên đường về, tôi đã nghĩ rất nhiều. Ông chủ đã giao tấm bia này cho tôi, hẳn phải có dụng ý. Đến lão Vương cũng nói ông ta là thần tiên sống, chắc chắn không sai.
Cơm nước xong, tôi bảo Lãng Cao chuẩn bị: bảy đôi găng tay trắng, ba con gà trống, ngũ cốc tạp lương, mười tám cân tám lạng giấy vàng, hai cây nhang dài, một bó nhang nhỏ, một cái bột mực.
Vì cảnh ẩu đả trước đó, thái độ của Lang Cao đối với tôi lạnh nhạt hơn, chẳng còn nhiệt tình như ban đầu. Điều này tôi hiểu, ai mà tử tế với kẻ gây chuyện trong tang lễ chứ? Nhưng anh ta vẫn chuẩn bị đủ đồ như tôi dặn, rồi nói: "Lập xong bia máu, sẽ xử lý vụ việc của các cậu."

Chương 37: Bia mộ lạnh lẽo
Tôi nhún vai, nói: “Được, hai người bên cạnh tôi không ra tay, cứ tính một mình tôi là được.”
Nói xong, tôi nhận bảy đôi găng tay trắng từ tay Lang cao, lại tìm thêm một bộ giá đỡ, rồi cùng Quách Béo, Trần Thiên Nam và năm người Bát Tiên đi về phía con đường lớn.
Trên đường, Trần Thiên Nam cứ im lặng, như đang suy nghĩ chuyện gì đó. Còn Quách Béo thì không ngừng lẩm bẩm: “Cửu ca, anh oai quá, loại người đó phải đánh! Dám sỉ nhục cha mẹ người ta, đáng đánh lắm.”
Tâm trạng tôi rối bời, chẳng có hứng để ý đến hắn, chỉ cúi đầu đi, trong đầu loạn cả lên, nghĩ gì thì bản thân cũng không rõ.
“Cửu ca, tới rồi, anh còn đi tiếp làm gì nữa?” Quách Béo bỗng gọi.
Tôi sực tỉnh, ngoảnh lại nhìn, thì ra đã đến con đường lớn, tấm bia máu Linh Lung đã nằm sau lưng chúng tôi mấy mét.
Tôi dụi mặt, hít mấy hơi thật sâu, cố gắng trấn tĩnh lại. Mọi người chỉ lặng lẽ nhìn tôi, không ai mở lời, bầu không khí trở nên nặng nề.
Chừng hai ba phút sau, tâm tình tôi mới bình ổn lại. Ngẩng đầu nhìn xung quanh: một con đường lớn quanh co kéo dài xa tít chẳng thấy điểm dừng; bên cạnh có một lối nhỏ dẫn thẳng vào thôn Lý.
Tôi hỏi Cao Lão nghĩa địa thôn Lý ở đâu. Anh ta giơ tay chỉ một ngọn đồi gần đó: “Nghĩa địa thôn Lý ở trên đó. Đường để khiêng bia chúng tôi đã dọn qua một lượt, chỗ cần mở rộng thì chồng gạch, cây cối cỏ dại hai bên cũng dọn hết rồi. Có điều…”
“Có điều gì?” tôi hỏi.
“Phải đi qua cái ao ở đầu thôn, đường đó không xử lý được. Tôi đã đo sơ qua, chắc cũng đủ chỗ cho chúng ta đi, nhưng vài đoạn là đất yếu, e rằng sẽ xảy ra sự cố.” Cao Lão giải thích.
“Không còn đường nào khác à?” tôi truy vấn.
“Không, chỉ có đường này. Đường khác đi không nổi. Với lại còn một rủi ro nữa, tôi cũng chỉ nghe người trong thôn nói thôi, không biết thật hay giả. Nghe nói trước đây từng có người khiêng bia đi qua cái ao đó, bị rơi xuống chết đuối. Người ấy hóa thành thủy quỷ, chuyên tìm người thế mạng.” Nói đến thủy quỷ, trán Cao Lão lấm tấm mồ hôi, xem ra điều anh ta lo lắng thật sự chính là chuyện ma quỷ kia.
“Đã đốt giấy vàng mã và nói lời khấn chưa?” tôi liếc anh ta, hỏi.
“Lời khấn thì có rồi. Nhưng khi đốt giấy, không hiểu sao tro đều bay xuống ao. Anh em tôi có chút lo, không muốn nhận việc này. Chúng tôi ở lại cũng là nể mặt danh tiếng của Trần Bát Tiên. Cậu có cách nào giải quyết thủy quỷ không?” Cao Lão hỏi tôi.
“Tôi thấy thôn Lý cũng chôn không ít người già, khiêng không ít quan tài và bia mộ, có thấy ai gặp chuyện đâu. Hơn nữa, sáng nay khiêng quan tài qua đó cũng yên ổn cả. Có lẽ chỉ là lời đồn nhảm, không muốn chúng ta nhận việc này thôi.” tôi nghĩ rồi nói vậy.
Những lời tôi nói toàn sự thật. Đám Bát Tiên mặt mũi chuột chù kia vốn đã không ưa chúng tôi khiêng bia. Trước đó tranh giành ghế chủ lễ đã thấy rõ. Việc tang lễ dựng bia máu thế này, thường chỉ giao cho một nhóm Bát Tiên lo trọn gói, chủ nhà hiếm khi mời thêm người. Nếu không kịp thời gian, người ta thường chọn giờ tốt trong vòng bảy ngày để dựng bia. Ai ngờ tôi chen ngang nửa chừng, giành lấy việc này.
Nghe tôi nói vậy, Cao Lão và mọi người nghĩ thấy có lý, bèn bảo mau khiêng bia vào nghĩa địa cho xong. Tôi gật đầu, phân công Quách Béo, Trần Thiên Nam, Cao Lão cùng tôi khiêng phía trước, bốn người còn lại khiêng phía sau.
Sự sắp xếp này để cân bằng sức lực. Tôi và Cao Lão khỏe hơn bốn Bát Tiên kia nên đi đầu cùng Quách Béo và Trần Thiên Nam. Quách Béo thì tôi yên tâm, hồi còn đi học, hắn khỏe như trâu, nổi điên lên thì mấy người cũng không giữ nổi.
Còn Trần Thiên Nam, tôi không quen, chẳng biết sức thế nào. Nhìn vóc dáng gầy gò như khỉ, chắc không khỏe lắm. Nếu không phải tìm người khó quá, tôi cũng chẳng muốn đem theo một gánh nặng thế này.
Tám người chúng tôi đứng vào vị trí, tôi phát cho mỗi người một đôi găng tay, bảo họ đeo vào. Cao Lão thắc mắc lý do, tôi chỉ nói tấm bia này hơi khác thường.
Tất nhiên tôi cũng không keo kiệt, hứa với họ nếu khiêng được bia đến nghĩa địa an toàn, tiền công sẽ tăng gấp mười, mỗi người một ngàn.
Được hứa trọng thưởng, ai nấy đều hăng hái. Cao Lão tìm một cái cuốc nhỏ, đào bới lớp đất dưới bia Lăng Lung, rồi thử dùng tay bẩy, nhưng bia không nhúc nhích. Anh ta ngạc nhiên: “Lạ thật, nhìn không nặng mà sao chẳng nhúc nhích?”
Nói rồi anh ta lại thử vài lần, vẫn chẳng động đậy. Mấy Bát Tiên khác không phục, thay nhau thử, kết quả cũng y vậy.
“Quái thật, sao lại thế này?” Cao Lão và mấy người kia xì xào. Sau đó, anh ta lấy một đầu giá đỡ chèn xuống dưới bia, tìm thêm một hòn đá cứng kê cách bia vài tấc, rồi dồn sức nạy.
Nhưng bia vẫn im lìm. Anh ta dùng cả người đè lên, cũng chẳng nhúc nhích. Cuối cùng, năm Bát Tiên cùng dồn lực xuống một đầu giá đỡ, không chỉ không lay được bia, mà còn làm gãy luôn cả giá.
“Giờ làm sao đây?” Cao Lão thở dài bất lực.
Trong lúc họ cố sức, mắt tôi vẫn quan sát tấm bia. Cảm giác của tôi với tấm bia này cực kỳ quái lạ, chính là… lạnh.
Tôi đưa tay sờ thử, quả nhiên lạnh buốt, hàn khí tỏa ra. Ngẩng đầu nhìn mặt trời chói chang trên cao, tôi thấy lạ lùng vô cùng: trời nắng gắt như đổ lửa, sao bia lại lạnh thế? Hay là do địa chất?
Tôi đưa tay sờ thử mấy tảng đá xung quanh, nóng bỏng tay. Lúc đó, lòng tôi càng thêm nghi hoặc. Trong sách táng kinh từng viết, bia mộ tốt thì “thông linh, tiếp địa khí”.
Chẳng lẽ tấm bia này thực sự thông linh, hút địa khí? Tôi cầm cuốc của Cao Lão, đào đất dưới bia, nắm một nắm thử, quả nhiên mát lạnh, chỉ kém bia một chút thôi.
Phát hiện điều đó, tôi bảo Cao Lão tháo găng ra sờ thử. Anh ta nói tấm bia rất nóng! Thật kỳ quái, cùng một tấm bia, tôi thì thấy lạnh, còn anh ta lại thấy nóng. Đây là chuyện gì?
“Cửu ca, ông chủ bán bia có nói không được tùy tiện chạm vào bia, sao anh lại bảo Cao Lão chạm?” Quách Béo ở phía sau hỏi.
Tôi lắc đầu: “Ông ta nói là trước khi hạ thổ thì không được tùy tiện đụng, còn bây giờ đã hạ thổ rồi, sờ một chút cũng không sao. Cùng lắm chỉ làm hao chút linh khí, chẳng hại gì lớn.”

Chương 38: Không nhấc nổi
Quách Béo còn định nói gì đó, tôi vội khoát tay ra hiệu cho nó im lặng, rồi đi vòng quanh tấm bia máu Linh Lung một vòng. Không hiểu sao, lúc này cảm giác mà tấm bia mang lại khác hẳn với khi ở cửa hàng bia mộ.
Khi ở cửa hàng, thứ tôi cảm nhận được chỉ là chất đá tốt, nghe ông chủ nói rất nặng thì tôi chỉ hơi ngạc nhiên một chút, tổng thể vẫn chỉ là cảm giác “nặng nề”.
Nhưng bây giờ lại khác: thần bí. Chỉ một tấm bia, hai người chạm vào lại cho cảm giác trái ngược cực độ: một nóng rực, một lạnh buốt. Suốt mười tám năm nay tôi chưa từng gặp chuyện kỳ quái như thế này.
Ban đầu tôi còn định cho mọi người cùng chạm thử, nhưng nhớ lại lời ông chủ, tôi liền từ bỏ ý định. Tôi đặt tay vào cạnh bia, dùng sức bẩy thử lên: nặng, nặng như ngàn cân.
Sao lại thế này?
Thời gian ở cùng ông chủ không nhiều, nhưng có thể nhìn ra, ông tuyệt đối không phải hạng người rảnh rỗi thích đùa ác. Nếu đã tặng cho tôi tấm bia này thì ắt có nguyên do.
Tôi lại đi vòng quanh bia thêm vài lượt, thử ở nhiều chỗ khác nhau, kết quả vẫn y như cũ, nặng như ngàn cân, chẳng nhúc nhích chút nào.
Thử đi thử lại, mồ hôi tôi vã ra như tắm, cả nhóm đều im lặng, ai cũng đang nghĩ: làm sao để nhấc nổi tấm bia này.
Không khí trầm lắng rất lâu, Cao Lão lấy điện thoại ra xem giờ rồi nói: “Trần Bát Tiên, giờ cũng gần 12h rồi, còn 2 tiếng nữa mới đến giờ tốt để hạ bia. Nếu bia này vẫn nhấc không nổi, e rằng lỡ mất giờ, bên gia chủ khó ăn nói lắm.”
Tôi còn chưa kịp mở miệng thì Trần Thiên Nam chen vào to tiếng: “Lỡ thì lỡ chứ sao, cùng lắm đền ít tiền cho gia chủ là được.”
Cao Lão trừng mắt nhìn cậu ta: “Cậu tưởng cái gì cũng mua được bằng tiền à? Lỡ giờ tốt, nếu người chết trách tội xuống, chúng ta bát tiên không chỉ gặp chuyện lạ, mà bên gia chủ còn có thể tuyệt tự tuyệt tôn. Lúc ấy tiền của cậu có tác dụng gì? Mang xuống quan tài mua vợ chắc?”
Trần Thiên Nam còn định cãi, tôi lại khoát tay ngăn. Lời Cao Lão nói hoàn toàn là thật. Dựng bia máu phức tạp hơn dựng bia thường rất nhiều, chỉ cần sơ sót lễ nghi đã có thể chọc giận vong linh, huống chi lỡ giờ tốt. Tôi nghiêm giọng: “Cao Lão còn nói nhẹ đó. Nếu lỡ giờ tốt, e rằng mấy người chúng ta chẳng có kết cục tốt đẹp gì.”
Thiên Nam rùng mình hít mạnh một hơi: “Không đến mức đó chứ? Kỳ dị vậy sao?”
Tôi cười lạnh: “Ăn cơm người chết, ai mà chưa từng gặp vài chuyện quái? Nếu cậu nghĩ làm bát tiên là trò vui, thì tôi nói cho rõ: một chút cũng chẳng vui vẻ gì, không khéo mất cả mạng. Bớt cái tính chơi bời đó đi. Nhấc xong tấm bia này, cậu có thể rút lui.”
Vừa nói, tôi vừa vuốt ve mặt bia: “Nhiệm vụ bây giờ là nghĩ cách đưa bia máu Linh Lung này vào phần mộ, chứ không phải lo đến hậu quả.”
Trần Thiên Nam run rẩy toàn thân, lắp bắp: “Cửu ca, có khi nào chúng ta bị lão chủ kia gài bẫy? Cố tình bắt ta khiêng bia này để đắc tội với người chết?”
Tôi lắc đầu: “Không đâu. Ông ấy không phải loại người đó, mà chúng ta cũng chẳng có gì đáng để ông ta hãm hại. Ông ta từng nói: người có duyên nhấc bia Linh Lung chỉ nặng trăm cân, người vô duyên thì tới một ngàn tám trăm cân. Đã giao tấm bia này cho ta, tức là ông ta xem ta là người có duyên. Chỉ là chúng ta chưa nắm được cách, nên nó mới nặng như vậy thôi.”
Nói xong, tôi dùng ngón tay gõ nhẹ liên tục lên bia, trong đầu không ngừng nhớ lại lời ông chủ. Càng gõ, bỗng một luồng nóng rực truyền vào ngón tay, khiến tôi giật mình. Toàn bộ bia lạnh băng, hàn khí bức người, sao lại có chỗ nóng?
Ngó xuống, tôi thấy ngay chỗ tay mình đặt trúng chính là hạt ngọc đá trên bia. Dưới ánh nắng gay gắt, hạt ngọc ấy lờ mờ ánh lên một tia lục ngọc bích.
Tôi liền gọi to: “Mọi người xem hạt ngọc này có gì khác thường không?”
Mọi người đồng loạt nhìn chăm chú một lúc, rồi lắc đầu: “Không có gì lạ cả, chỉ là một hạt ngọc bình thường.”
“Không đúng, có điểm khác!” Quách Béo và Thiên Nam cùng thốt lên: “Trên đó có cái gì đó!”
Nghe vậy, Cao Lão và những người khác lại quan sát kỹ thật lâu, cuối cùng vẫn lắc đầu: “Chúng tôi không thấy gì cả.”
Tôi mỉm cười, xem ra đã lần ra manh mối: “Ông chủ bán bia từng nói, bia Linh Lung khác với các bia khác. Khiêng nó cần duyên phận. Quách Béo và Thiên Nam thấy được ánh sáng lục tức là có duyên, còn các anh không thấy tức là vô duyên thôi.”
“Ồ?” Cao Lão ngạc nhiên: “Lại có bia mộ thần kỳ như thế? Trước giờ tôi chỉ nghe nói có bia kén tuổi theo 12 con giáp, còn bia thường thì ai khiêng cũng được. Không ngờ hôm nay tận mắt thấy được bia kỳ dị như vậy, chuyến này đúng là không uổng. Sau này có chuyện để khoe với lão Vương rồi.”
Lời anh ta nói khiến mấy bát tiên khác phá lên cười, ai nấy đều thấy chuyến đi không phí công.
Đúng lúc ấy, một giọng lo lắng cắt ngang niềm vui: Quách Béo rụt rè nói: “Các vị, đừng mừng sớm. Cửu ca vừa thử rồi, vẫn nhấc không nổi.”
Câu nói vừa dứt, không khí lại rơi vào tĩnh lặng. Nó nói đúng, tôi vừa thử, quả thực không nhúc nhích. Thế thì vấn đề ở đâu? Nếu tôi là người có duyên, tại sao vẫn không thể nhấc nổi tấm bia Linh Lung này?
Nghĩ ngợi một lúc, tôi lại đặt tay phải lên hạt ngọc đá, vẫn là cảm giác nóng rực. Rồi đưa tay trái luồn xuống dưới bia, dùng sức bẩy thử, nhưng trọng lượng vẫn y như cũ…

Chương 39: Tấm bia mộ thần kỳ
Lúc này, đám Cao Lão cũng nhận ra tình hình không đơn giản như tưởng tượng, liền cùng nhau đến phụ khiêng. Tám người chúng tôi dốc hết sức, vậy mà tấm Linh Lung Huyết Bi cứ như mọc rễ sâu dưới đất, không hề nhúc nhích.
“Giờ làm sao đây?” Trần Thiên Nam ở bên cạnh bắt đầu mất kiên nhẫn, nói: “Nếu cứ tiếp tục thế này, chúng ta sẽ lỡ mất giờ lành, đến lúc đó phiền toái lắm. Hay là gọi thêm vài người đến khiêng?”
“Không được. Ông chủ đã dặn rồi, chỉ được tám người, nhiều hơn một cũng sẽ xảy ra chuyện.” Tôi lắc đầu.
“Tôi từng nghe người già nói, có những tấm bia mộ phải đọc chú ngữ thì mới khiêng nổi. Có khi nào tấm Linh Lung Huyết Bia này cũng vậy không?” Cao Lão nhắc nhở.
“Táng Kinh chỉ nói rất ít về bia mộ, tôi nào biết đọc chú gì đâu.” Tôi lẩm bẩm. Táng Kinh đa phần ghi chép việc tang sự, còn bia mộ thì chỉ vài câu sơ sài.
“Cửu ca, anh còn nhớ ông chủ có nói một câu rất kỳ lạ không? Ông ta bảo: ‘Bát Tiên tụ, tụ bát phương, Dực Long đằng không’. Anh nghĩ có khi nào câu đó chính là chú ngữ?” Quách Béo nhìn chằm chằm tôi một lúc lâu mới thốt ra.
“Không tệ đâu, nhóc mập cũng nhớ nổi câu thâm sâu thế, cha mẹ cậu không uổng học phí.” Trần Thiên Nam chọc ghẹo, rồi còn nhéo mông Quách Béo, làm nó đau la oai oái.
“Được rồi, hai cậu đừng giỡn nữa.” Tôi trừng mắt: “Quách Béo nói cũng có lý.”
Nói rồi, tôi bảo Quách Béo đứng chính Nam, Trần Thiên Nam chính Tây, Cao Lão chính Bắc, bốn Bát Tiên còn lại lần lượt đứng Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, còn tôi đứng chính Đông.
Sau khi xếp đủ tám phương vị, tôi dặn dò: “Mọi người không được nghĩ lung tung, nhất là Quách Béo với Trần Thiên Nam. Nếu còn tạp niệm, xong việc tôi tính sổ.”
“Yên tâm, tôi tuyệt đối không. Còn Quách Béo thì khó nói.” Trần Thiên Nam cười nham nhở: “Béo, nghe Cửu ca chưa? Đừng nghĩ tới Yui Hatano nữa đó.”
“Anh…” Quách Béo trừng mắt, rồi quay sang tôi than thở: “Cửu ca, chúng ta học chung bao nhiêu năm, anh còn không hiểu em sao?”
“Tập trung! Nếu khiêng không nổi bia mộ, tất cả đều bị báo ứng.” Tôi nghiêm mặt.
Cả nhóm lập tức im lặng, bầu không khí trở nên nặng nề. Một cơn gió mát thoảng qua, mang đến chút dễ chịu.
Tôi hít sâu mấy hơi, vái ba cái về phía nghĩa địa, lại khom người làm ba cái lễ trước tấm bia, sau đó tay trái đặt lên viên thạch châu, tay phải kết ấn đạo chỉ (ngón trỏ, ngón giữa khép lại dựng đứng, ngón áp út và ngón út co vào lòng bàn tay, ngón cái đè lên móng chúng).
Miệng tôi dõng dạc đọc: “Bát Tiên tụ, tụ bát phương, Dực Long đằng không.”
Dứt lời, tay phải tôi lập tức hóa ấn thành chưởng, đập mạnh lên Linh Lung Huyết Bia.
Một luồng tê dại truyền đến, rồi cảm giác nóng lạnh xen kẽ lan khắp lòng bàn tay.
Bỗng, bên tai vang lên tiếng “cạch cạch” rất nhỏ. Nhìn xuống, tôi thấy tấm bia đã lún xuống nửa tấc, đất hai bên bị ép trồi lên.
Tôi vội tăng lực, cảm giác mát lạnh biến mất, thay vào đó là sự ấm áp.
Thầm nghĩ: “Được rồi!” Tôi thử nâng nhẹ dưới bia, quả nhiên động được, chỉ chừng trăm cân.
Thấy vậy, cả nhóm reo hò. Quách Béo hét: “Cửu ca giỏi quá, em không nhìn lầm anh.”
Tôi lau mồ hôi, trong lòng thầm thở dài. Đọc câu chú kia tuy ngắn gọn, nhưng hao tổn rất nhiều tinh lực. Khi đọc, tôi còn cảm giác có thứ gì đó bị rút khỏi cơ thể, huyền diệu khó tả.
“Đừng nói nhiều nữa, mau đổi đòn khiêng, đem bia vào nghĩa địa, kẻo lỡ giờ lành.” Tôi quát.
Tôi dùng đá kê, luồn dây Long thừng qua đáy bia, buộc chặt hai đầu, thắt nút sống, rồi xuyên đòn gỗ qua.
Xong xuôi, tôi cùng Trần Thiên Nam khiêng đầu trái, Quách Béo và Cao Lão khiêng đầu phải, bốn Bát Tiên còn lại khiêng phía sau. Sợ đường xóc nảy, tôi còn phát cho họ gậy chống vai.
Tôi hô: “Một, hai, ba, lên!” Tấm bia từ từ nhấc lên.
Hỏi về trọng lượng, Quách Béo bảo khoảng 300 cân, Trần Thiên Nam nói 400 cân, Cao Lão cùng bốn Bát Tiên thì thở hổn hển: “Phải đến 1800 cân! Chia ra mới tạm chịu nổi, chắc phải nghỉ mấy lần mới tới mộ.”
Khi họ hỏi tôi nặng bao nhiêu, tôi đáp: “Chừng trăm cân.”
Cả bọn nhìn tôi như quái vật: “Quỷ quái thật! Cùng một tấm bia, mỗi người lại thấy nặng nhẹ khác nhau.”
Vì vậy mới xuất hiện cảnh tượng kỳ lạ: tôi, Quách Béo, Trần Thiên Nam khiêng rất nhẹ nhàng, còn Cao Lão và bốn Bát Tiên mồ hôi như tắm, có người mặt mày tái mét vì sức nặng.
Hai tên Quách Béo và Trần Thiên Nam còn vừa khiêng vừa hát trêu: “Nhà tôi ở vùng đất vàng, cha cậu là anh họ mẹ cậu.”
Cao Lão tức giận đến trợn mắt, nhưng không dám hé răng, sợ phân tâm càng khó khiêng.
Tôi nhìn mà thương thay, vác nặng thế còn đâu hơi sức cãi nhau.
Chúng tôi chật vật đi được một đoạn, nghỉ ngơi hút thuốc rồi lại tiếp tục. Cuối cùng cũng mang được Linh Lung Huyết Bia đến cổng làng Lý.
Tôi nhìn Cao Lão cùng mấy người mệt rã rời, chỉ tay về phía ao làng: “Phía trước là cái ao đó, nghỉ một lát, rồi dốc sức một lần khiêng qua luôn.”
Họ gật đầu, từ từ đặt bia xuống, ngồi bệt ra đất, rút thuốc hút.

Chương 40: Rơi xuống nước
Nhân lúc bọn họ nghỉ ngơi, tôi quan sát cái ao. Ao này có gì đó rất lạ, mang cảm giác như “bán mẫu phương đường nhất giám khai” (một mặt nước phẳng lặng như gương). Cảnh quan thì cũng được, nhưng kỳ quái là rõ ràng xung quanh có mấy căn nhà, vậy mà ven bờ ao lại mọc đầy cỏ dại. Theo lẽ thường, chỗ nào có người ở thì cỏ dại phải rất ít, nhưng nơi này thì hoàn toàn ngược lại.
Tôi nhìn về phía Cao Lão chỉ, đại khái cũng giống như anh ta nói, cách chừng hơn một trượng, con đường vừa đủ để chúng tôi đi qua. Đất bên trái ven ao hơi lỏng, người đi qua thì không sao, nhưng vác bia mộ qua thì tôi không dám chắc.
“Trần Bát Tiên, sắp một giờ rồi, đừng ngẩn ra nữa, phải xuất phát thôi.” Cao Lão đứng sau thúc giục khi thấy tôi đang suy nghĩ xem có cách nào làm cho con đường chắc chắn hơn.
Tôi “ồ” một tiếng rồi quay lại, theo vị trí ban đầu mà cùng mọi người nhấc tấm bia máu Linh Lung lên.
Vì trước đó Cao Lão đã nói trong ao có thủy quái (thủy quỷ), trong lòng ai cũng có chút căng thẳng, chẳng ai dám lơi lỏng. Vừa bước lên con đường nhỏ trên mặt ao, trong lòng tôi liền cảm thấy khó chịu vô cớ, bèn dặn mọi người: “Đường này hơi hẹp, mọi người đi chậm thôi, cẩn thận dưới chân.”
Họ gật đầu, bước đi rón rén, dè chừng hết mức, sợ xảy ra sơ suất. Ngay cả Quách Béo và Trần Thiên Nam, hai kẻ hay cười đùa ầm ĩ lúc này cũng im thin thít, mặt mày căng thẳng, thở mạnh cũng không dám.
Loạng choạng đi được một đoạn thì đến chỗ đất yếu. Tôi và Trần Thiên Nam cùng vác bên trái, vừa khéo phải giẫm lên đoạn đó. Cậu ta đi bên ngoài, tôi đi phía trong. Tôi dùng gậy thăm đất thăm mạnh mấy cái, thấy rất cứng, mới từ từ nhấc chân bước lên.
Thật lòng mà nói, khi vừa đặt chân lên chỗ đó, tim tôi đập thình thịch, hơi thở cũng gấp gáp hơn. Ai nấy đều im lặng, nhưng ánh mắt thỉnh thoảng lại liếc sang phía chúng tôi.
“Cửu ca, nhớ che chở cho tôi nhé. Tôi mới mười tám tuổi, còn nhiều em gái đang chờ tôi nuông chiều, không thể để thủy quỷ bắt làm thế thân đâu.” Trần Thiên Nam run rẩy vừa bước vừa lắp bắp.
“Yên tâm, có tôi ở đây, tuyệt đối sẽ không để cậu gặp chuyện.” Tôi vừa dặn vừa cẩn trọng dò đường phía trước bằng gậy.
“Cửu ca, tôi sợ quá!” Không hiểu sao, vừa bước lên chỗ đất yếu, Trần Thiên Nam lại lắm lời khác thường, nói không ngừng nghỉ.
“Sợ gì, phải giống đàn ông chứ. Cùng lắm ngã xuống ao thì chỉ ướt quần áo thôi.” Tôi an ủi vài câu, nhưng bản thân cũng chẳng dám lơ là. Dù nói vậy, nhưng trước cái chưa biết, trong lòng ai mà chẳng thấy sợ, tôi cũng không ngoại lệ.
Khoảng cách chỉ hơn một trượng, mà chúng tôi đi mất cả buổi lâu. Vừa sắp vượt qua đoạn đất yếu thì đột nhiên một con rắn nước từ dưới ao phóng lên, chẳng khác gì có linh tính, lao thẳng đến quấn chặt lấy chân Trần Thiên Nam.
Chúng tôi hoảng toát mồ hôi, còn Trần Thiên Nam thì hét ầm lên, liều mạng giẫm đạp. Con rắn quấn chặt không buông. Tôi vội nâng gậy trong tay đập liên tiếp vào nó. Đập đến nỗi vảy rắn bong ra mấy lớp, vậy mà nó vẫn bám chặt không thả.
“Cửu ca, mau gạt nó đi, tôi chịu không nổi nữa rồi!” Giọng Trần Thiên Nam run lạc đi, mồ hôi to như hạt đậu túa ra như măng sau mưa.
Tôi định bảo mọi người đặt tấm bia Linh Lung xuống để cùng giết rắn, nhưng nghĩ lại: đây là đất yếu, nếu đặt bia xuống mà đất sụp thì bia lăn xuống ao, đến lúc kéo lên sẽ lỡ mất giờ lành.
Chẳng còn cách nào, tôi đành vung gậy đập mạnh lần nữa. Nào ngờ gậy chưa kịp hạ, con rắn bỗng phóng thẳng sang cắn vào chân tôi.
Một cơn đau thấu tim gan truyền từ bàn chân lên, tôi hét lên một tiếng. Đang định giáng gậy xuống thì bỗng thấy con rắn nằm im bất động. Tôi dùng gậy khều thử, mới phát hiện nó chết cứng rồi.
Ngay lúc đó, Trần Thiên Nam kêu thất thanh: “Chân tôi tê cứng rồi, không cử động được nữa!” Vừa nói xong thì cả người cậu ta nghiêng ngả về phía ao.
Thấy vậy, tôi đoán chắc do bị rắn siết chặt khiến máu không lưu thông, chân mới tê dại. Nếu ngã xuống ao thì chắc chắn chết. Tôi liền nghiêng người sang, vươn tay kéo mạnh một cái, lôi cậu ta trở lại.
Bất ngờ, vai tôi nhẹ hẫng, khung đòn tuột khỏi vai, bia Linh Lung rơi “ầm” xuống đất. Tôi ngoảnh lại, thấy đất yếu không sụp, trong lòng mừng rỡ, hóa ra chỉ hoảng hốt một phen.
“Cửu ca, cảm ơn anh!” Trần Thiên Nam cười gượng.
“Khách sáo gì. Cậu cùng tôi vác bia, tôi đương nhiên phải bảo vệ cậu.” Tôi xua tay, bước sang chỗ bia định xem có ai bị bia đè trúng không.
Nào ngờ lúc này, Trần Thiên Nam lại hét: “Cửu ca, cứu mạng!” Quay đầu nhìn, hóa ra cậu ta muốn bước đi, nhưng chân vẫn không động đậy được, cả người lại trượt về phía ao.
Tôi thở dài, chụp lấy tay cậu ta. Nhưng lần này không thuận lợi như trước: nửa thân Trần Thiên Nam đã chồm ra ngoài mặt ao. Tôi dùng hết sức kéo, không những không lôi được cậu ta về, mà bản thân cũng bị kéo rơi xuống ao, “ùm” một tiếng vang lớn.
Rơi xuống rồi mới biết ao khá sâu, chân không chạm đáy. Tôi vừa quẫy vừa đạp nước, nhìn sang thì thấy Trần Thiên Nam hoàn toàn không biết bơi, suýt chết đuối. Tôi đành kẹp cổ cậu ta, gắng sức bơi vào bờ.
Trên bờ, Quách Béo thấy chúng tôi rơi xuống thì hét lớn: “Không xong rồi! Cửu ca với Thiên Nam ngã xuống ao rồi, mau cứu người!”
Nó kêu liền mấy lần, nhưng Cao Lão và bọn họ vẫn chưa phản ứng. Quách Béo quay lại nhìn, chỉ thấy chân bọn họ run lẩy bẩy, tay chỉ về phía sau chúng tôi, miệng lắp bắp: “Nước… nước… có thủy quỷ…”
Nghe vậy, tôi vội ngoái lại. Quả nhiên mặt ao chẳng biết từ lúc nào nổi lên một luồng gió dữ, xoáy trên mặt nước, khiến sóng gợn tầng tầng lớp lớp, chậm rãi trôi về phía chúng tôi.
Tôi quay đầu lại, thấy Quách Béo đang cởi quần chuẩn bị nhảy xuống, bèn quát lớn: “Quách Béo, đừng nhảy xuống! Mau đưa cái khung đòn xuống, trước tiên kéo Thiên Nam lên bờ!”
Trong lòng tôi cũng sợ, nhưng tôi tin vào khả năng bơi của mình. Lớn lên ở nông thôn, ai mà không biết bơi? Nhưng Thiên Nam thì khác, chân cậu ta tê, lại không biết bơi, nếu không có tôi đỡ thì đã chết chìm từ lâu. Trước tiên phải kéo hắn lên bờ, rồi tôi mới tính tiếp.
“Khụ khụ khụ… Cửu ca, tôi sắp chết rồi phải không?” Trần Thiên Nam sặc mấy ngụm nước, mặt trắng bệch không còn chút máu, ho khan liên hồi, yếu ớt hỏi tôi.
“Không sao, có tôi ở đây!” Trong khi đó, luồng gió càng lúc càng gần, lòng tôi càng nóng ruột. Chúng tôi lại rơi xuống khá xa bờ, mà khung đòn thì ngắn, chỉ có thể bơi gần hơn mới với tới.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 10 others
Ủng hộ thím, truyện bao nhiêu chương thế?
Reactions: MinhkhoiLC and hackem01
Ủng hộ thím, truyện bao nhiêu chương thế?
Hơn 2k thím
Reactions: Sucmanhtinhban, MinhkhoiLC, namtrinh92 and 3 others
Chương 41: Sinh tồn dưới nước
Đám Bát Tiên trên bờ sững ra một lúc rồi mới hoàn hồn, vội nhặt đá ném loạn xạ xuống ao, miệng đồng loạt mắng chửi: “Mau lấy đuốc đốt thủy quỷ đi!”
Nói cũng lạ, vừa dứt lời, luồng gió phía sau quả thật chậm lại, nhưng vẫn chầm chậm ập thẳng về phía chúng tôi.
Đúng lúc ấy, Quách Béo tháo một khúc long giá, vươn ra cho chúng tôi nắm lấy. Tôi ngẩng đầu nhìn, long giá còn cách tầm hai mét. Tôi cố sức đạp mấy cái dưới nước.
Mang theo một người, cả cơ thể tôi nặng hẳn xuống. Vừa đạp mấy nhịp, đôi chân đã mỏi nhừ, may mà khoảng cách rút ngắn được ít nhiều. Tôi lại dồn sức đạp mạnh: “Thiên Nam, mau nắm lấy long giá, tôi sắp hết sức rồi!”
“Còn anh thì sao?” Trần Thiên Nam liếc luồng gió sau lưng, hốt hoảng nói: “Nó sắp tới rồi, chúng ta cùng bám vào long giá lên bờ đi!”
“Đừng lắm lời! Thế chỉ hại cả hai chết thôi!” Tôi quát lên, cố nâng cậu ta lên, ép bàn tay cậu bám chặt lấy long giá: “Giữ thật chặt! Quách Béo, kéo đi!”
“Cửu ca, anh cũng bám lấy đi chứ!” Quách Béo trên bờ lo lắng hét.
“Mẹ nó, kéo nhanh lên!” Tôi quát lớn, giọng gắt gỏng: “Nếu mày còn do dự sẽ hại chết Thiên Nam đấy! Nhanh!”
Tôi nóng ruột đến cực điểm, bởi rõ ràng cảm nhận được luồng gió quái dị đã ngay sát sau lưng. Chỉ chần chừ giây lát nữa thôi, Thiên Nam tuyệt đối không còn đường sống.
Ai lớn lên ở nông thôn cũng biết, mặt nước bỗng nổi gió, đó chính là điềm báo thủy quỷ xuất hiện. Có người bảo là thủy hầu, có kẻ nói là quỷ chết đuối. Thực hư ra sao chẳng ai rõ, chỉ biết rằng gặp thứ đó, mười người thì chín kẻ bỏ mạng.
Tôi bơi lội giỏi có thể còn cầm cự được đôi chút, chứ Thiên Nam thì mù tịt, ở lại nước chắc chắn chết. Tôi tuyệt đối không thể để người cùng tôi dựng bia mộ gặp chuyện.
“Quách Béo, còn ngây ra làm gì! Kéo!” Nó đứng sững, không chịu kéo, tôi biết nó lo cho tôi. Nhưng tình cảnh này, cứu được một người tính một người.
Tôi mắng thêm mấy câu nữa, cuối cùng Quách Béo nghiến răng, giọng nghẹn ngào như khóc: “Cửu ca, ráng chịu đựng! Em sẽ quay lại cứu anh ngay!”
Dứt lời, nó liều mạng kéo long giá vào bờ, đám Bát Tiên cũng ùa đến phụ giúp.
Thấy Thiên Nam được lôi lên an toàn, tôi thở phào, nhưng đôi chân càng lúc càng rã rời. Vốn còn chống đỡ được, song chỗ bị rắn nước cắn lại nhức nhối, tê dại, gần như không còn chút sức nào.
Bất chợt, cả người tôi lạnh buốt. Một luồng gió quấn chặt lấy, kéo tôi dạt về giữa ao. Tôi cố vùng vẫy bơi vào bờ, nhưng luồng gió đột nhiên biến mất. Ngay sau đó, tôi rùng mình khi cảm giác có thứ gì đó siết lấy đôi chân.
Cảm giác lạnh như băng đá, năm ngón tay hiện rõ mồn một. Đúng là bàn tay người!
Toàn thân tôi nổi da gà, sợ hãi ngấm từ lỗ chân lông vào tận tủy não. Nhưng bàn tay ấy không hề buông, ngược lại càng ghì chặt, móng tay cắm sâu vào da thịt, kéo tôi tụt dần xuống nước.
Làm sao đây? Làm sao đây?
Tôi gắng sức ngoi lên, nhưng sức lực mình chẳng là gì so với bàn tay kia. Chỉ trong chớp mắt, nước đã ngập miệng, rồi tràn cả vào mũi. Tôi bị lôi tuột xuống, chỉ còn đôi tay vùng vẫy trên mặt nước.
Tôi cố mở mắt dưới làn nước, nhưng xung quanh tối đen đặc, chỉ có tiếng “òa òa” như triều cường dội bên tai.
Tôi muốn hét cầu cứu, nhưng tiếng chìm trong làn nước. Tôi đạp loạn, nhưng mỗi lần đạp chỉ trúng vào khoảng không, chẳng thấy bàn tay kia đâu, song cảm giác nó siết lấy mình là thực sự tồn tại.
Dòng nước như thủy triều ập vào mũi, miệng, mắt, tai. Nhịp thở càng lúc càng chậm, cơ thể lạnh dần. Tôi nghĩ mình sắp chết, sợ hãi tột cùng. Không biết sức lực từ đâu, tôi điên cuồng vùng vẫy, chỉ cầu sống thêm một phút, một giây cũng được.
Đúng lúc ấy, trong tai vang lên tiếng hô hoán, tiếng trống đồng rền vang. Giọng Quách Béo lớn nhất: “Mau hô đi! Mau ném đi! Mau gõ trống!”
Đột nhiên, tôi nhận ra mùi nước thay đổi, có vị khai khai của nước tiểu. Không kịp nghĩ nhiều, chỉ thấy lực kéo dưới chân yếu dần.
Ý chí cầu sinh thôi thúc, tôi lại gắng sức trồi lên. Nước quanh người dần ấm hơn. Tôi không bỏ lỡ, tay chân cùng quẫy, thân thể ngoi lên nhanh hơn.
“Ùm!” Một tiếng nước vỡ, tôi bật lên mặt hồ, tham lam hít từng ngụm không khí, ngước mắt liền thấy mặt trời đỏ rực và bầu trời xanh thẳm.
“Cửu ca, cuối cùng anh nổi lên rồi!” Tôi còn chưa kịp định thần thì đã nghe tiếng khóc của Quách Béo và Thiên Nam.
Ngước nhìn, thấy ven bờ tụ tập đông người: Quách Béo, Thiên Nam, Cao Lão, bốn Bát Tiên, ngoài ra còn có Lý Kiến Dân và anh trai ông ta là Lý Kiến Đương. Trước mặt mỗi người đều bày mấy thùng nước tiểu, đuốc cháy, trống đồng và đá hộc.
Thấy tôi, ai nấy đều nở nụ cười nhẹ nhõm. Tôi muốn bơi vào, nhưng tứ chi kiệt sức, thân thể lại nặng trĩu, từ từ chìm xuống.
“Cửu ca, anh không được bỏ em!” Quách Béo gào lên, rồi “ùm” một tiếng, nhảy thẳng xuống.
Chỉ chốc lát, tôi cảm thấy một cơ thể to lớn giữ chặt cổ mình, kéo về phía bờ. Lên được bờ, tôi nôn ọe mấy ngụm nước, cơ thể dần ấm lại, tay chân khôi phục sức lực. Chưa đầy nửa tiếng sau, tôi cơ bản hồi phục. Sau cùng, Lý Kiến Dân bưng ra một bát nước gừng nóng, tôi uống xong thì hoàn toàn bình ổn, trông chẳng khác gì trước khi ngã xuống nước.

Chương 42: Lập Huyết Bia (Thượng)
Chúng tôi nghỉ ngơi bên bờ một lúc. Trong thời gian đó, ánh mắt của Trần Thiên Nam nhìn tôi đã khác hẳn, không còn vẻ cợt nhả trước kia nữa, thay vào đó là sự nghiêm túc. Cậu ta cảm ơn tôi, còn nói muốn kết nghĩa huynh đệ. Tôi xua tay, bảo: “Làm anh em đâu cần nghi thức, quan trọng là ở đây.” Nói xong, tôi đưa tay phải vỗ lên ngực trái của mình.
Cậu ta gật đầu, suy nghĩ một chút rồi trịnh trọng nói: “Tôi nợ anh một mạng.”
Tôi chỉ cười khổ, bảo cậu ta đừng để chuyện này trong lòng, rồi quay sang cảm ơn anh em Lý Kiến Dân, lại cảm ơn Cao Lão cùng mấy người Bát Tiên. Họ vẫn còn sợ hãi, nói rằng nên cảm ơn Cao Lão mới đúng.
Tôi nhìn sang Cao Lão đầy nghi hoặc. Anh ta giải thích: “Ngày xưa nghe các cụ nói, gặp thủy quỷ thì tuyệt đối không được nhảy xuống cứu. Chỉ cần đứng trên bờ la hét, hắt phân, hay gõ chiêng trống là có thể đuổi nó đi. Không ngờ thật sự linh nghiệm.”
Cách mà Cao Lão nói, tôi cũng từng nghe qua. Thật ra đó là dùng khí trường để tạo áp lực, dọa thủy quỷ bỏ đi. Khi tôi còn dưới nước, hẳn thủy quỷ đã cảm nhận được áp lực đó nên buông tôi ra, để tôi nổi lên mặt nước.
Tôi lại cảm ơn Cao Lão một lần nữa, sau đó gọi anh em Lý Kiến Dân đi xuống cuối ao đốt ít vàng mã, coi như làm việc thiện. Họ đồng ý, nhưng trước khi đi, Lý Kiến Dân vài lần định nói điều gì, đều bị ánh mắt người anh ngăn lại. Tôi hỏi có chuyện gì không, ông ta chỉ lắc đầu rồi rời đi.
“Trần Bát Tiên, cậu thấy khỏe chưa?” họ vừa đi, Cao Lão liền hỏi.
Tôi tự nhìn lại bản thân, quần áo hơi ẩm, chân trái nhói đau một chút, ngoài ra không sao, bèn gật đầu: “Cơ bản là ổn rồi!”
Cao Lão gượng cười, dè dặt nói: “Còn hai mươi phút nữa là tới giờ lành, ta có nên khiêng bia mộ không?”
Tôi hiểu ý anh ta, một mặt lo thân thể tôi chưa hồi phục để vác nổi Linh Lung Huyết Bia, một mặt sợ lỡ giờ lành. Tôi có thể thông cảm, nên gật đầu, rồi gọi Bát Tiên: “Thời gian gấp rồi, lát nữa mọi người đi nhanh một chút. Xong việc, tôi mời đại tiệc, ăn uống thỏa thích.”
“Được lắm!” mọi người reo hò, lại luồn đòn vào dây nút sống. Vì Trần Thiên Nam bị dọa sợ chân mềm nhũn, tôi dồn lực về phía mình, để cậu ta chỉ cần kề vai vào đòn. Nếu không phải ông chủ dặn tám người phải khiêng, tôi đã cho cậu ta nghỉ.
Chúng tôi nâng Linh Lung Huyết Bia, bước gấp về nghĩa địa. Suốt đường ai nấy đều im lặng, bia rung lắc khá dữ nhưng may không xảy ra chuyện gì.
Đến nghĩa địa thì đã 1 giờ 57 phút, còn ba phút nữa là đến giờ lành. Ở đó không nhiều người, chỉ có vài thân thích của Lý Hắc Tử. Chúng tôi đặt bia lên mộ vừa đắp xong, tháo dây đòn xuống. Nhân lúc rảnh, tôi nhìn quanh, khắp nơi là những nấm mộ đất, to nhỏ khác nhau, phần lớn chưa có bia, chỉ là ụ đất trơ trọi.
Thấy tôi đứng nhìn, mặt có vẻ sốt ruột, Lang Cao bước tới hỏi: “Sao muộn thế?”
Tôi chỉ bia mộ: “Bia này hơi đặc biệt, trên đường gặp chút chuyện.”
Lang Cao nhìn theo, sắc mặt biến đổi, kinh ngạc khen: “Bia đẹp, chữ cũng đẹp! Cậu mua ở đâu thế? Hai ngàn bốn trăm tệ không thể mua được loại này đâu?”
Nghe vậy, tôi không kể chuyện ông chủ kia, chỉ đáp: “Xem như nửa mua nửa tặng.”
Anh ta nghe xong liền kéo vợ con Lý Hắc Tử tới cảm ơn tôi rối rít, còn nhét vào tay tôi bảy tám bao lì xì với một gói thuốc lá: “Thay mặt cậu tôi cảm ơn cậu, thật sự quá cảm ơn. Nếu cậu ấy ở suối vàng biết được, nhất định sẽ phù hộ cậu.”
Rồi anh ta cũng phát cho Bát Tiên mỗi người một bao lì xì, một gói thuốc, cảm ơn không ngớt.
Tôi không từ chối, lần lượt bỏ hết vào túi quần. Loại lì xì này là tục lệ trước khi hạ mộ, số lượng nhiều ít do gia chủ quyết. Họ cho tôi nhiều cái chứng tỏ tiền bên trong không nhiều, nhưng muốn tỏ lòng tôn trọng.
Cất xong, tôi lấy điện thoại xem, còn một phút nữa là đúng hai giờ. Tôi liền bảo thân quyến Lý Hắc Tử: “Phụ nữ mang thai, người tuổi Mão và tuổi Sửu phải tránh đi.”
Mọi người đưa mắt nhìn nhau nhưng chẳng ai rời khỏi. Tôi bèn hỏi Lang Cao gà trống đâu, chuẩn bị khai huyết nhập mộ. Anh ta từ bao tải bên cạnh lôi ra một con gà trống đưa tôi, rồi lấy thêm một con dao phay đặt vào tay tôi.
Cầm dao và gà, tôi bảo họ tránh xa mộ, đặc biệt phía sau không được đứng. Sau đó, tôi tay cầm dao, tay cầm gà, vái ba vái trước mộ, rồi khứa một nhát ở cổ gà, máu chảy ra.
Trước hết, tôi nhỏ bảy giọt xuống huyệt mộ, rồi cầm gà đi vòng quanh nấm mộ một vòng, lấy máu vạch thành vòng bao quanh. Đất mộ mới đắp, còn tươi, máu vừa chảy xuống đã bị hút vào đất.
Thấy vậy, tôi khựng lại. Muốn lập Huyết Bia thì nhất định phải dùng máu gà bao quanh mộ, nếu không dễ sinh dị sự. Bất đắc dĩ, tôi lại cầm gà đi thêm một vòng, cho đến khi gà chảy hết máu thì nấm mộ mới được máu bao kín.
Xong xuôi, tôi liếc nhìn huyệt mộ. Nó sâu khoảng 60 cm, dài rộng chừng 60 x 45 cm, đất bên trong được san phẳng, chỉ có một dấu vết nhỏ, không giống dấu xẻng của Bát Tiên để lại.
Tôi hỏi Lang Cao: “Đào xong huyệt có ai hay con vật nào nhảy xuống chơi không?”
Anh ta nghĩ rồi đáp: “Có, em họ tôi từng nhảy xuống nhặt đồ. Có vấn đề gì sao?”
“Tệ lắm rồi, mau gọi em họ anh lại đây!” tôi nhíu mày, quay sang Cao Lão cùng mấy người: “Đào xong sao không lấy gì che lại? Nhỡ tôi không phát hiện dấu vết này, chẳng phải hại người sao?”
Trong lòng tôi cực kỳ bực bội. Làm nghề này, không thể sơ suất một chút nào. Chỉ cần một chi tiết nhỏ cũng có thể đắc tội người chết. Như dấu vết kia chẳng hạn, trước khi nhập mộ, tuyệt đối không được để lại dấu tay hay dấu chân của người sống. Nếu lỡ để lại, sau khi hạ mộ sẽ sinh xung khắc, người chết đè người sống, khiến người đó liên tục ốm đau, bệnh tật không dứt.
Cao Lão gãi đầu: “Hôm đó đói quá, đi vội nên quên mất.”
Nếu không nể anh ta là bậc trưởng bối, tôi đã muốn mắng cho một trận. Tôi chỉ trừng mắt thật dữ.
Lúc này, Lang Cao dắt tới một cậu bé, chính là con trai Lý Hắc Tử. Không biết mẹ nó đã dặn gì, vừa thấy tôi, thằng bé ngại ngùng nở nụ cười, gọi một tiếng: “Anh ơi.”

Chương 43: Lập Huyết Bi (Trung)
Tôi vẫy tay gọi thằng bé: “Nhóc, anh dạy em chơi một trò chơi được không?”
“Trò gì vậy?” thằng bé ngây ngô hỏi.
“Em cầm ba nén hương, đi vòng quanh mộ một vòng, vừa đi vừa nói ‘Cháu không cố ý.’ Dù chân có nặng đến mấy cũng phải đi hết một vòng.” tôi vừa nói vừa châm ba nén hương, nhét vào tay nó: “Làm xong trò này, anh dẫn em ra thị trấn mua đồ chơi, được không?”
“Được, móc ngoéo nhé! Anh không được lừa em đó!” thằng bé hồn nhiên đáp.
Hai chúng tôi làm động tác móc ngoéo tượng trưng, rồi thằng bé cầm ba nén hương bắt đầu đi quanh mộ.
Nửa vòng đầu đi rất dễ dàng, nhưng đến nửa vòng sau, sắc mặt thằng bé rõ ràng thay đổi, ba nén hương trên tay cũng lờ mờ có xu hướng tắt.
“Mẹ ơi, chân con nặng quá! Con đi không nổi nữa!” đi đến cuối phần mộ, đôi chân thằng bé mềm nhũn, ngã quỵ xuống đất, giọng nức nở gọi mẹ.
Cảnh tượng ấy khiến mọi người sợ đến mức quỳ rạp xuống, vợ của Lý Hắc Tử khóc lóc thảm thiết, dập đầu xuống đất, miệng kêu: “Ông ơi, con còn nhỏ, nó không hiểu gì hết, có gì mạo phạm ông, xin ông tha thứ cho nó! Nó là đứa con duy nhất ông để lại cho tôi đó!”
Lang Cao cũng quỳ xuống, quay sang hỏi tôi: “Trần Bát Tiên, chuyện này là sao? Em họ tôi là con ruột của cậu tôi mà, sao cậu tôi lại hại nó được?”
Tôi liếc anh ta: “Người chết rồi, ý thức rất mơ hồ, chẳng phân biệt nổi ai với ai, chỉ dựa vào khí trường mà phán đoán. Ai xung phạm khí trường thì người đó gặp xui, bất kể là ai, kể cả con ruột cũng không ngoại lệ.”
“Vậy giờ phải làm sao?” Lang Cao hoảng hốt hỏi.
“Chỉ có thể xem ý của người chết. Nếu đánh thức được một phần ý thức của họ, đứa nhỏ sẽ đi trọn vòng. Không đánh thức được, thì sau này nó bệnh lớn bệnh nhỏ liên miên.” tôi giải thích rồi quay sang gọi lớn: “Bác gái, bác khóc thương tâm hơn chút, mấy người thân bên cạnh cũng khóc to lên!”
Lời tôi vừa dứt, tiếng khóc trong nghĩa trang bỗng vang lên dữ dội, át cả trời đất. Tôi nhìn thằng bé, khích lệ: “Nhóc, quỳ xuống, dập đầu với cha, nói mấy câu thường ngày ông ấy hay nói với em.”
“Hu hu… anh ơi, chân em nặng quá, nhấc không nổi!” thằng bé vừa khóc vừa làm theo, nói những lời thân thiết như thường ngày hai cha con vẫn nói.
Cùng lúc, tôi lấy ra một xấp giấy vàng, hai tay ép xoắn thành vòng tròn, chia thành hình tròn như đóa sen, rồi ném xuống giếng mộ. Sau đó tôi đốt một tờ khác làm mồi, ném tiếp vào.
Có mồi lửa, giấy vàng trong giếng mộ bùng cháy, phát ra tiếng “lách tách” quái dị, nghe như tiếng pháo. Thấy vậy tôi mừng rỡ, hét lớn: “Đứng dậy! Chạy nốt đoạn còn lại đi!”
Chiêu này thường dùng khi chôn cất, dựng bia, một số đạo sĩ gọi là “Liên Hoa Ấn”, còn chúng tôi Bát Tiên thì gọi là “đốt hoa”. Nó có tác dụng thiêu bớt sát khí trong giếng mộ và oán khí của người chết.
Thằng bé nghe tôi nói liền cắm đầu chạy, chỉ chốc lát đã chạy xong quãng đường còn lại, rồi ngã vật xuống đất, thở hổn hển.
Kỳ lạ thay, khi thằng bé chạy xong, giấy vàng cháy chậm dần, tiếng “lách tách” cũng biến mất. Lang Cao lo lắng hỏi tôi vừa rồi có làm lỡ giờ lành không. Tôi bảo: “Gà đã nhỏ máu xuống giếng mộ là nghi thức bắt đầu rồi, không tính là trễ giờ.”
Trải qua chuyện này, ai nấy đều hoảng hồn, chẳng dám nói câu nào, chỉ lặng lẽ nhìn tôi một mình đứng trên mộ.
Tôi lấy cành tre gắn tờ giấy vàng, xóa dấu ấn nhỏ trong giếng mộ, rồi đốt thêm ba cân giấy vàng xuống giếng, tiếp đó rải một ít ngũ cốc, rồi bắt một con gà trống, rạch một nhát, cho máu gà chảy từ viên ngọc trên bia huyết Linh Lung xuống.
Máu gà nhuộm đỏ mặt sau tấm bia, tôi mới bảo Bát Tiên di chuyển bia vào giếng mộ. Bốn người đứng trên ụ đất giữ bia, Quách Béo và Trần Thiên Nam chỉnh góc hai bên, còn một người đứng xa để nhìn đường thẳng cân bằng giữa bia và gò mộ.
Bia mộ phải đặt đúng chính giữa, không lệch sang bên nào. Người đứng xa phải tinh mắt. Nghe lão Vương nói, Cao Lão trước từng làm thợ mộc, mắt rất chuẩn, nên tôi giao cho anh ta.
Việc xúc đất thì cực nhọc, nhưng nhát xẻng đầu tiên phải do trưởng tử của người chết thực hiện. Khổ nỗi thằng bé sống chết không chịu lên mộ, kêu là có ma. Cuối cùng, bất đắc dĩ để Lang Cao thay thế.
Lang Cao hỏi: “Chuyện này có thể làm thay được không?”
Tôi đáp: “Theo lý thì không, nhưng bia là tiền anh bỏ ra, chắc cũng coi như hợp.”
Anh ta gật đầu, nhận lấy xẻng từ tay tôi, xúc một xẻng đất bỏ vào giếng.
Sau đó tôi tìm vài hòn đá lớn chèn quanh bia huyết Linh Lung, rồi lấy đất đào ra từ giếng lấp lại. Đất không đủ, miễn cưỡng mới giữ bia đứng vững.
‘Dịch sang trái một chút!’ Cao Lão đứng xa hét lên.
Nghe vậy, Quách Béo đẩy bia sang trái chút, hỏi: “Đúng chưa?”
Cao Lão giơ ngón cái che mắt, nheo một bên, ngắm nghía: “Đẩy quá rồi, chưa cân, dịch sang phải chút là được.”
Sau vài lần chỉnh, cuối cùng Cao Lão gật đầu: “Được rồi, vị trí vừa khít!”
Chúng tôi thay nhau đứng chỗ anh ta nhìn thử, quả nhiên chuẩn xác. Liền dùng xẻng đầm chặt đất. Nhìn kỹ thì thấy mặt giếng thấp hơn mặt bia khoảng một tấc, cần xúc thêm đất đổ vào.
Tôi hỏi vợ Lý Hắc Tử: “Ở đâu có đất pha sỏi lẫn cát tơi xốp để đào?”
Bà ta chỉ một quả đồi nhỏ cách chừng trăm mét: “Ở đó đất tơi, dựng bia thường ra đó đào.”
May mà dụng cụ đào đất từ sáng còn để lại ở nghĩa trang, chúng tôi vác đi đào. Quách Béo lười, muốn lấy đất ngay gần mộ. Tôi đá cho một cái, nó mới chịu im, ngoan ngoãn theo chúng tôi đi.
Vừa đi, nó vừa càu nhàu: “Sao không lấy ngay gần đây cho nhanh, còn bắt đi xa thế. Đào xong lại phải gánh về, chẳng khác nào cởi quần rồi mới đánh rắm, thừa thãi!”
Tôi lườm nó: “Âm phủ cũng như dương gian, mỗi ngôi mộ là một ngôi nhà. Nếu có người đào đất ngay trước cửa nhà mày, mày có thấy dễ chịu không? Nếu không sợ chết thì cứ đào đi, đêm nay bọn họ sẽ tìm mày tính sổ.”
Nghe vậy, Quách Béo rụt cổ, lí nhí: “Thôi, em còn muốn sống thêm mấy năm. Đi đồi nhỏ kia đào vậy…”

Chương 44: Dựng huyết bia (hạ)
Chúng tôi đào được khá nhiều cát đá từ gò nhỏ kia, gánh tới đổ xuống giếng mộ, dùng xẻng nện chặt. Tôi thử lắc mạnh tấm Linh Lung Huyết Bia, nó vững chãi, không hề lung lay.
Sau đó, tôi tìm một phiến đá phẳng đặt trước bia làm đá tế lễ, mổ một con gà trống, hứng máu tưới quanh đá tế và huyết bia.
Làm xong, tôi đốt ba nén hương, một cặp nến, vàng mã cùng những gậy khóc còn lại lúc hạ táng, rồi đốt trước mộ bia. Tôi hắng giọng, bắt đầu đọc “Lạc bia chú”.
“Lạc bia chú” dài chừng bảy trăm chữ, bình thường đọc nhanh thì khoảng mười phút là xong. Nhưng để dựng huyết bia, phải đọc từng chữ một, giữa các chữ còn phải ngừng một nhịp.
Đọc xong, cổ họng tôi khô rát, tu liền mấy ngụm nước. Rồi tôi đốt thêm ba nén hương, vái bia ba lần, cất giọng dài: "Gia quyến nhà Lý Hắc Tử quỳ xuống, dâng hương!"
Nghe tôi nói, họ vội quỳ gối, không dám ngẩng đầu, chờ tôi gọi tên. Đây là một nghi thức quan trọng, người ngoài thường gọi đùa là “Đòi tiền máu”.
“Đòi tiền máu” đúng nghĩa là vậy: mỗi lần thân nhân dâng hương, phải đưa kèm một phong bao đỏ. Còn tôi, mỗi lần nhận, phải dùng kim chích ngón tay, nặn một giọt máu bôi lên đỉnh bia. Hết máu thì lại chích tiếp, gặp nhà đông con cháu thì ngón tay bị đâm nhiều lần.
May mà thân quyến Lý Hắc Tử không đông, chưa đầy nửa tiếng là xong. Chỉ còn nghi lễ cuối cùng, “Khóa bia”.
“Khóa bia” na ná như “khai lộ” trong tang sự: Bát Tiên cầm nến đi trước dẫn đường, người thân bưng ba nén hương theo sau, vòng quanh mộ đủ tám mươi mốt vòng.
(Chú thích: Người dẫn đường và thân nhân đều phải bỏ giày tất, chân trần chạm đất, để người chết dễ phù hộ con cháu.)
Tôi làm đúng quy thức, đốt nến, cởi giày tất, chân trần đặt xuống đất. Giữa ngày hè nóng gắt, đất bỏng rát, vừa đặt xuống là tôi rụt ngay lại. Không còn cách nào, đành hắt ít nước xuống đất cho đỡ nóng.
Toàn bộ nghi thức diễn ra suôn sẻ, chẳng có sự cố gì. Nếu nhất định phải nói có “tai nạn”, thì chỉ là bàn chân ai nấy đều phồng rộp, giẫm xuống đất đau thấu xương. Nhưng trời nóng như vậy, cũng chẳng trách được.
Đi đủ tám mươi mốt vòng thì trời đã sẫm tối. Bát Tiên bên cạnh lấy đuốc thắp sáng mộ trường. Chúng tôi cắm nốt hương nến còn lại lên mộ. Lạ thay, vừa cắm nến xong, từ mộ toát ra một luồng mát lạnh, cả không khí xung quanh cũng dịu đi. Ngay trên nấm đất mới đắp còn mọc lên mấy mầm cỏ non, đúng là kỳ quan!
Ai nấy kinh ngạc, chỉ vào những mầm non mà reo lên: "Cỏ! Cỏ mọc rồi kìa!"
Tôi cũng thấy khó hiểu. Theo lý, nấm mộ mới đắp phải nửa năm sau mới có cỏ mọc, thế mà vừa chôn xong đã thấy mầm, lạ lùng quá. Tôi bứt một mầm lên xem: to bằng hạt gạo, đầu mầm óng ánh sắc vàng.
"Cái gì thế này?" Quách Béo chen lại, phấn khích hỏi.
"Hình như là Kim diệp thảo!" Tôi ngập ngừng đáp. Loại cỏ này hiếm khi mọc trên mộ, nhà giàu thường nuôi trồng trong nhà, rồi chuyển ra mộ tổ tiên để cầu phúc.
Lời chưa dứt, vợ Lý Hắc Tử kéo con trai quỳ sụp trước mặt tôi: "Ân nhân ơi! Trước có gì sơ suất, xin ngài đừng chấp kẻ đàn bà quê mùa này!"
Nói rồi bà ta dập đầu liên hồi, đến tóe máu. Chúng tôi phải mấy người hợp sức mới kéo bà cùng đứa nhỏ dậy.
Quách Béo thắc mắc tại sao mẹ con họ xúc động vậy. Tôi chưa kịp trả lời thì Cao Lão vỗ vai nó, cười: "Kim diệp thảo mọc trên mộ là đại cát, tượng trưng phú quý vinh hoa. Mộ Lý Hắc Tử vừa dựng bia mà cỏ vàng đã mọc, bảo sao họ không mừng phát khóc?"
"Sao lại thế nhỉ?" Trần Thiên Nam xen vào.
Cao Lão liếc bia Linh Lung, nói: "Nghĩa địa này vốn phong thủy bình thường, chôn biết bao người mà chưa từng có hiện tượng ấy. Giờ chỉ có một cách giải thích: chắc là do tấm bia kia."
"Mẹ ơi! Mau đào lên dựng vào mộ tổ nhà tôi! Sau này tôi phát tài, tha hồ bao anh em ăn chơi!" Quách Béo gào ầm, nhảy nhót.
Lập tức, thân nhân họ Lý trừng mắt như dao chém, làm nó sợ tái mặt, lùi mấy bước, lắp bắp: "Tôi… tôi đùa thôi mà."
Tôi bực quá, đá một cú vào mông nó: "Cái mồm chết tiệt, không biết ngậm lại à!"
Rồi tôi cười xin lỗi vợ Lý Hắc Tử: "Đừng nghe bạn tôi nói bậy. Một khi bia tốt đã hạ xuống, khí trường bao trùm mộ, dù có đào bia đi thì cũng chỉ là nhặt khối đá, không ảnh hưởng gì."
Nghe vậy, sắc mặt họ mới dịu lại, song ánh mắt nhìn Quách Béo vẫn hằn học. Cũng đúng thôi, cơ hội phú quý ngay trước mắt, ai dám để kẻ khác phá hoại?
Riêng Lang Cao thì vẫn bình thản, chau mày, chẳng nói gì, như thể chuyện chẳng liên quan. Nhìn dáng vẻ ấy, tôi đoán được anh ta đang nghĩ gì. Tôi đến gần, khẽ gọi: "Sở trưởng Lang."
Anh ta liếc tôi, nhạt giọng: "Ban đầu lo cho mợ và em họ tôi sau này, giờ mộ cậu tôi mọc Kim diệp thảo, chắc họ cũng được phù hộ, coi như tôi nợ cậu một ân tình."
Tôi cười: "Đó là linh hồn ông ấy phù hộ, chẳng liên quan tôi. Tôi chỉ khiêng bia đặt xuống mà thôi."
Anh ta khẽ cười: "Nói thì thế, nhưng bia là do cậu tìm. Tôi không thể làm kẻ vong ân bội nghĩa."
Tôi hiểu ngay, anh ta ngầm nhắc chuyện ở linh đường chính thất bị đánh. Tôi còn chưa kịp nói thì điện thoại anh ta reo.
Anh nghe máy, im lặng một lúc, bỗng biến sắc, thốt lên kinh ngạc: "Sao lại là hắn? Chuyện này vô lý quá!"

Chương 45: Nước lộ đá trồi
“Có chuyện gì vậy?” Tôi nghi hoặc hỏi Lang Cao, đối với chuyện nghe trong điện thoại, tôi vô cùng hiếu kỳ.
Anh ta không trả lời, sắc mặt ngày càng khó coi, cuối cùng dập máy rồi ném thẳng điện thoại xuống đất, giận dữ gào lên: “Trên đời sao lại có đứa con độc ác đến thế này!”
Một tiếng gào ấy khiến bầu không khí bỗng chốc tĩnh lặng. Mọi người đều nhìn anh ta, chờ đợi anh ta mở miệng.
Khoảng ba phút sau, tôi hỏi Lang Cao rốt cuộc có chuyện gì, anh ta hít mấy hơi sâu, rồi nói: “Kẻ thả cá dọn bể cắn xác cậu út đã tìm ra rồi.”
“Ai?” tôi hỏi.
Anh ta lại hít mấy hơi, liếc mắt về phía nấm mộ của Lý Hắc Tử, rồi đáp: “Chính là Lý Kiến Quốc, em út trong ba anh em họ Lý.”
Vừa dứt lời, nghĩa địa liền vang lên tiếng chửi rủa ầm ĩ. Đặc biệt là vợ của Lý Hắc Tử, ôm con trai quỳ gào trước mộ chồng, khóc mắng: “Lý Kiến Quốc, cái đồ trời đánh thánh vật! Nhà ta với ngươi xưa nay không oán không thù, sao ngươi lại nhẫn tâm thả cá dọn bể gặm xác ông nhà ta chứ!”
Trong lòng tôi dấy lên nghi ngờ. Nghe Lý Kiến Dân, anh hai của Lý Kiến Quốc kể, thì giữa nhà họ với Lý Hắc Tử không có thù oán lớn, chẳng đến mức người ta chết rồi mà còn làm chuyện tàn độc như thế. Lý lẽ này khó thông.
Thế là tôi hỏi Lang Cao: “Kết quả điều tra nói thế nào?”
Anh ta nghiêm mặt giải thích.
Thì ra sự thật là: ba anh em họ Lý, anh cả Lý Kiến Đương, anh hai Lý Kiến Dân, em út Lý Kiến Quốc vốn chẳng phải anh em ruột. Trong đó, Lý Kiến Quốc là đứa được nhặt về từ nhỏ.
Bình thường, Lý Họa Đạt (cha của ba anh em) đối xử với họ công bằng như nhau, không phân biệt con ruột hay con nuôi. Trong mắt người ngoài, ông còn thương Kiến Quốc hơn cả con đẻ.
Nhưng trong mắt Lý Kiến Quốc thì không phải vậy. Ông ta cho rằng mình chỉ là con nuôi, không có huyết thống, nên chắc chắn cha sẽ thiên vị hai anh ruột. Một khi đã nghĩ thế, cách nhìn mọi việc đều biến dạng. Ý niệm ấy cứ đè nén mãi, cho đến một tháng trước khi Lý Họa Đạt qua đời thì bùng phát.
Hôm đó, đang ăn cơm tối, Lý Họa Đạt dẫn hai con trai lớn về, nói là phân chia nhà cửa.
Nghe đến chuyện nhà cửa, lòng Kiến Quốc mừng thầm. Bởi chuyện nhà cửa đã làm ông ta khổ sở nhiều năm. Ngày trẻ, Lý Họa Đạt cũng là người có chút địa vị, tích góp được ít tiền, xây cho ba anh em ba căn nhà. Vì kinh tế có hạn, ba căn có lớn nhỏ khác nhau: căn thứ nhất năm phòng, căn thứ hai ba phòng, căn thứ ba chỉ hai phòng.
Ba anh em ai cũng muốn căn lớn nhất, vì thế cãi nhau nhiều năm mà chẳng ngã ngũ. Cuối cùng phải theo thứ tự kết hôn để phân. Kiến Quốc cưới muộn nhất, nên đương nhiên nhận căn nhỏ nhất.
Ban đầu ông ta cũng không thấy gì, nhưng về sau con cái ngày càng đông, sáu miệng ăn, đông nhất trong ba nhà, mà phải chui rúc trong căn bé, vợ lại thường xuyên trách móc. Lòng bất mãn ngày một lớn.
Bây giờ nghe cha nói phân lại nhà cửa, Kiến Quốc mừng rỡ, niềm nở hết mức, rót trà bưng hoa quả, miệng luôn “cha”, “anh cả”, “anh hai” ngọt xớt.
Bàn bạc xong, quyết định rút thăm. Đúng là hy vọng càng lớn, thất vọng càng nhiều, rút được que ngắn nhất, vẫn là căn nhỏ nhất.
Kiến Quốc lập tức không chịu. Ông ta cho rằng đây là mưu kế của Lý Họa Đạt, cố tình bịt miệng mình để sau này phải lo liệu ma sự cho ông. Dù gì ông cũng đã tám mươi mấy, chẳng sống được bao lâu.
Ba anh em tranh cãi, cuối cùng Lý Họa Đạt nói một câu: “Bất kể ai ở nhà to, ai ở nhà nhỏ, sau này tang lễ của ta, ba anh em đều phải chia đều chi phí.”
Chính câu này khiến Kiến Quốc tin chắc suy nghĩ của mình là đúng. Lòng bất mãn dần biến thành thù hận. Nhưng vì kiêng nể hai anh, ông ta chẳng dám bộc lộ. Cho đến khi Lý Họa Đạt chết, thù hận bùng nổ.
Đầu tiên, Kiến Quốc nhờ nhà vợ đứng ra chủ trì tang sự, muốn phá cho tang lễ rối loạn, để người chết không yên. Nhưng bị hai anh ngăn cản.
Ác tâm sinh kế khác, ông ta bày thêm kế thứ hai, nhắm vào thi thể. Ông ta nhờ bạn bè ngoài tỉnh mang về trứng cá dọn bể, rồi trong mấy ngày quàn xác ở nhà, lợi dụng lúc mọi người ngủ say, lén dùng gậy tre đặt trứng cá lên xà nhà.
Có người chắc sẽ thắc mắc, sao không bỏ thẳng vào quan tài cho nhanh? Kiến Quốc giải thích: “Dù sao ông ấy cũng nuôi tôi khôn lớn, tôi không nỡ hạ thủ. Nhưng tôi hận ông ấy, nên chỉ có thể dùng cách khác để báo thù.”
Còn việc xác Lý Hắc Tử bị cá gặm, hoàn toàn là ngoài ý muốn. Kiến Quốc nói vì sợ nhìn cha, sợ cha hiện hồn báo oán, nên không dám vào gian nhà chính, trứng cá để trên xà nhà rồi quên luôn.
Cuối cùng, ông ta gào khóc: “Cha ơi, sao cha lại đối xử với con như thế! Con kính trọng cha đâu kém gì hai anh, sao cha không cho con căn nhà lớn chứ!” Nói xong, ông ta òa khóc nức nở.
Lang Cao kể xong, lòng tôi nặng trĩu. Ở nông thôn, vì chuyện chia nhà mà xảy ra không ít bi kịch. Một ngôi nhà gạch đất chẳng đáng bao tiền, cái người ta tranh chỉ là sự coi trọng của bề trên.
Lúc đó, tôi không biết dùng từ nào tả cảm xúc mình, chỉ thấy chát đắng, cảm giác Lý Kiến Quốc ở một mức độ nào đó giống nghề bát tiên chúng tôi.
Chỉ là, chúng tôi, bát tiên biết kiềm chế cảm xúc, dù gặp đối đãi công bằng hay bất công, đều giữ đạo đức nghề nghiệp, tôn trọng người đã khuất, làm trọn lễ nghi.
Còn chuyện Lý Kiến Dân và anh cả có gian lận lúc rút thăm hay không, tôi không dám phán bừa. Dù sao đó là chuyện nhà họ, chẳng liên quan đến chúng tôi. Bát tiên chỉ có trách nhiệm với người chết, người sống thì đã có pháp luật trừng phạt.
Nghĩ tới đây, tôi bỗng thấy cả người mát lạnh dễ chịu. Vén áo lên nhìn, những mụn tà khí chẳng biết biến mất từ khi nào, chỉ còn lại mấy chấm đen li ti, chứng tỏ tôi từng bị. Về nhà tắm bằng ngải cứu, chắc sẽ hết.
Tôi sững ra hồi lâu, quay sang hỏi Lang Cao: “Ông ta sẽ bị xử bao nhiêu năm? Vợ con ông ta thì sao?”
“Bảy năm. Học phí và sinh hoạt phí của con cái, hai anh trai đồng ý gánh vác. Còn vợ ông ta, tôi sẽ xin cho bà ấy một công việc ở thị trấn để phụ thêm chi tiêu.” Giọng Lang Cao nhạt nhòa, giữa mày vương nỗi buồn.
Vì chuyện này, ai nấy đều chẳng còn hứng, vội thu dọn đồ chuẩn bị về. Khi rời nghĩa địa, tôi lại có cảm giác ai đó nhìn mình. Quay đầu, thấp thoáng thấy hai bóng người đang vẫy tay chào, giống như Lý Họa Đạt và Lý Hắc Tử. Nhìn kỹ thì nghĩa địa vắng lặng, chẳng có gì cả.
Tôi bất giác mỉm cười. Có lẽ, Lý Họa Đạt đến nghĩa địa là để xin lỗi Lý Hắc Tử. Dù gì xác của Lý Hắc Tử chịu oan, mà ông trong mơ luôn mỉm cười, có lẽ là muốn nói với Kiến Quốc rằng mình không hề oán trách.
Sau đó, tôi xoa mặt, gạt bỏ nỗi buồn. Lúc này, Quách Béo và Trần Thiên Nam bước đến, mỗi người khoác một tay lên vai tôi. Chúng tôi nhìn nhau cười, cùng ngửa mặt về phía hoàng hôn sắp lặn mà hét vang: “Bát Tiên, vạn tuế!”
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 10 others
Chương 46: Việc vặt
Tối hôm đó, mấy anh em Bát Tiên tụ tập ăn cơm ở nhà vợ của Lý Hắc Tử. Ăn xong, để tỏ lòng cảm ơn, bà ta đưa cho mỗi người một phong bao đỏ, nhưng không ai nhận.
Sau đó, tôi bảo Quách Béo đưa Trần Thiên Nam về nhà tôi nghỉ một đêm, còn những người khác thì tự về. Tiền công, tôi hẹn vài hôm nữa sẽ đưa. Dù sao cũng là một ngàn tệ mỗi người, hiện tại tôi chưa có đủ. Chỉ khi lấy được ba vạn của ông chủ kia, mới có thể phát lương cho anh em.
Mọi người đều nói không sao, cứ tiện lúc nào thì trả. Tôi áy náy, tiễn Quách Béo và Trần Thiên Nam ra tận đầu làng. Quách Béo hỏi sao tôi không về, tôi bảo còn chút việc phải giải quyết. Nó nói có chuyện gì không giải quyết được thì cứ gọi điện cho nó, rồi dắt Thiên Nam về nhà tôi.
Tiễn họ đi xong, tôi ghé qua chỗ bọn giả tiên. Trên người họ, những “mụn sát” đã biến mất. Họ cảm ơn tôi rối rít, hứa sau này sẽ không đối đầu với Bát Tiên nữa. Tôi cũng không cấm họ khiêng quan tài, chỉ dặn rằng gặp quan tài nào khiêng không nổi thì đừng cố, bằng không chẳng ai cứu nổi.
Ngay lúc đó, họ lập lời thề độc sẽ không loạn khiêng nữa. Tôi cười cười, không nói thêm gì, rồi đi về phía nhà Lý Kiến Dân.
Đứng trước cửa nhà họ Lý, tôi ngẩn ngơ rất lâu, do dự không biết có nên vào không. Bởi chính tôi phát hiện trứng của “cá dọn bể” đặt trên xà nhà, cũng tức là một tay tôi khiến Lý Kiến Quốc bị tống vào tù.
Đúng lúc ấy, Lang Cao đi tới, vỗ vai tôi: “Vào đi, có lẽ họ có chuyện muốn nói với cậu.”
Tôi gật đầu, liếc sang thấy anh ta đã thay bộ thường phục, mặc cảnh phục chỉnh tề. Tôi hiểu ngay, anh ta đến để làm việc.
Chúng tôi gõ cửa, chỉ vài giây sau cửa mở. Lý Kiến Dân ló đầu ra nhìn, rồi mời vào.
Trong nhà, mọi người ngồi rất lâu mà chẳng ai nhắc tới chuyện thực chất. Ai nấy đều lảng tránh đề tài Lý Kiến Quốc. Cuối cùng, chính Lang Cao mở lời: “Lý Kiến Dân, tôi không muốn điều tra quan hệ anh em các ông thế nào. Chỉ nhắc ông rằng, xét trên phương diện nhân đạo, ông và anh cả nên gánh vác chi phí cho con cái của Lý Kiến Quốc. Đừng giở trò mồm mép, nếu không tôi sẽ tống cả hai vào tù.”
Nghe vậy, Lý Kiến Dân thở dài: “Tôi biết các anh nghi ngờ tôi đã gian lận khi rút thăm, nhưng tôi thề, cả đời nghèo khổ, tôi chưa bao giờ tính kế anh em ruột. Còn về mấy đứa nhỏ, chúng là cháu tôi, nuôi nấng chúng là việc tôi phải làm.”
Nghe lời cam kết ấy, Lang Cao mỉm cười: “Có câu nói này, tôi yên tâm rồi.”
Sau đó, chúng tôi lại trò chuyện một lát, chủ yếu xoay quanh chuyện con cái của Lý Kiến Quốc. Tôi và Lang Cao mỗi người đưa cho Lý Kiến Dân một ngàn, bảo chuyển cho vợ Lý Kiến Quốc, coi như tạ lỗi.
Ra khỏi nhà họ Lý, đã gần nửa đêm. Lang Cao nhìn tôi chăm chú rồi nói: “Trần Bát Tiên, mọi việc xong cả rồi. Giờ phải xử lý chuyện cậu đánh người. Bên bệnh viện chẩn đoán ông ta bị thương nặng. Cậu tính sao? Chỉ cần không quá đáng, tôi sẽ giúp cậu.”
Tôi cười nhạt, không yêu cầu gì quá mức, chỉ nói sáng mai sẽ ra đồn công an tự thú. Tối nay muốn về báo bình an với cha mẹ.
Anh ta do dự rồi khuyên: “Hay cậu xin lỗi người ta đi? Tôi đứng ra hòa giải, tin rằng họ sẽ không làm khó. Thêm ít tiền bồi thường, chuyện sẽ xong.”
Tôi khoát tay, lạnh lùng đáp: “Thà ngồi tù mười năm, cũng không cúi đầu xin lỗi loại người đó.”
“Trần Bát Tiên!” Lang Cao hơi nổi giận, giọng cao hẳn: “Thương tích nặng, theo luật ít nhất một năm tù. Xem xét tình tiết bị khiêu khích trước, cậu cũng khó thoát nửa năm giam giữ. Chỉ cần xin lỗi, bồi thường, là có thể tránh tù.”
Tôi lắc đầu, không nói thêm.
Anh ta lại khuyên: “Nghe tôi một lần đi. Có phải cậu lo chuyện tiền bạc không? Tiền để tôi lo, chỉ cần cậu xin lỗi là được.”
Tôi vẫn khoát tay, nói một tiếng “Cảm ơn”, rồi đi thẳng về nhà. Anh ta gọi mấy lần, tôi không ngoảnh lại.
Đêm làng quê tĩnh mịch, ánh trăng bạc trải khắp mặt đất. Tôi không buồn ngắm cảnh, chỉ cúi đầu bước đi. Thật lòng mà nói, tôi sợ phải ngồi tù. Nhưng bảo tôi xin lỗi loại người đó, chẳng khác nào trò cười lớn.
Về đến nhà, Quách Béo và Thiên Nam đã ngủ. Cha tôi ngồi trước cửa, lặng lẽ hút thuốc. Thấy tôi về, ông nhạt giọng hỏi: “Con đánh người ở thôn Lý bị thương nặng phải không?”
Tôi vốn định bịa chuyện rồi tránh mặt nửa năm. Nhưng giờ cha đã biết, giấu giếm cũng vô ích. Tôi chỉ “Ừ” một tiếng, rồi ngồi xuống bên cha, châm thuốc hút.
“Bị phạt bao lâu?” giọng ông rất bình thản.
“Trưởng sở Lang nói nửa năm.” tôi nói thật.
“Vậy ta với mẹ con sẽ đợi con trở về.” Nói rồi, cha dụi tắt tàn thuốc, đứng dậy đi vào nhà. Đi được nửa chừng, ông dừng lại, không quay đầu: “Đừng trách thằng nhóc Béo nói ra chuyện này. Nó cũng vì tốt cho con. Con đã trưởng thành, có chuyện gì tự suy nghĩ đi. Ta không khuyên con phải xin lỗi, chỉ mong con làm người cho đàng hoàng. Lần này coi như mua một bài học.”
Nhìn bóng lưng cha, lòng tôi chua xót. Lời ông tuy bình thản, nhưng chất chứa bao lo lắng và bất lực. Tôi có chút lung lay, nhưng nhớ lại hành vi của kẻ kia, tính bướng bỉnh lại trỗi dậy.
Có người sẽ bảo tôi ngốc. Nhưng ai hiểu được nghề của chúng tôi? Một khi cúi đầu xin lỗi loại người đó, đồng nghĩa sau này cả Bát Tiên phải nghe lệnh họ. Nói theo kiểu thời thượng, đó là “luật ngầm” trong nghề.
Sáng hôm sau, cha làm một bữa sáng khá thịnh soạn rồi đi ra ngoài. Không hiểu vì sao, Trần Thiên Nam chẳng động đũa, vội vã chào tôi rồi rời đi.
Nhìn bàn ăn đầy ắp, tôi và Quách Béo không nói gì, lặng lẽ ăn xong. Tôi dặn nó ở nhà chăm sóc mẹ, đợi cha về.
Nó nhìn tôi hồi lâu, đặt tay lên vai tôi, cười hề hề: “Cửu ca, em không nói nhiều nữa. Thời gian anh vắng nhà, em sẽ chăm sóc chú dì chu đáo.”
Tôi khó hiểu trước thái độ ấy, liền đá cho nó một cái vào mông, chửi: “Lão tử sắp đi tù rồi, mày còn cười hì hì, đồ không có lương tâm!”
“Cửu ca, lên đường mạnh giỏi!” nó nghiêm mặt, nói xong còn nháy mắt với tôi.
Tôi vừa buồn vừa buồn cười, bèn một mình ra đường lớn, vẫy một chiếc xe máy chạy thẳng đến đồn công an thị trấn.
Đi ngang cửa hàng bia mộ, tôi bảo tài xế dừng, trả bảy đồng tiền xe. Lúc ấy sáng sớm, cửa hàng chưa mở. Tôi gõ mấy cái, bên trong không ai đáp, chắc chủ tiệm chưa tới. Tôi nhặt một viên đá, viết trên nền đất trước cửa ba chữ: “Bia đã lập”, rồi quay lưng đi về phía đồn công an.

Chương 47: Ăn Đòn
Đồn công an nằm ở phía tây thị trấn, cách cửa tiệm bia mộ một quãng, tôi đi chừng hai mươi phút mới tới cổng.
Nhìn tòa nhà không cao lớn trước mắt, trong lòng tôi có một cảm giác khó tả thành lời. Chỉ trong mấy ngày mà tôi đã bước vào đồn hai lần, cúi đầu lẳng lặng đi vào. Quá trình thẩm vấn vô cùng đơn giản, chỉ hỏi vài câu rồi bắt tôi ký tên. Sau đó, họ vứt tài liệu qua một bên, nhốt tôi vào một căn phòng chừng năm sáu mét vuông, nói hôm sau sẽ đưa lên huyện xử tội.
Người ta vẫn bảo: "Đừng phạm pháp, phạm pháp không còn là người." Câu này giờ tôi thấm thía sâu sắc. Cơm trưa chỉ có hai cái màn thầu với chút dưa muối, cơm tối cũng y như vậy. Nghe công an đưa cơm nói, đây còn là vì Lang Cao đã nhắn nhủ, nếu không thì còn khổ hơn nữa.
Buổi tối, Lang Cao mang ít đồ ăn tới, còn hỏi tôi có muốn đi xin lỗi hay không. Tôi lắc đầu từ chối. Anh ta khẽ lắc đầu, ngồi cùng tôi trong căn phòng uống chút rượu, rồi nói: “Trần Bát Tiên, ngày mai cậu sẽ bị đưa lên huyện xử tội. Tôi đã gọi điện qua bên đó, hy vọng họ sẽ giảm án cho cậu. Tôi chỉ có thể giúp được đến đây thôi, hơn nữa nữa thì sẽ phạm kỷ luật.”
Tôi gật đầu tỏ ý hiểu. Hai chúng tôi trò chuyện thêm một lúc, anh để lại một gói thuốc rồi rời đi. Đêm ấy tôi không biết mình đã trải qua thế nào, chỉ chập chờn ngủ được hơn một tiếng.
Sáng hôm sau, khoảng chín giờ rưỡi, Lang Cao gọi tôi dậy, bảo có thể đi rồi. Tôi tưởng mình nghe nhầm, hỏi lại: “Tôi… có thể đi sao?”
Anh ta gật đầu: “Có lệnh từ cấp trên gọi xuống, cậu vô tội!”
Tôi sững người. Ngày hôm đó tôi đánh người ta trọng thương ngay giữa phòng khách, bao nhiêu người nhìn thấy, sao giờ lại thành vô tội? Tôi liền hỏi: “Sở trưởng Lang, có phải anh nhờ quan hệ không?”
Anh ta nói: “Tôi không có năng lực ấy. Chắc bạn cậu đã nhờ người giúp.”
Nghe thế, ý nghĩ đầu tiên trong đầu tôi là Quách Béo đã đi tìm quan hệ. Nhưng tôi biết rõ gia cảnh của Quách Béo, bố mẹ nó làm trong ngân hàng, chắc cũng chẳng giúp gì được trong chuyện ở đồn công an.
Tôi lần lượt nghĩ đến tất cả bạn bè, cuối cùng đoán chắc là Trần Thiên Nam. Có lẽ chỉ cậu ta mới có khả năng ấy, dù gì đôi khuyên tai gắn kim cương kia cũng không phải người thường đeo nổi.
Tôi không phải kẻ cứng nhắc. Đã có người nhờ quan hệ đưa tôi ra ngoài thì tôi không ngu gì mà khăng khăng đòi ngồi tù, nên đi theo Lang Cao ra khỏi đồn. Lúc chia tay, anh ta nhìn tôi một lượt rồi nói: “Trần Bát Tiên, tôi đã xem thường cậu.”
Nói xong, sắc mặt nghiêm nghị bước vào trong.
Tôi khẽ cười khổ. Gã này đúng là kỳ quặc. Hôm qua thì bảo tôi xin lỗi để khỏi ngồi tù, còn muốn thay tôi bồi thường. Giờ tôi không cần ngồi tù nữa, ngược lại anh ta lại không vui.
Ra khỏi đồn, không khí bên ngoài đặc biệt tươi mới. Dù chỉ ở trong đó một đêm, với tôi đã như cách cả một đời. Tôi vừa đi được vài bước thì thấy Quách Béo cầm một phần bữa sáng, đứng đó cười toe toét nhìn tôi.
“Cửu ca, Cửu ca, bên này nè.” Nó vừa vẫy tay vừa lắc lắc túi đồ ăn.
Tôi cười đi lại, hỏi: “Có phải Trần Thiên Nam nhờ quan hệ không?”
Nó gật đầu, ánh mắt hơi u sầu: “Hôm đó đưa Thiên ca tới nhà anh, trên đường cậu ta hỏi vài chuyện về anh, rồi nói sẽ về thành phố tìm người giúp.”
“Tới bao giờ cậu ta quay lại? Tôi phải cảm ơn cậu ấy một trận, nếu không lần này chắc chắn phải ngồi tù, còn để bọn Bát Tiên kia chê cười.” Tôi cười hỏi.
“Có thể ngày mai, cũng có thể sang năm!” Nó liếc tôi một cái.
“Sao lại thế?” Tôi hơi khó hiểu.
“Một lời khó nói, khi nào anh gặp Thiên ca sẽ rõ.” Nói rồi, Quách Béo khoác tay lên vai tôi, cười hỏi: “Cửu ca, ngồi tù thấy thế nào?”
Thấy nó cười toe toét, lửa giận trong tôi bốc lên. Rõ ràng nó biết trước chuyện này mà không nói, để tôi lo lắng cả đêm. Nghĩ đến đó, tôi giơ chân đá một phát vào mông nó.
Hai đứa vừa đi vừa trò chuyện, tâm trạng cũng khá thoải mái. Nhưng đúng lúc ấy, mấy người từ bên cạnh bước tới. Đi đầu chính là gã Bát Tiên của Tiệm Thiên Đường, đầu quấn băng trắng. Mấy người đi cùng trông lạ mặt, dáng vẻ chẳng phải người tốt.
Tôi lập tức nổi nóng, hét lớn: “Quách Béo, chạy mau!”
Quách Béo còn chưa kịp phản ứng thì gã Bát Tiên kia rút ra một con dao sáng loáng. Lưỡi dao phản chiếu ánh nắng chói mắt.
Tôi vội vàng đẩy Quách Béo ra, con dao chém ngang lưng tôi, rạch một vết dài, đau rát bỏng sau lưng.
Thấy vậy, Quách Béo chửi lớn: “Con mẹ mày, dám chém Cửu ca!”
Nó lao tới, đấm thẳng vào mặt gã kia, mấy cái răng cửa văng xuống đất, rồi tung thêm một cú đá thẳng vào hạ bộ.
“Đánh! Đập chết thằng béo này cho ta!” gã Bát Tiên gầm lên.
Tôi còn chưa kịp phản ứng thì một người khác đã lao tới từ sau lưng Quách Béo, vung dao chém xuống đầu nó. Máu chảy xối xả từ trán nó xuống. Mấy kẻ xung quanh cũng ùa vào, vung quyền cước đánh tới tấp.
“Đm!” Tôi như phát điên, liều mạng lao vào. Người dân xung quanh chỉ đứng nhìn lạnh lùng, chẳng ai dám xông vào.
Tôi lao tới, ôm đầu Quách Béo che chắn dưới thân mình, mặc cho mưa đòn giáng xuống người. Đánh chừng ba bốn phút, không biết ai hô lên: "Công an tới!" Đám kia liền bỏ chạy. Tên Bát Tiên cầm đầu vừa chạy vừa quay lại chửi: “Cướp việc làm ăn của ta, đây là kết cục!”
Tôi gạt thân ra, nhìn Quách Béo. Nó máu me đầy mình, như một người nhuộm đỏ toàn thân. Tôi quỳ sụp xuống: “Quách Béo, Quách Béo!”
Nó nở nụ cười yếu ớt: “Cửu ca, em cũng là Bát Tiên, lần này không làm anh mất mặt, còn đánh được thằng chó đó cho anh.”
Vừa nói, nó vừa lấy trong túi ra một cái ví: “Trong thẻ này, bố em chuyển mười nghìn. Anh nhớ mang thím đi khám bệnh. Mật mã là sinh nhật em.”
Nó cười nhạt, máu nhuộm đỏ ví tiền và cả người tôi: “Sau khi tôi chết, anh nhớ tìm cho em bia mộ thật đẹp! Phải đẹp hơn của Lý Hắc Tử. Em sẽ ở trên trời phù hộ cho anh và Thiên ca…”
“Không, mày sẽ không sao!” Tôi vội lấy tay đè lên vết thương trên đầu nó. Vết chém dài ít nhất năm sáu phân, máu tuôn không ngừng.
Quách Béo lắc đầu, vẫn cố nhét ví vào tay tôi: “Cửu ca, từ khi anh bước chân vào nghề Bát Tiên, em thấy anh không còn như trước nữa…”
Tôi hét lên, nắm chặt tay nó: “Đưa đi bệnh viện! Có ai giúp một tay đi!”
Nhưng xung quanh toàn là những ánh mắt lạnh lẽo, chẳng ai dám bước tới. Tôi gào lên như điên: “Con mẹ chúng mày, một lũ súc sinh!”
Quách Béo nắm chặt tay tôi, thều thào: “Cửu… ca… Bát Tiên… không nhờ ai hết…”
Giọng nó yếu ớt dần.
“Aaa!!! Một lũ súc sinh!!!” Tôi gào rống điên cuồng, kéo thân hình nặng trĩu của nó nhưng không nhúc nhích nổi.
“Cửu… ca… em… lạnh quá…”
Nó run rẩy tìm kiếm, rồi nắm chặt lấy tay tôi: “Cửu ca… anh mãi mãi là anh của em…”
Người ta vẫn nói: nam nhi có nước mắt nhưng không dễ rơi. Lúc này, tôi không thể kìm được nữa, nước mắt ào ạt trào ra.
Rất nhanh sau đó, hơn chục công an chạy tới, dẫn đầu là Lang Cao.
“Trần Bát Tiên! Quách Béo!” Anh hét một tiếng, lao tới nhìn thấy cảnh ấy, vội vàng gọi người đưa chúng tôi vào viện.
Vừa tới nơi, Quách Béo lập tức được đưa vào phòng cấp cứu. Tôi mệt mỏi ngồi sụp trước cửa, nhìn gương bên cạnh: trong gương là tôi với khuôn mặt đầm đìa máu, khắp người chẳng rõ là máu của ai.
Tựa lưng một lát, đầu óc tôi choáng váng. Ngay sau đó, tôi ngã gục xuống đất, không biết gì nữa.

Chương 48: Lưu Khải
Tôi không biết mình đã hôn mê bao lâu, đầu vẫn còn đau nhức. Khi mở mắt ra, máu me trên người đã được lau sạch, trên mu bàn tay còn đang truyền dịch. Tôi đứng dậy nhìn quanh, trong phòng không có ai. Thuận tay rút kim truyền ra, rồi kéo cửa phòng bệnh. Ngoài cửa đứng đầy người, tôi vừa liếc một cái đã thấy lão Vương, Lang Cao, cùng cha mẹ của Quách Béo. Họ nhìn thấy tôi thì đều ngẩn người.
Tôi không để ý ánh mắt của bọn họ, bước đến cạnh phòng cấp cứu. Đèn đỏ cấp cứu trên cửa vẫn đang nhấp nháy, hai chân tôi mềm nhũn, ngồi phịch xuống đất.
Lúc này, lão Vương đi tới đỡ tôi dậy, nói: “Tiểu Cửu à, chuyện này không trách cậu được. Là cái thằng khốn Lưu Khải đó, dựa vào việc Thủy Vân chân nhân là anh rể hắn mà mấy năm nay làm loạn trong giới bát tiên, gặp ai không vừa mắt thì đánh, không ít bát tiên đã chịu khổ dưới tay hắn.”
Không hiểu sao trong lòng tôi uất ức vô cùng, nước mắt tự động chảy xuống. Trong đầu toàn hiện lên hình ảnh Quách Béo mình đầy máu, vẫn cười mà nói với tôi: “Cửu ca, em cũng là bát tiên, lần này em không làm anh mất mặt, thay anh dần cho thằng chó đó một trận.”
“Cửu ca, em sẽ ở trên trời phù hộ cho anh với Thiên ca.”
“Cửu ca, bát tiên của chúng ta không nhờ vả ai hết.”
“Cửu ca, anh là Cửu ca cả đời của em.”
Tim tôi đau như dao cắt, vùng khỏi cánh tay lão Vương rồi lao thẳng ra ngoài bệnh viện, định báo thù cho Quách Béo.
“Tiểu Cửu, chuyện này chú không trách con. Tiểu Quách đã là người trưởng thành, nó chọn đi cùng con làm bát tiên, gặp chuyện gì cũng là số mệnh của nó.” cha Quách Béo đặt tay lên vai tôi.
“Chú ơi!” Tôi quỳ xuống, vừa khóc vừa nói: “Tất cả đều tại con, là con đánh bát tiên kia nên mới liên lụy đến Quách Béo.”
“Nhịn đi, đàn ông con trai khóc lóc như vậy ra gì nữa. Con thế này thì chú sao yên tâm mà giao Tiểu Quách cho con được.” ông kéo tôi dậy, vỗ mạnh vào vai tôi.
“Công an đã đi bắt bọn Lưu Khải rồi. Nếu cậu tự ý đi trả thù thì sẽ phạm pháp, kết quả chờ cậu chỉ có nhà tù.” Lang Cao mặt lạnh nhắc nhở.
“Đúng đó, Tiểu Cửu. Bác sĩ nói nếu không phải con che đầu cho nó, giờ này Tiểu Quách đã chết rồi. Nói ra thì chú còn phải cảm ơn con.” cha Quách Béo tiếp lời an ủi.
Nghe vậy, lòng tôi càng thêm khó chịu, đôi mắt vô hồn nhìn chằm chằm vào đèn cấp cứu. Sau 5–6 tiếng dài dằng dặc, Quách Béo được đẩy ra ngoài, toàn thân gần như bọc kín băng gạc.
Nhìn bộ dạng của nó, nước mắt tôi lại trào ra, chưa kịp mở miệng thì y tá giơ tay ngăn: “Bệnh nhân tạm thời đã qua cơn nguy kịch, đừng quấy rầy anh ấy nghỉ ngơi.” Rồi đẩy Quách Béo vào phòng hồi sức đặc biệt, cấm ai vào.
Nghe vậy, chúng tôi đồng loạt thở phào. Dù chỉ tạm qua nguy hiểm, nhưng so với lúc chờ đợi lo lắng vừa rồi thì tốt hơn nhiều. Không lâu sau, cha Quách Béo cau mày cùng Lang Cao rời đi, mẹ Quách Béo ngồi ngoài phòng bệnh canh chừng. Tôi được lão Vương dìu về phòng.
Trong phòng, tôi hỏi lão Vương về Lưu Khải. Ông nói: hắn là đầu lĩnh một nhóm bát tiên khác, đối đầu với lão Vương đã lâu, thường xuyên va chạm trong chuyện khiêng quan tài. May là gương mặt lão Vương dữ dằn, miễn cưỡng còn trấn áp được chút, nhưng vẫn thường chịu thiệt thòi.
Lưu Khải dám ngang ngược như vậy, dựa vào duy nhất anh rể hắn, Thủy Vân chân nhân. Người này chính là đạo sĩ hôm đó trong nhà ngang đã đánh tôi. Nghe nói ông ta có quan hệ rộng trong giới đạo sĩ, hễ trong vòng trăm dặm có đám tang là sẽ đến, nhờ vậy kiếm bộn tiền, lại nuôi một đám tay chân để thâu tóm việc tang ma quanh vùng.
Nói đến đây, lão Vương tức giận đập mạnh vào tủ đầu giường: “Càng ngày càng không ra gì! Nghề nào cũng độc quyền, giờ đến tang lễ mà cũng độc quyền! Nếu chúng ta đồng ý nhập bọn, sau này đám tang giá bao nhiêu đều do họ quyết, coi thường phong tục tập quán, chỉ chăm chăm tiền bạc, thật đáng giận!”
Nghe vậy, tôi mới hiểu nguyên do. Thì ra tôi với Quách Béo bị đánh thê thảm cũng vì đụng chạm lợi ích của chúng. Tôi bèn hỏi: “Bên mình có bao nhiêu người dám chống lại bọn chúng?”
“Bát tiên bên ta có sáu, trung lập hai ba. Bên hắn hơn mười, đạo sĩ thì có một người giữ trung lập, nhưng thường ngả về phe Lưu Khải. Xã hội bây giờ thực tế lắm, cái gì cũng tiền nói là xong.” lão Vương ngồi xuống cạnh tôi, đưa tôi một điếu thuốc, áy náy nói: “Ban đầu thấy cậu biết đọc Kinh Lục Đinh Lục Giáp, chúng tôi mới định đẩy cậu ra làm đầu lĩnh, tranh giành với họ. Không ngờ ngay tang sự đầu tiên đã xảy ra lắm chuyện thế này.”
Ông dừng một chút rồi cười: “Nhưng nhờ tang sự lần này, danh tiếng cậu ở vùng Ấu Tử thôn vang xa rồi. Ai cũng biết ở đây xuất hiện một Trần Bát Tiên, tuổi trẻ mà làm tang giỏi, khiêng quan tài tốt, hiểu biết nhiều, làm việc có trách nhiệm, lại còn trông cũng bảnh bao. Người ta đều nói sau này có tang sự gì đều tìm cậu. Giờ cậu thành bạn của các bà các cô rồi, quả phụ Lưu còn mấy lần tìm đến nhà cậu.”
Nói xong, lão Vương bật cười ha hả: “Ha ha ha, quả phụ Lưu đến tìm cậu, làm cha cậu tức đỏ cả mặt, vác chổi đuổi ra ngoài mắng om sòm. Nghĩ đến thôi mà buồn cười quá, ha ha ha!”
Nghĩ đến mặt mũi quả phụ Lưu, tôi liền buồn nôn, chẳng thèm để ý lão Vương bên cạnh, “ọe” một tiếng nôn ra, khiến ông ta cười rũ rượi.
Sau đó tôi lại hỏi thăm tình hình cha mẹ. Lão Vương nói cha tôi nghe tin tôi không phải đi tù thì mừng lắm, còn tặng ông một chai rượu trắng cảm ơn. May mà ông không kể chuyện tôi bị đánh, cũng coi như bất hạnh trong may mắn.
Chúng tôi nói chuyện thêm một lúc, tôi nhờ lão Vương qua tiệm bia mộ lấy ba vạn đồng, tôi còn nợ tiền công của bát tiên, cứ thấy áy náy. Lão gật đầu rồi đi.
Chẳng bao lâu sau, ông trở lại, cười hí hửng ngồi xuống cạnh tôi, lấy ba vạn đưa vào tay tôi: “Tiểu Cửu à, không ngờ cậu lại quen được thần tiên sống. Sau này chúng ta càng có chỗ dựa rồi.”
Tôi biết lão Vương hiếm khi khen ai, bình thường đánh giá tôi chỉ bằng một chữ “được”. Thế mà ông lại khen lão chủ tiệm thành “thần tiên sống”, bèn hỏi: “Ông chủ đó rốt cuộc là người thế nào?”
Lão Vương cười thần bí: “Ông ta đến thị trấn mình mới chừng một năm. Tôi từng mua bia mộ ở tiệm ông ta, may mắn uống vài chén trà cùng, mới biết ông là người Khúc Dương, Bảo Định, Hà Bắc, tên là Tưởng Thiên Sinh, thuộc dòng Hoàng Thạch Công. Ông ấy tinh thông điêu khắc đá, thư pháp, phong thủy. Ban đầu chẳng mấy ai biết tiếng, đến đầu xuân năm nay có một quan to từ Bắc Kinh xuống đặt bia mộ mà bị ông từ chối. Từ đó mới nổi danh. Người trong trấn rất kính nể ông ta, đến cả Thủy Vân chân nhân gặp cũng phải khom lưng gọi một tiếng Tưởng gia.”

Chương 49: Tương Ngộ
Tôi nghe lão Vương kể, trong lòng cũng sinh ra mấy phần tò mò về vị Tưởng gia này. Đến quan kinh thành mà ông ta còn dám từ chối, như vậy thì bất kể là thân phận hay bối cảnh chắc chắn không phải người thường có thể so bì. Nhưng vấn đề là, một nhân vật ngông nghênh như thế sao lại đến cái thị trấn nhỏ bé này của chúng tôi? Tôi đem nghi hoặc trong lòng nói với lão Vương.
Ông ta kích động đến mức tay run run, móc trong túi ra một phong thư giấy vàng, nói với vẻ phấn khích: “Đáp án có lẽ nằm trong này.”
Tôi tràn đầy nghi hoặc: “Đây là cái gì thế?”
“Lần đến tiệm bia mộ, Tưởng gia đi công chuyện nơi khác, nhân viên của ông ấy đưa tôi ba vạn đồng cùng phong thư này, nhờ chuyển lại cho cậu.” Lão Vương trao phong thư vàng cho tôi.
Tôi nhận lấy, thấy bên ngoài viết mấy chữ “Trần Bát Tiên thân khải”, nhìn nét chữ thì chắc chắn là bút tích của Tưởng gia. Tôi mở thư ra, bên trong chỉ là một tờ giấy thường, nội dung rất ngắn:
Chúc mừng cậu đã vượt qua khảo nghiệm.
Mùa xuân năm sau, hãy đến Khúc Dương tìm tôi.
Nếu gặp chuyện không thể giải quyết, hãy đến tiệm bia mộ tìm A Đại và mấy huynh đệ của hắn, có lẽ lúc tâm trạng tốt họ sẽ giúp cậu.
“Thế nào? Thế nào? Trong thư viết gì thế?” Lão Vương ở bên cạnh hỏi dồn, giọng nói run run.
Tôi hiểu vì sao ông ta lại kích động như vậy. Ông ta hy vọng tôi có thể bám được vào đại thụ là Tưởng gia, từ đó kiềm chế Lưu Khải cùng đám đạo sĩ của Thủy Vân chân nhân. Thế nhưng, nội dung trong thư lại mơ hồ. Như câu “chúc mừng ngươi vượt qua khảo nghiệm” chẳng hạn, nghe thì giống như thầy muốn thu đồ đệ, nhưng cũng có thể hiểu đơn giản là chúc mừng tôi đã qua thử thách và lấy được ba vạn đồng kia.
Rốt cuộc Tưởng gia ám chỉ ý cái gì, tôi cũng không dám chắc. Dù vậy, nếu thật sự có thể bái ông ta làm thầy thì đúng là may mắn tột cùng. Nhưng nghĩ lại, tôi chỉ là một kẻ khiêng quan tài nhỏ nhoi, còn ông ta là nhân vật lớn đến cả quan kinh thành cũng dám từ chối, khoảng cách giữa hai người khác biệt quá xa. Tôi đâu có ngốc đến mức tin mấy cái gọi là “người có duyên”. Xã hội này vốn dĩ rất thực tế, rất tàn khốc, nếu không có đủ lợi ích, thì chẳng thể nào bái được một vị sư phụ kiêu ngạo như thế.
Ngày còn đi học, tôi từng mơ tưởng được bái cao tăng Thiếu Lâm làm thầy, học được một thân võ nghệ tuyệt thế, từ đó mang kiếm đi khắp thiên hạ, hành hiệp trượng nghĩa. Nhưng tàn khốc thay, cao tăng chỉ chìa tay ra: “Ba vạn học phí, không có tiền thì mời rẽ trái ra cửa.”
Tôi đem những phân tích ấy nói với lão Vương. Ông ta thoáng buồn, thở dài một hơi: “Có được mối quan hệ này, vẫn hơn là không có! Chỉ cần chúng ta làm đủ tốt, tôi tin sau này ‘làm ăn’ nhất định sẽ khấm khá lên.”
Nhìn dáng vẻ ấy của ông ta, tôi cũng chẳng nói thêm gì, lấy ra mấy ngàn nhờ lão Vương trả lương cho đám Bát Tiên, lại gửi cho cha mẹ một vạn, còn bản thân giữ lại hơn một vạn phòng thân. Dù sao chi phí thuốc men lần này chắc chắn không phải con số nhỏ.
Chờ lão Vương rời đi, tôi ghé qua phòng bệnh của Quách Béo. Nó vẫn lặng lẽ nằm đó. Tôi cùng mẹ nó trò chuyện vài câu chuyện vặt, rồi dúi vào tay bà một ngàn, nói: “Bác ạ, đây là tháng lương đầu tiên của Quách Diệu Tổ.”
Đến giờ tôi vẫn còn nhớ rõ vẻ mặt của bà lúc ấy. Ban đầu là ngẩn ra, rồi nước mắt tuôn xuống, nắm chặt lấy một ngàn ấy như sợ nó bay mất, miệng cứ lặp đi lặp lại: “Con trai tôi lớn rồi, nó biết kiếm tiền rồi, không còn là thằng béo vô công rỗi nghề nữa.”
Số tiền ấy đối với gia đình Quách Béo có thể nói chẳng thấm tháp gì, nhưng đối với một người mẹ, đó lại là món quà quý giá nhất. Nó không chỉ là tiền, mà còn là hy vọng. Thử hỏi, có bậc cha mẹ nào mà không mong con mình thành đạt?
Nói thật lòng, tôi hơi hối hận khi kéo Quách Béo vào cái nghề Bát Tiên chẳng thấy tương lai này. Tôi sợ làm tổn thương một tấm lòng của người mẹ, sợ hủy đi cuộc đời của nó. Bởi ngay cả bản thân tôi cũng chẳng nhìn thấy nghề khiêng quan tài có tiền đồ gì.
An ủi bà vài câu, tôi trở lại phòng bệnh một mình, ngẩng nhìn trần nhà trắng xóa, trong lòng toàn vị đắng chát. Tôi không hối hận khi bước chân vào nghề Bát Tiên, cái tôi hối hận là nhìn thấy trong Bát Tiên có quá nhiều kẻ bị lợi ích che mờ.
Trong phút chốc, tôi cảm thấy mịt mờ, chẳng biết con đường sau này phải đi thế nào. Có lúc, số phận vốn thích trêu ngươi như vậy. Ngay lúc ấy, tôi gặp được người quan trọng nhất trong đời mình.
Tôi nằm trên giường bệnh chợp mắt một lát, mơ mơ hồ hồ ngủ thiếp đi. Đến khi tỉnh lại, trời đã tối đen. Ngoài phòng bệnh vang lên tiếng ồn ào náo loạn. Tôi bước ra nhìn, thấy rất nhiều người chen chúc trước phòng bệnh đối diện, bác sĩ có, đạo sĩ có, hòa thượng cũng có, thậm chí cả ăn mày cũng có. Nhưng điều khiến tôi chú ý lại là một cặp bà cháu đứng ngoài cùng.
Người bà là một cụ bà hơn tám mươi tuổi, nhìn cách ăn mặc thì hẳn là người dân tộc Miêu. Khuôn mặt đầy nếp nhăn, ánh mắt sâu thẳm khác thường, lưng còng đến mức khó tin. Nếu dùng thơ để miêu tả thì là:
“Miệng ngang ngực, tai chạm vai,
Ngẩng đầu khó thấy mặt trời,
Nghiêng mình mới thấy trời xanh,
Nằm như chữ Tâm khuyết ba chấm,
Đứng như cung cong thiếu một dây,
Chết rồi quan quách chẳng cần,
Chỉ một cái giỏ là dài lâu yên nghỉ.”
Bên cạnh bà là một thiếu nữ chừng mười tám mười chín tuổi, cao khoảng mét sáu bảy, da trắng như tuyết lại ửng hồng, đôi mắt phảng phất màu xanh lục nhạt trong veo như hồ nước biếc, khiến người nhìn sinh lòng thương mến. Đôi môi hồng chúm chím, nụ cười như hoa, mái tóc dài ngang lưng tự nhiên buông xõa sau lưng. So với hoa khôi thời đi học, cô gái này còn nhỉnh hơn vài phần.
Tôi hơi ngẩn ra, không kìm được thốt lên một câu: “Đẹp quá…”
Không biết là do tôi nói hơi to hay thế nào, cô ấy như nghe thấy, quay đầu liếc tôi một cái, khẽ mỉm cười, mang lại cho người ta cảm giác như gió xuân thổi tới.
Nhưng, câu tiếp theo của cô ấy khiến thiện cảm của tôi tụt dốc thẳng đứng: “Con mẹ anh, nhìn cái gì mà nhìn? Chưa thấy cô gái xinh đẹp bao giờ hả?”
Mắng xong, còn cố tình lườm tôi đầy khiêu khích. Tôi nghẹn họng: Đây là tôi trêu vào ai thế này? Tôi nhạt giọng đáp lại: “Mắt mọc trên người tôi, tôi thích nhìn đâu là quyền của tôi.”
Nói xong, tôi không thèm để ý đến cô nữa. Dù xấu hay đẹp, tôi vẫn cho rằng tâm hồn đẹp mới là quan trọng. Mà loại con gái này, vừa nhìn đã biết ỷ vào nhan sắc, ngang ngược kiêu căng.
“Hứ! Đồ lưu manh, dám nhìn bà đây lại còn cứng miệng! Tôi, Kiều Y Tư, sẽ không tha cho anh!” Cô gái kia vẫn tiếp tục chửi om sòm.
Thật phí cho cái tên nghe hay như Kiều Y Tư. Tôi liếc cô ta một cái, rồi quay sang định tìm người hỏi xem trong phòng bệnh kia xảy ra chuyện gì. Thấy tôi không để ý, cô ta vẫn chửi thêm mấy câu, mãi mới bị bà cụ bên cạnh ngăn lại.
Đúng lúc ấy, một y tá đi tới. Tôi liếc bảng tên trước ngực cô ấy, viết: “Trương Viện Viện”. Tôi chặn lại hỏi: “Xin hỏi, trong phòng bệnh kia có chuyện gì mà nhiều người vây quanh thế?”
“Anh không biết à?” Trương Viện Viện ngạc nhiên nhìn tôi, ánh mắt giống như nhìn kẻ ngốc vậy. Tôi gật đầu, nói mình không biết.

Chương 50: Cổ sư (Thượng)
“Cậu thật sự không biết sao?” Trương Viện Viện sững người, liếc nhìn tôi từ đầu đến chân, ánh mắt trở nên rất kỳ lạ.
“Chị à, em thật sự không biết mà.” Tôi say đến choáng váng, sao phụ nữ đều vô lý thế không biết.
Cô ấy định mở miệng, có vẻ còn muốn hỏi nữa, tôi sắp khóc luôn: “Chị à, em thật sự, thật sự không biết gì cả.”
“Được rồi, xem ra cậu đúng là không biết thật.” Trương Viện Viện áy náy cười, rồi kể cho tôi nghe tình hình.
Cô ấy nói, bệnh nhân trong phòng đối diện tên là Vương Khiết, sinh viên năm nhất đại học, trông không khác gì sinh viên bình thường, chỉ có một điểm cực kỳ kỳ lạ, hiếm thấy trên đời: không có mạch đập, không có nhịp tim, nhưng lại có thể nói chuyện, ăn uống, chỉ là tứ chi không thể cử động.
“Mẹ ơi, không phải chứ! Không có mạch, không có tim mà còn sống được sao?” Nghe xong tôi không nhịn được thốt ra một câu thô tục. Việc này không chỉ hiếm thấy, mà còn là chuyện lạ kỳ hi hữu trên thế gian.
Cô ấy lườm tôi một cái rồi nói: “Theo góc nhìn của bệnh viện, phán đoán một người chết hay chưa chủ yếu dựa vào tim có đập không. Nhưng cô gái đó không chỉ không chết, mà còn sống khá tốt. Rất nhiều bác sĩ trong viện đã xem qua, ai cũng nói cô ấy là người chết.”
“Tại sao cô ấy lại xuất hiện trong bệnh viện này?” Tôi hỏi.
“Chuyện này xảy ra nửa tháng trước. Cô gái đó đang học thể dục ở trường thì dường như vận động quá sức, đột nhiên ngất đi, sau đó tứ chi liệt hẳn. Bố mẹ cô ấy đưa đi khắp các bệnh viện lớn trong thành phố, kết quả đều như nhau, ai cũng bảo cô ấy là người chết. Cuối cùng tiền cũng tiêu gần hết, đành đưa về quê, nhưng nào nỡ nhìn con chết ngay trước mắt? Thế là lại đưa cô ấy đến bệnh viện chúng tôi, coi như… chờ chết.” Nói đến đây, Trương Viện Viện liếc nhìn về phía căn phòng bệnh kia: “Nghe tin bệnh viện tôi có người như vậy, ngày nào cũng có vô số người kéo đến. Cuối cùng bệnh viện không chịu nổi, đành cấm người ta vào ban ngày, chỉ cho vào từ tám giờ đến chín giờ tối.”
Tôi nhìn theo ánh mắt cô ấy, cửa phòng bệnh chật kín người chen chúc, chẳng nhìn rõ bên trong thế nào. Tôi lấy điện thoại ra xem, vừa đúng tám giờ bảy phút. Bảo sao lúc trước không có ai. Tôi chỉ vào đám hòa thượng, đạo sĩ kia hỏi: “Thế còn mấy hòa thượng, đạo sĩ này là sao?”
“Haizz…” Trương Viện Viện thở dài: “Cha mẹ thương con thôi. Thấy bác sĩ bó tay, họ mời đạo sĩ, hòa thượng đến xem. Nước bùa uống không ít, pháp sự làm cũng nhiều, chẳng có hiệu quả gì. Ai cũng nói cô gái đó không có sinh mệnh tuyến, lẽ ra vừa sinh ra đã chết rồi. Không biết sao lại sống tới giờ. Nếu không vì thương cha mẹ cô ấy, bệnh viện đã chẳng cho mấy hòa thượng, đạo sĩ này vào, cũng không để người ta lợi dụng chen vào khiến bệnh viện loạn như cái chợ thế này.”
“Có phải bị ma ám không?” Tôi rụt rè hỏi, vừa thốt ra đã hối hận. Ở bệnh viện mà nói chuyện ma quỷ, khác nào tự tìm mắng.
Quả nhiên, mặt cô ấy lập tức nghiêm lại, cau mày nói: “Cậu bị ngốc à! Thế kỷ 21 rồi lấy đâu ra ma? Đừng có tung tin bậy. Cho dù trên đời có ma đi nữa, thì ngay cả Thủy Vân Chân Nhân, thầy pháp giỏi nhất thị trấn cũng đã đến xem, ông ta bảo cô gái đó dương khí thịnh, không thể nào là bị ma nhập.”
Thật kỳ lạ. Về mặt y học thì cô ấy là người chết. Về mặt huyền học thì dương khí thịnh, không thể bị ma nhập. Thế thì tình huống này giải thích thế nào?
“Cảm ơn nhé!” Tôi nói lời cảm ơn, rồi chen vào phòng bệnh kia, muốn gặp cô gái đó để mở mang kiến thức. Dù sao, một người không có mệnh tuyến, không có tim đập, không có mạch mà vẫn sống thì hiếm vô cùng, đúng là kỳ tích của cả y học lẫn huyền học.
Người ta hay nói: đã xui thì uống nước lạnh cũng sặc. Tôi vừa chen được một chút thì đã đụng phải cô nàng ghê gớm lúc nãy. Không biết thằng nào khốn nạn phía sau đẩy mạnh một cái, tay tôi vung lên vô tình chạm đúng… mông cô ấy.
“Dâm tặc!” Cô ta hét toáng lên, quay đầu thấy tôi đứng đó, không nói một lời, liền nhấc chân đá thẳng vào hạ bộ tôi.
“Trời ạ, đàn bà gì mà độc ác thế này!” Tôi vội lùi lại, nhưng người đông quá, lùi chẳng được bao nhiêu. May mắn là cú đá ấy rơi vào đùi tôi, đau muốn chết. Rõ ràng cô nàng này có học võ, sức chân cực mạnh.
Khốn thật, hình như tôi gặp khắc tinh rồi. Cú đầu tiên trượt, cô ta lại nhấc chân lần nữa. Lần này tôi hơi hoảng, nếu bị đá trúng thật thì đời tôi coi như xong.
“Thi Thi, đừng náo nữa, ta nhìn rõ rồi, người này không cố ý đâu.” Một giọng nói già nua vang lên từ không xa. Với tôi, giọng nói đó chẳng khác nào thiên âm. Tôi thề, cả đời chưa từng thấy giọng già nào mà nghe dễ chịu như vậy.
Quay lại nhìn, thì ra là bà lão đứng cạnh cô ta lúc trước. Nhìn gương mặt đầy nếp nhăn của bà, tôi lại thấy đặc biệt thân thiết.
“Không được! Hắn dám sờ mông con, thì phải trừng phạt hắn!” Cô ta mặt lạnh đi, thò tay lôi từ hông ra một cái ống trúc cỡ nắm tay. Vật này trông có vẻ đã lâu năm. Cô ta thọc tay vào bên trong lục lọi, rồi lấy ra một con vật rất lạ, trông hơi giống rết, nhưng tuyệt đối không phải rết. Thân nó chỉ dài khoảng 2cm, nhưng cặp râu phía trước lại rất to, gần như dài hơn cả thân.
“Trời ạ, tiền xuyến tử! Con đàn bà này là Cổ sư, mau chạy đi, trên người cô ta có độc Cổ!” Một đạo sĩ trung niên bên cạnh tôi vừa thấy thứ trong tay cô ta liền mặt tái mét, vội vàng chạy ra khỏi bệnh viện.
Người Trung Quốc từ xưa vốn có thói quen chạy theo đám đông. Nghe ông ta hét thế, chẳng ai cần biết tiền xuyến tử là gì, chỉ biết chạy là đúng.
Chỉ trong chốc lát, chỗ cửa phòng bệnh vốn chật cứng người bỗng chỉ còn lại tôi và cô gái đanh đá mặt đối mặt. Ban đầu tôi cũng muốn chạy, nhưng thấy ánh mắt độc ác kia, tôi lập tức bỏ ý định. Trời mới biết nếu tôi quay lưng chạy, cô ta có ném thứ kia lên người tôi không. Không chạy, may ra còn một tia hy vọng, nhất là khi bà lão đi cùng cô ta trông vẫn khá “thân thiện”.
“Tự hủy đôi tay, hay để tiền xuyến tử gặm nát cơ thể ngươi.” Giọng cô ta lạnh băng, không chút cảm xúc, khiến tôi lạnh toát cả người. Đúng là không thể dây vào.
“Chị gái à, em chỉ muốn chen vào xem cô gái kia, tuyệt không có ý mạo phạm. Chị có thể hỏi bà lão kia, bà ấy có thể làm chứng cho em.” Tôi vội vã đặt hy vọng vào bà lão.
“Cho dù cố ý hay vô ý, đã chạm vào mông ta thì phải trả giá!” Giọng cô ta lạnh lùng đáp. So với vẻ bạo liệt lúc trước, bây giờ cô ta càng khiến tôi sợ hãi. Tất nhiên, phần lớn vẫn là do con tiền xuyến tử trong tay cô ta.
Reactions: Vit.hung.han, waitforyou3, AiRoiCungKhac and 10 others
Chương 51: Cổ sư (Hạ)
Là người Hồ Nam, tôi đương nhiên biết quê tôi nổi tiếng với ba thứ: một là Phượng Hoàng Cổ Trấn, hai là “cương thi Tương Tây”, ba là vu cổ. Vì vậy, tôi cũng hiểu sơ sơ về vu cổ.
Thứ mà trong tay Kiều Y Tư đang cầm gọi là tiền xuyến tử, cũng là một loại cổ, còn gọi là đế cỏ giày, thuộc họ rết trăm chân, trông na ná con rết, nhưng độc tính còn mạnh hơn rết nhiều, trong giới vu cổ cũng được xếp hạng cao.
Nói đến đây, tôi cũng phải nói rõ một điều: thật ra cổ không hề thần kỳ như trong tiểu thuyết. Những loại như “phi thiên cổ”, “lạc cổ”... đều là bịa đặt. Viết nhiều thì có người tin, truyền miệng mãi thì ai nấy nghe đến cổ đều sợ. Thực chất, vu cổ tuy có phần kinh hãi, nhưng tuyệt đối không thần thông như tiểu thuyết mô tả.
Còn có chuyện trong tiểu thuyết viết rằng cổ sư ở vùng Miêu Cương có địa vị tôn quý lắm, cái đó hoàn toàn là trò lừa bịp. Cổ sư thật sự, đại đa số đều là nữ, mà vận mệnh cả đời của họ chỉ có thể dùng một câu để hình dung: “Sống đã là một nỗi bi ai.”
Lấy một cô gái tuổi xuân làm ví dụ: nếu muốn xuất giá, cô ta phải chịu sự “tra gia” (điều tra gia tộc) từ phía nhà trai, truy ngược năm đời. Chỉ cần có bóng dáng “cổ sư”, cuộc hôn sự chắc chắn tiêu tan, cô gái cả đời sẽ bị đóng đinh với danh hiệu “cổ sư”. Vì sao ư? Một người phụ nữ có thể hạ cổ bất cứ lúc nào thì chẳng khác nào một quả bom hẹn giờ. Hỏi thử, có ai dám cưới một quả bom hẹn giờ không?
Một khi bị dán mác “cổ sư”, thiên hạ đều xa lánh, theo sau là đủ loại lời ong tiếng ve. Người ta vẫn có câu: “Nước rửa chân không độc chết người, nhưng khiến người ta khó chịu.” Những lời đồn ấy gây ra tổn thương với cổ sư mà kẻ ngoài khó mà tưởng tượng nổi. Cuối cùng, để giữ cho cổ được truyền đời, những nữ cổ sư thường chỉ có thể lấy những người đàn ông què quặt, hoặc trí tuệ có vấn đề.
Phần lớn cổ sư thường cố ý biến mình thành nửa người nửa quỷ, để người khác sợ hãi mà chẳng dám buông lời thị phi. Cả đời họ, hôn nhân, cuộc sống, tình thân… đều bi thảm đến cực điểm. Có lẽ, chỉ phụ nữ mới thấu hiểu ba thứ ấy quan trọng thế nào.
Quay lại chuyện chính. Ban đầu tôi tưởng cô ta chỉ lấy cổ ra dọa, nhưng nhìn vẻ mặt và giọng điệu của cô ta, hoàn toàn không giống đùa. Tôi bất giác lùi từng bước.
“Còn động nữa, ta ra tay đó!” Cô ta lạnh lùng nói.
“Tư Tư, con còn định quậy tới bao giờ? Chúng ta tới đây là để cứu người.” Bà lão kia bước tới, chỉ cao ngang thắt lưng tôi, giọng nói mang theo khí thế không thể chống lại.
“Bà ơi, sao bà lại giúp người ngoài bắt nạt con chứ?” cô ta làm nũng một tiếng, vẻ mặt hoàn toàn là dáng dấp tiểu nữ nhi, làm tôi sững cả người. Cái gì mà đổi mặt nhanh vậy trời?
Bà lão nhíu mày, đi đến bên cạnh cô ta, ghé tai nói vài câu. Tôi liền thấy mặt cô ta đỏ bừng lên. Mẹ kiếp, một người phụ nữ dữ dằn thế kia mà cũng biết đỏ mặt à?
Kiều Y Tư quay đầu lại, ngoắc ngoắc tôi: “Qua đây.”
Tôi chẳng muốn qua chút nào, nhưng thấy cô ta giơ giơ tiền xuyến tử trong tay, đành run rẩy mà bước tới, hỏi: “Có chuyện gì vậy?”
“Chổng mông lên, để ta đá một cái, coi như không tính chuyện ngươi sờ vào chỗ đó nữa.” –Nói tới hai chữ “chỗ đó”, mặt cô ta lại đỏ lên.
Khỉ thật, ban nãy còn nói huỵch toẹt “sờ mông”, giờ lại nói văn vẻ thế này. Rốt cuộc bà lão nói gì với cô ta mà đổi khác ghê vậy?
Là đàn ông, bị một phụ nữ đá mông giữa chỗ đông người, có thể chấp nhận được không? Đương nhiên là không! Tôi bèn nói: “Hay là… ta vào phòng bệnh, cô đá cho tiện?”
Ba phút sau, tôi một tay chống hông, một tay xoa cái mông đỏ lòm, lom khom bước ra khỏi phòng bệnh, trong lòng chửi thề từ mười tám đời tổ tông nhà cô ta cho tới đời cháu chắt. Đúng là độc ác quá mức!
“Có ý kiến gì không?” Cô ta đắc ý cười sau lưng.
Đầu tôi lắc như trống bỏi: “Không, không có ý kiến!”
Vừa dứt lời, tôi lại muốn tự tát mình vài cái. Mẹ nó, đúng là chẳng có chút khí phách đàn ông!
Sau đó, bà lão nói với tôi rằng họ đến từ Phượng Hoàng Cổ Trấn, là hậu nhân của thế gia vu cổ. Bà ta là truyền nhân đời này, nói nôm na chính là giáo chủ trong một tông phái. Cô gái đi cùng là cháu gái, trong giới vu cổ được gọi là Công chúa Phượng Hoàng. Còn bà lão kia, trong giới vu cổ cực kỳ nổi tiếng, ngoại hiệu Kiều bà bà.
Họ đi ngang thị trấn chúng tôi, nghe nói có một người không có đường sinh mệnh, không có tim đập, không có mạch nhưng vẫn sống lại, cảm thấy chắc chắn có liên quan đến cổ, nên tới xem thử, tiện thể chữa trị.
Nghe vậy, tôi nhìn Kiều bà bà đầy nghi hoặc. Từ trước đến nay chỉ nghe nói vu cổ hại người, ít khi nghe vu cổ trị người. Tôi liền hỏi thẳng thắc mắc trong lòng.
Kiều bà bà cười, nói: “Cậu nghĩ vậy cũng chẳng có gì lạ. Cổ sư chúng ta bị người ngoài hiểu lầm đã quen rồi.”
Bà không giải thích nhiều, tôi cũng không hỏi thêm. Dù sao nghề nào cũng có những điều không thể nói ra với người ngoài.
Sau đó, ba người chúng tôi sang phòng bệnh đối diện. Trên chiếc giường đơn giản, nằm một cô gái khuôn mặt thanh tú, nhưng sắc mặt tái nhợt, biểu cảm ngây dại, mắt vô thần nhìn lên trần nhà, thấy chúng tôi vào cũng không có chút phản ứng, như thể đã sớm xem nhẹ chuyện sống chết.
Bên cạnh là một phụ nữ trung niên, da đen sạm, chắc do năm tháng làm ruộng dãi nắng dầm mưa.
Thấy chúng tôi, bà ta ngạc nhiên: “Các vị là tới cứu con gái tôi sao?”
Tôi chưa kịp mở miệng, Kiều Y Tư đã nhanh nhảu: “Đúng vậy, tôi với bà nội đến cứu chị ấy. Còn kẻ bên cạnh tôi chỉ tới ăn cơm thừa thôi.”
Nghe vậy, tôi chẳng thèm chấp. Không phải vì rộng lượng, mà vì thấy cô ta nói cũng đúng. Tôi đến đây chỉ để xem cô gái này sống lại bằng cách nào, khác gì kẻ ăn cơm thừa đâu.
Người phụ nữ trung niên liếc nhìn tôi, cười gượng, rồi không nói gì nữa, chỉ vội mời Kiều bà bà đến bên giường, run run hỏi: “Xin bà xem giúp, con gái tôi… còn cứu được không?”
Kiều bà bà liếc nhìn cô gái, đưa tay thăm dò hơi thở ở mũi, rồi đặt tay lên ngực, giữ một lúc, lại bắt mạch. Sắc mặt bà nhíu chặt, khẽ lẩm bẩm: “Lạ thật, lạ thật… cả đời ta chưa từng thấy trường hợp nào thế này.”
“Có hô hấp không?” Tôi chen vào hỏi.
Bà gật đầu, không nói gì, chỉ bảo cháu gái lật người cô gái lại. Tay bà đặt ở gáy, từ từ trượt xuống dọc xương sống, mãi đến thắt lưng mới dừng lại.
“Bà ơi, có phải trúng cổ rồi không?” Kiều Y Tư cẩn thận đỡ cô gái ngồi dậy, sợ làm cô đau.
Kiều bà bà lắc đầu, vẻ mặt nặng nề: “Vừa rồi ta dò xét dọc cột sống, không hề có khí tức của cổ. Đi thôi!”

Chương 52: Đêm Kinh Hồn
“Bà ơi, cô ấy thật tội nghiệp, nằm bất động trên giường, bà nghĩ thêm cách nào khác đi mà!” Kiều Y Tư nũng nịu nói.
“Con bé này đâu có trúng độc cổ, ta cũng bó tay.” Bà lão trừng mắt nhìn cô ta, hơi tức giận, kéo tay cô bé đi ra cửa: “Chúng ta đi thôi!”
“Con không đi, con muốn ở lại cứu cô ấy!” Kiều Y Tư nhìn cô gái đang nằm trên giường, trong mắt ánh lên nỗi buồn cùng sự kiên quyết.
“Nó là một cái xác biết thở thôi, con ở lại cũng chẳng cứu nổi, trái lại còn làm liên lụy chính mình. Mau theo ta đi.”
Hai bà cháu cãi vã trong phòng bệnh, không khí càng lúc càng căng thẳng, khiến tôi ngẩn ngơ. Rõ ràng vừa nãy còn yên bình, sao đột nhiên lại gay gắt thế? Tôi bèn khẽ hỏi bà lão: “Cụ ơi, sao vậy ạ?”
“Thanh niên, con bé này là kẻ xui xẻo, ta khuyên cậu nên tránh xa thì hơn!” Bà lão vừa kéo cháu gái đi vừa quay đầu lại nói với tôi một câu như thế.
“Kẻ xui xẻo?” Tôi sững người, ngẩng đầu lên thì bà cháu họ đã đi khỏi. Ngoài cửa vẫn còn văng vẳng tiếng Kiều Y Tư: “Con không đi, con không đi!”
Người phụ nữ trung niên thấy bà cháu họ rời đi, sắc mặt lộ vẻ mệt mỏi, chẳng để ý đến tôi, chỉ đến ngồi bên giường, cầm tay cô gái kia áp lên mặt mình, miệng thì thào: “Con gái à, nếu con chết, mẹ cũng chẳng muốn sống một mình nữa.”
“Mẹ… con… con… sẽ không chết… con… sẽ ở bên mẹ… đến già.” Giọng cô gái trên giường yếu ớt đến cực điểm, nói xong như dồn hết sức lực, cố gắng ngồi dậy nhưng tứ chi như bị đóng chặt xuống giường, chẳng thể nhúc nhích, mồ hôi lớn như hạt đậu lăn trên trán.
Nhìn cảnh mẹ con họ, lòng tôi dấy lên một nỗi thương cảm. Tôi tiến lên khẽ nói: “Bác gái, nếu không chê cháu còn trẻ, cháu có thể thử xem giúp chị Vương Khiết này một chút.”
“Cậu?” Bà ấy nghi hoặc nhìn tôi: “Trẻ như thế không lo học hành, chạy đến bệnh viện làm gì?”
Tôi chỉ tay sang phòng đối diện: “Cháu ở ngay đối diện, có học chút ít môn tà môn ngoại đạo, biết đâu nhìn ra được điều gì.”
“Thôi đi! Nhìn cậu thương tích đầy người, mau về phòng nghỉ ngơi cho khỏe, đừng lo chuyện bao đồng.” Bà ta lạnh nhạt đáp.
Tuy tôi chẳng nhìn ra cô gái kia có bệnh gì, nhưng trong lòng cứ có cảm giác lạ, như thể mình có thể giúp được. Nói tại sao thì chính tôi cũng không rõ, có lẽ là duyên phận chăng.
Nhưng người ta đã không muốn, tôi cũng đành thôi. Nhìn sang giường bệnh, cô gái kia chớp mắt với tôi, như muốn nói “cảm ơn”. Tôi khẽ lắc đầu, rồi quay về phòng của Quách Béo.
Đến cửa phòng, thấy Quách Béo chẳng biết tỉnh từ bao giờ, mẹ nó đang đút thuốc, khung cảnh rất ấm áp. Tôi không muốn phá vỡ nên lặng lẽ quay về phòng mình.
Nằm trên giường mãi không ngủ được, trong đầu cứ quanh quẩn câu hỏi: một người không có tim đập sao vẫn sống? Nghĩ rồi nghĩ, cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ.
Không biết ngủ bao lâu, tôi bỗng thấy lạnh, kéo chăn đắp lên. Kéo một cái, chăn không nhúc nhích; kéo hai cái, vẫn không động; kéo liên tục bảy tám lần, chăn như bị ai đó giữ lại.
Tôi nổi cáu, dùng sức giật mạnh, cuối cùng cũng kéo được chăn phủ lên người, ngửi mùi thuốc khử trùng trong bệnh viện rồi thiếp đi.
Thời gian trôi, chẳng rõ qua bao lâu, tôi cảm giác có ai đó đang thổi hơi nóng vào mặt mình, ngưa ngứa, vừa dễ chịu vừa khó chịu. Tôi lập tức tỉnh, mở mắt nhìn quanh, phòng tối om. Lấy điện thoại dưới gối bấm sáng, thấy mới 3 giờ rưỡi sáng. Tôi giơ điện thoại soi quanh phòng, chẳng có gì cả.
Kỳ lạ thật! Tôi nhớ rõ ràng là có người thổi hơi vào mặt mình, sao giờ lại chẳng thấy gì?
Chẳng lẽ nằm mơ? Nhưng sao cảm giác chân thật đến thế? Đang lơ mơ muốn ngủ lại, bên tai bỗng vang lên một giọng nữ cực khẽ, mơ hồ nghe rõ: “Ta chết thảm lắm… ta phải tìm ngươi báo thù…”
Âm thanh ấy lạnh lẽo, rùng rợn, bi thương đến tận xương tủy. Tôi giật bắn người, da gà nổi đầy, trong đầu chỉ lóe lên một ý nghĩ: Gặp ma rồi! Chẳng lẽ bệnh viện này có thứ không sạch sẽ?
Tôi bật dậy, cầm điện thoại soi quanh, vẫn chẳng thấy gì. Nếu như hơi thở vừa nãy có thể coi là mơ, thì tiếng nói này tuyệt đối không phải, rõ ràng như ngay sát bên tai.
Tôi rón rén bước xuống giường, định bật đèn, thì cánh cửa phòng “két” một tiếng mở ra. Bản năng khiến tôi nhìn về phía cửa, lờ mờ thấy một bóng trắng lao vút ra ngoài.
Cả người tôi lạnh toát, lông tóc dựng đứng. Tôi vội bật đèn sáng trưng, thì thấy trên nền gạch có vài dấu chân, là dấu chân phụ nữ, bên cạnh còn có tro giấy vàng chưa cháy hết.
Tôi cúi xuống lấy tay quệt thử, tro còn ẩm. Chẳng lẽ mới có… quỷ vào? Ý nghĩ này khiến da đầu tê dại, tôi vội chạy ra cửa, thò đầu nhìn ra ngoài.
Hành lang bệnh viện dưới ánh đèn ban đêm sáng rực, mặt đất cũng vương tro giấy, kéo thành hai hàng: một hàng dấu chân đi về phía phòng tôi, một hàng đi ra ngoài. Đặc biệt, dấu chân còn dừng lại ở cửa phòng đối diện, rồi mới rẽ sang phòng tôi.
Nhìn dấu chân, lòng hiếu kỳ trỗi dậy, chẳng hiểu sao lại tò mò, tôi cứ thế men theo mà đi. Khoảng hơn bốn chục mét thì tới cửa bệnh viện, ở đó dấu chân biến mất.
Ngẩng đầu lên, tôi thấy một người phụ nữ đứng ngay cửa. Khuôn mặt tròn, hơi phúng phính, đôi mắt to tròn đang đảo quanh như tìm kiếm gì đó.
Tôi thở phào, thì ra là y tá Trương Viện Viện lúc trước. Mẹ kiếp, chẳng thù oán gì, lại giả ma dọa người. Tôi tức giận bước tới: “Y tá, tôi với chị có thù oán gì, sao lại giả ma hù dọa tôi?”
“Cậu bị thần kinh à? Ai rảnh nửa đêm không ngủ đi giả ma dọa cậu?” Trương Viện Viện sững lại, rồi chửi thẳng bằng giọng Hồ Bắc: “Đồ bệnh hoạn!”
Người doạ người có thể doạ chết thật đấy! Nếu tôi tim yếu, e đã gục trong phòng rồi. Tôi chỉ xuống đất, giọng gắt gỏng: “Dấu chân này theo đến chỗ chị thì biến mất, không phải chị giả ma thì còn ai?”
Cô ta nhìn theo tay tôi, nhíu mày, rồi trừng mắt: “Cậu bị viêm màng não hả? Dưới đất làm gì có dấu chân nào?”
Nghe thế, tôi tròn mắt kinh hãi: “Chị… chị không thấy dấu chân?”
Nói xong, mặc kệ cô ta ra sao, tôi cúi xuống ôm chân cô, lật lên xem đế giày, hoàn toàn sạch sẽ, không dính tro giấy.
Cả người tôi chết lặng. Một cơn lạnh thấu xương lan khắp cơ thể, khiến tôi run rẩy, chẳng dám thở mạnh, tim đập thình thịch, như cả thế giới lặng im trong khoảnh khắc đó…

Chương 53: Trò đùa ác ý
Đứng sững tại chỗ, tôi ngây người một lúc lâu, trong đầu thoáng qua đủ thứ, suýt nữa thì sụp đổ. Cảnh tượng này quá kinh hãi, chân mềm nhũn, tôi ngồi phịch xuống đất thở dốc.
Con người khi gặp phải chuyện kỳ quái, sau một lúc điều chỉnh, thay vì sợ hãi lại trở nên bình tĩnh hơn. Ngồi trên mặt đất một hồi, tôi chợt cảm thấy như bị ai đó trêu đùa. “Ma” ấy à, những ai từng sống ở quê đều biết, nó lạnh lẽo, âm u.
Thế nhưng, trên giường tôi lại cảm nhận được hơi nóng, đúng, rõ ràng là hơi nóng. Xin hỏi, ma sao có thể thổi ra hơi nóng? Còn dấu chân trên đất, tro giấy rõ ràng đã được trộn với nước, chứ không phải do ẩm tự nhiên. Lúc này tôi có thể khẳng định một trăm phần trăm, đây chỉ là trò đùa ác ý.
Tôi quay ánh mắt nghi ngờ về phía Trương Viện Viện, hỏi: “Vui lắm hả?”
“Cậu nói linh tinh gì thế, đâu phải tôi!” Cô ta hơi hoảng hốt, giậm chân một cái rồi bỏ đi: “Không thèm nói chuyện với cậu nữa!”
Nghe vậy, tôi điên tiết. Quả nhiên là trò đùa! Nhìn nét mặt kia, chắc chắn không phải do cô ta bày ra, nhưng cô ta tuyệt đối biết ai làm. Tôi vội gọi giật lại: “Không phải chị, vậy là ai?”
“Tôi đã hứa với người đó là không được nói!” Cô vừa vội vã bước về phía bệnh viện vừa trả lời.
Người trêu đùa là ai? Tôi còn đang nghĩ thì phía sau vang lên một giọng âm u: “Là tôi đây!”
Ngoảnh đầu nhìn lại, tôi giật thót tim. Mẹ ơi! Ở cửa bệnh viện đứng sừng sững một kẻ, không, chẳng giống người, mà như ác quỷ vừa từ địa phủ bò ra. Trên đầu đội mũ quan phán, mặt xanh nanh ác, đôi mắt cá chết trợn trừng nhìn tôi, trên người mặc một bộ trường bào trắng.
“Á… maaaa!” Tôi hét toáng lên. Thứ đó đột ngột xuất hiện ngay sau lưng, không phát ra một tiếng chân, khiến tôi quay đầu lao thẳng vào trong bệnh viện, chỉ mong tránh xa con ma đó.
“Hahaha, đồ nhát gan! Xem anh còn dám sàm sỡ tôi nữa không!” Sau lưng vang lên tiếng cười như chuông bạc, vô cùng dễ nghe. Giọng này… nghe quen quen. Tôi khựng lại, từ từ quay đầu, thấy “con ma” tháo mặt nạ xuống, lộ ra gương mặt, con mẹ nó, là Kiều Y Tư!
“Con mẹ nó, đồ đàn bà điên, định hù chết người à!” Tôi chửi thẳng.
“Tưởng anh gan to, tôi chỉ muốn đùa chút thôi.” Cô ta nói giọng yếu ớt, như thể biết mình sai.
Nghe xong, lửa giận trong tôi bùng lên. Đây mà gọi là trò đùa à? Tôi suýt nữa hồn lìa khỏi xác rồi! Thật sự muốn tát cho cô ta mấy cái. Nhưng nghĩ đến cặp chân khỏe như búa tạ của cô ta, tôi đành bỏ ý định, đánh nhau chắc chắn tôi thua.
“Người ta biết sai rồi, tha cho người ta đi mà...” Cô ném mặt nạ sang một bên, bước lại gần, giọng rất chân thành.
“Tôi tưởng cô đi với bà nội rồi, sao lại quay lại đây?” Tôi bực bội hỏi, mắt đảo xuống chân cô ta, quả nhiên bên giày có vệt tro giấy.
“Hehe!” Cô ta cười: “Lúc bà ngủ, tôi lén chạy ra. Một là để hù anh, hai là muốn gặp chị gái kia, tôi thấy chị ấy đáng thương quá, muốn giúp một tay.”
Tôi thật sự cạn lời. Hỏi về cô y tá, Kiều Y Tư nói lúc vào cổng bệnh viện thì gặp Trương Viện Viện, hai người bàn bạc một hồi rồi bày ra màn kịch đó.
Biết rõ chân tướng, tôi quan sát cô ta. Phải nói, bỏ bộ váy dân tộc, khoác áo dài trắng, Kiều Y Tư toát lên khí chất thanh thoát như tiên nữ, đặc biệt đôi mắt trong vắt.
Người ta bảo mắt là cửa sổ tâm hồn, nhìn vào mắt cô ta, cơn giận trong tôi cũng tan đi ít nhiều. Tôi bảo cô ta về ngay, rồi một mình vội vã trở về định ngủ bù. Nhưng không ngờ, cô ta lại bám riết, tôi đi một bước, cô ta theo một bước, chẳng chịu buông.
“Tôi nói này, nửa đêm nửa hôm, con gái đi theo đàn ông thế này, không sợ người ta dị nghị sao?” Tôi dừng bước.
“Tôi không có tiền, cũng chẳng có chỗ ở! Ở thị trấn này tôi chỉ quen mình anh, không theo anh thì theo ai?” Cô ta thẳng thắn nói.
“Được rồi, tôi cho cô một trăm tệ!” Tôi rút tờ tiền, chỉ về phía trước: “Đằng kia có nhà trọ, đủ cho cô ở một đêm.”
“Bà nội tôi ở đó, tôi không về đâu. Với lại, tôi sợ đi đường đêm, sợ ma…” Cô ta do dự, không nhận tiền, giọng yếu ớt. Nói xong, mặt cô đỏ bừng.
Tôi thật sự muốn phát điên. Nửa đêm còn giả ma hù người, giờ lại nói sợ đi đêm. Tôi gằn giọng: “Vừa rồi không sợ à?”
“Vừa rồi mải hù anh, đâu nghĩ nhiều thế!” Kiều Y Tư liếc tôi một cái, cúi gằm mặt.
Đúng là lời thật. Tôi chẳng buồn nói thêm, đưa cô ta quay lại bệnh viện. Bản thân tôi sau màn hù dọa cũng không dám đi đêm một mình. Về phòng bệnh, Kiều Y Tư chiếm giường, tôi phải nằm ghế dài ngoài hành lang chợp mắt cả đêm.
Trời vừa sáng, bà nội Kiều Y Tư tất tả chạy đến hỏi có thấy cô ta không. Tôi buột miệng nói, ở trong phòng. Nhưng khi bước vào thì giường trống trơn. Bà đành bảo tôi: “Chàng trai, nếu thấy Tư Tư thì nhắn nó, trước mùa xuân năm sau ta sẽ ở Khúc Dương. Chơi chán rồi thì tìm ta.”
Nghe xong, tôi thoáng ngạc nhiên. Ông Tưởng bán bia mộ cũng hẹn tôi mùa xuân năm sau đến Khúc Dương. Giờ bà này cũng vậy, thậm chí cùng thời điểm. Chẳng lẽ Khúc Dương sắp có chuyện lớn? Tôi còn định hỏi thì bà đã đi mất.
Xem ra, chỉ còn cách đợi đến mùa xuân sang năm đến Khúc Dương mới biết. Tôi ngó quanh, Kiều Y Tư thật sự biến mất, sống sờ sờ mà chẳng hiểu đi đâu. Thôi thì kệ, tôi ngồi xuống giường.
“Halo...” Từ gầm giường thò ra một cái đầu người, nháy mắt với tôi.
Tiếng bất ngờ này làm tôi giật nảy, suýt tung chân đá thẳng. Nhìn kỹ lại, mẹ kiếp, lại là Kiều Y Tư! Tôi sắp phát điên, thật sự ở cùng cô ta chắc mất mười năm tuổi thọ. Cứ xuất hiện bất thình lình, tim muốn rớt ra ngoài.
“Hehe, đói rồi, dẫn tôi đi ăn sáng đi!” Cô chui từ gầm giường ra, vuốt lại mái tóc rối, mỉm cười.
Tôi chẳng buồn đáp, không biết nên nói gì nữa. Bảo cô ta ngồi yên trong phòng, tôi đi mua đồ ăn sáng. Mang chút cho Quách Béo, hỏi thăm tình hình. Nghe bác sĩ nói nghỉ mười ngày nửa tháng là khỏe. Hai đứa trò chuyện một lúc, rồi tôi quay lại phòng, định ăn xong thì làm thủ tục xuất viện. Dù gì vết thương cũng không nặng, ở lại chỉ tốn tiền.

Chương 54: Chôn sống (Phần 1)
Ăn sáng qua loa với kiều Y Tư xong, tôi định đi làm thủ tục xuất viện, thì cô ta kéo tôi đi thẳng sang phòng bệnh đối diện, vừa đi vừa hỏi: “Ê, anh tên gì thế?”
Tôi buột miệng nói một câu khá oai phong: “Mọi người đều gọi tôi là Cửu Gia.”
Nói xong thì mặt nóng bừng, toàn do ngượng cả thôi. Một kẻ khiêng quan tài như tôi mà dám tự xưng là “Gia”, nếu để người khác nghe thấy thì tám chín phần mười sẽ cười rụng răng mất.
Không ngờ, Kiều Y Tư lại nghiêm túc gật đầu, gọi một tiếng “Cửu Gia”, rồi hỏi: “Anh có thể chữa khỏi cho chị gái kia không?”
Tôi hơi sững lại, lắc đầu, rồi lại gật đầu, bản thân cũng không biết phải trả lời thế nào.
Trong lúc nói chuyện, chúng tôi đã đi vào phòng. Hai mẹ con kia đang cố gắng trò chuyện với nhau, nhìn thấy tôi bước vào thì vẫn giữ nguyên thái độ thờ ơ, chẳng buồn để ý. Ngược lại, cô gái nằm trên giường lại chớp mắt ra hiệu chào tôi.
“Dì à, để cháu thử xem! Ở Phượng Hoàng Cổ Trấn có một loại cổ có thể hoạt huyết, thông kinh mạch tứ chi.” Kiều Y Tư đi đến cạnh giường cô gái, nói với người phụ nữ trung niên.
Vừa nghe đến bốn chữ “Phượng Hoàng Cổ Trấn”, người phụ nữ trung niên thoáng run lên, liếc nhìn Kiều Y Tư một cái, rồi ánh mắt lại cụp xuống. Trong lòng bà ta chắc nghĩ, hôm qua bà cụ còn nói là vô phương, thì một đứa nhỏ như cô làm sao có cách.
“Dì à, để cháu thử một chút thôi! Biết đâu thật sự có hiệu quả thì sao?” Kiều Y Tư kiên nhẫn khuyên nhủ.
Người phụ nữ trung niên lắc đầu: “Nửa tháng nay, những đạo sĩ hay hòa thượng có chút danh tiếng trong thị trấn đều đã xem qua rồi, ai cũng nói không chữa được. Hai đứa trẻ con các cháu đừng quấy rầy nữa. Tôi sợ con gái tôi cứ hết lần này đến lần khác thất vọng, cuối cùng sẽ mất luôn cả niềm tin để sống.”
Lời bà ta nói cũng không phải không có lý. Tôi hiểu được. Tôi bước đến bên cạnh Kiều Y Tư, nhẹ nhàng vỗ vai cô, rồi bực bội nói: “Đừng làm khó dì ấy nữa, dì ấy nói đúng đó. Chúng ta còn quá trẻ, đạo hạnh và kinh nghiệm đều kém xa người ta.”
“Nhưng mà chị ấy thật tội nghiệp, giống như tôi hồi nhỏ vậy, cũng chỉ có thể nằm trên giường, không nhúc nhích được. Cảm giác đó thật sự rất khó chịu. Tôi muốn giúp chị ấy… Cửu Gia, tôi cầu xin anh, nghĩ cách giúp chị ấy được không?” Kiều Y Tư nói rồi nước mắt lăn dài trên má.
Nghe vậy, tôi mới hiểu ra vì sao cô ấy lại nhiệt tình cứu giúp cô gái kia như vậy, thì ra bản thân cô cũng từng có trải nghiệm tương tự. Nhưng tôi thật sự không có cách nào cứu được, nên chỉ khuyên: “Mỗi người đều có số phận khác nhau. Đã không thể chống lại được số mệnh, thì chi bằng thử chấp nhận nó, biết đâu lại phát hiện ra một cuộc đời khác.”
Những lời này, tôi vừa nói cho Kiều Y Tư nghe, vừa nói cho cô gái nằm trên giường, cũng vừa là nói với chính bản thân mình. Vận mệnh của con người vốn như vậy, mỗi người một khác, chỉ cần sống tốt phần mình là đủ.
Đối với cô gái kia, lúc trước tôi cũng từng động lòng trắc ẩn, muốn cứu cô. Nhưng mẹ cô đã từ chối, vậy thì tôi cũng chẳng còn ý định nữa. Tôi không phải thánh nhân, cũng chẳng có lòng từ bi với thiên hạ. Tôi chỉ là một kẻ khiêng quan tài sống ở tầng đáy của xã hội. Nhìn thấy sự lạnh nhạt vô tình của đám người xung quanh khi Quách Béo bị đánh, tôi đã sớm hiểu xã hội này tàn khốc đến mức nào.
Trong một xã hội đầy vật chất và dục vọng như thế này, muốn có được điều mình mong muốn, không phải ngồi chờ người khác bố thí, mà phải dựa vào chính bản thân mình. Tôi đã hỏi một lần rồi, thế là đủ để lương tâm thanh thản. Bà ta từ chối, đó là quyền tự do của bà ta. Con người, dù có đáng thương đến đâu, cũng không thể trông mong người khác cứu giúp. Hoặc là tự dựa vào mình, hoặc là học cách chấp nhận, đừng oán trời trách người.
“Đi thôi! Họ không cần chúng ta.” Tôi lạnh lùng nói, kéo Kiều Y Tư ra ngoài. Sự từ chối lặp đi lặp lại khiến tôi hơi bực, quan trọng hơn là tôi cảm thấy cô gái kia không hề có ý chí cầu sinh.
“Cửu… Cửu… Cửu Gia, xin… anh xem… giúp tôi một lần!” Vừa bước đến cửa, giọng nói yếu ớt của cô gái trên giường truyền đến.
Tôi dừng bước, quay đầu lại, nhìn sang người phụ nữ trung niên: “Dì nghĩ sao?”
Bà ta gật đầu.
Nhiều năm sau, tình cờ gặp lại một người, cô ấy hỏi tôi: Nếu năm đó cô gái ấy không mở miệng níu giữ, anh có ở lại không? Tôi thản nhiên đáp: “Không.”
Cô ấy hỏi lý do.
Tôi nói: “Một người mà không có ý chí cầu sinh, thì cho dù có là thần tiên cũng không cứu được.”
Thấy người phụ nữ trung niên gật đầu, chúng tôi quay lại trong phòng. Tôi hỏi ngày giờ sinh cùng vài chuyện hồi nhỏ của cô gái.
Bà ta cho biết, con gái tên là Vương Khiết, sinh ngày 6 tháng 6 năm 1986. Từ nhỏ sức khỏe yếu ớt, quanh năm bệnh tật, thuốc không rời miệng. Bất kể xuân hạ thu đông, cơ thể lúc nào cũng lạnh buốt.
Bà còn nói thêm, lúc mới sinh, trong lòng bàn tay cô gái còn có đường sinh mệnh. Nhưng đến năm sáu tuổi, sau một trận bệnh nặng, đường sinh mệnh dần mờ đi, cho đến lần này thì hoàn toàn biến mất.
Nghe xong, tôi cầm tay phải của Vương Khiết lên xem. Đường vân trong lòng bàn tay cô rối loạn chằng chịt, nhưng riêng chỗ đường sinh mệnh thì trống trơn. Các đường vân khác đến vị trí ấy đều bị đứt đoạn.
Tôi đã từng xem qua không ít đường chỉ tay, nhưng chưa bao giờ thấy loại nào kỳ quái như vậy. Hoàn toàn không giống đường vân của người phàm.
Sau đó, tôi lại đặt tay lên ngực cô. Phẳng lặng như mặt nước chết, không có bất kỳ nhịp đập nào. Ngay cả khi thở, lồng ngực cũng không hề lay động, kỳ lạ vô cùng.
“Vương Khiết, tôi muốn xem tứ chi của cô, được không?” Tôi cau mày, liếc nhìn cô gái trên giường.
“Được.” Giọng cô yếu ớt đáp lại, không biết nhớ tới điều gì, gương mặt tái nhợt thoáng ửng hồng.
Vén chăn lên, Vương Khiết mặc bộ đồ bệnh nhân sọc xanh trắng. Tôi nhờ Kiều Y Tư giúp kéo tay áo và ống quần cô lên. Vừa nhìn thấy, chúng tôi đều sững sờ.
Đây là tứ chi kiểu gì vậy? Làn da khô héo, đầy gân xanh nổi chằng chịt, trông ghê rợn. Hoàn toàn không giống tứ chi của một thiếu nữ, mà như của một cụ già gần tám mươi tuổi. Làn da quanh chỗ gân xanh thì xám xịt, không chút sức sống.
“Sao lại thế này? Hôm qua còn bình thường mà!” Người phụ nữ trung niên kêu lên, rồi òa khóc.
“Đừng khóc! Khóc thì có cứu được con gái dì không?” Tôi quát bà ta một câu, rồi cầm cánh tay Vương Khiết lên, chạm nhẹ. Da đặc biệt lạnh, đặc biệt thô ráp.
“Thế nào, có cứu được không?” Kiều Y Tư khẽ hỏi.
“Chỉ có một cách, có lẽ sẽ giúp tình trạng của cô ấy khá hơn. Còn được hay không, phải xem ý trời.” Tôi đáp nhạt nhẽo. Lúc nãy chạm vào tay cô ấy, tôi chợt nhớ đến một điển tích ghi trong Táng Kinh.
Trong đó kể về một người đàn ông hơn ba mươi tuổi, tứ chi bất động, da thịt như người già, tim đập yếu ớt, mạch cũng cực kỳ mong manh. Dùng phương pháp kia, tuy không thể chữa lành hoàn toàn, nhưng ít nhất ông ta còn có thể chống gậy mà đi lại.
Còn tình trạng của Vương Khiết thì nặng hơn gấp bội. Cô hoàn toàn không có tim đập, không có sinh khí, không có mạch. Tôi chẳng hề có chút tự tin nào, chỉ đành ôm tâm lý thử xem, coi như “cứu ngựa chết như ngựa sống.”
“Cách gì vậy?” Kiều Y Tư và người phụ nữ trung niên cùng lúc vội vã hỏi.
Tôi nhìn họ một lượt, rồi lạnh lùng thốt ra hai chữ: “Chôn sống.”

Chương 55: Chôn Sống (Phần 2)
“Chôn sống?” Kiều Y Tư và mọi người nghe xong thì mặt mày biến sắc, như thể không tin nổi, nghi hoặc hỏi lại.
Tôi gật đầu, nói: “Chỉ có chôn sống, cô ấy mới còn một tia hi vọng!”
Từ “chôn sống” bắt nguồn từ thời Tây Hán, xưa kia còn gọi là “hoạt tế”, “hoạt điện”. Một số kẻ quyền quý giàu sang thường lấy nha hoàn tùy thân làm vật tùy táng, nói nôm na chính là chôn người sống theo. Truyền thuyết kể rằng từ này bắt nguồn từ một câu chuyện về Hàn Tín.
Hàn Tín vốn xuất thân nghèo hèn, trước khi lập nghiệp chỉ là tiều phu nuôi thân bằng việc đốn củi, sống nương tựa với bà mẹ mù. Đối diện nhà hắn có một “địa tiên”, thầy phong thủy già nua, nghèo khó, cô độc không vợ con. Hàn Tín vừa khỏe mạnh vừa lương thiện, ngày ngày đem gạo đổi từ củi sang giúp ông cụ, khiến cụ cảm kích vô cùng.
Một ngày nọ, địa tiên nói với Hàn Tín: “Tiểu tử, nhờ ngươi nhiều năm chăm sóc, ta nói cho ngươi một bí mật. Sau núi có một long mạch, là huyệt phong thủy tuyệt địa. Nếu ta chết trước mẹ ngươi, hãy chôn ta vào miệng rồng, ngươi tất đại phát phú quý. Nếu mẹ ngươi chết trước ta, hãy chôn bà ấy vào đó, đời này ngươi chắc chắn làm tướng, làm tể, quyền cao chức trọng, trên vạn người, dưới một người. Hãy nhớ kỹ!”
Hàn Tín từ nhỏ đã ôm chí lớn, dĩ nhiên mong mình “xuất tướng nhập tướng”. Một ngày, địa tiên bệnh nặng, khó qua khỏi. Hàn Tín lo lắng, nghĩ mãi rồi cắn răng, vào một chiều giông gió mịt mù, lừa mẹ mù cõng đi “chữa mắt”, đưa vào huyệt long mạch bằng hang đá, rồi bỏ bà sống trong đó.
Hàn Tín quỳ trước cửa hang lạy ba lạy. Đột nhiên, đá lớn ầm ầm sụp xuống, chôn vùi mẹ hắn trong “miệng rồng”!
Địa tiên nghe động, biết ngay Hàn Tín đã chôn sống mẹ ở đó, vội gắng gượng thân bệnh chạy tới. Lúc ấy, mưa gió nổi lên, trời đất tối sầm. Nhìn thấy Hàn Tín sững sờ trong mưa gió, ông chỉ thở dài: “Trời đất sáng tỏ, lại chôn sống mẹ ruột; được thiên lý thì chẳng được địa lý, được địa lý thì trời chẳng dung!”
Sau khi chôn mẹ, Hàn Tín được long khí ban phúc, theo quân chinh chiến, lập nhiều đại công, giúp Lưu Bang dựng nên nhà Hán, cuối cùng được phong Tề Vương.
Khi thiên hạ mới định, Lưu Bang rất trọng dụng Hàn Tín. Nhớ lời địa tiên, Hàn Tín lo sợ, tâu với Lưu Bang: “Hoàng thượng, thần dù lập công lao to lớn cho Đại Hán, nhưng e rằng sau này khó có nơi chôn thân.”
Hàn Tín kể lại chuyện chôn sống mẹ khi xưa. Để hóa giải thiên lý oán phạt, Lưu Bang hạ thánh chỉ khắp thiên hạ: trên mọi binh khí, dao kéo, kể cả dao bổ củi, dao bếp, mũi tên… đều khắc câu: “Dao này không chém Hàn Tín. Trời chẳng giết Hàn Tín, đất chẳng giết Hàn Tín.”
Cứ tưởng vậy Hàn Tín sẽ thoát mọi kiếp nạn. Nhưng sau khi Lưu Bang bệnh nặng, Lữ Hậu nắm quyền, có kẻ vu cáo Hàn Tín mưu phản. Lữ Hậu liền bày mưu, lừa hắn lên lầu thêu ba tầng (không thấy đất), đóng kín cửa sổ (không thấy trời), rồi chuốc rượu say, dùng dây thắt cổ. Dù Hàn Tín phòng bị cẩn thận, cuối cùng vẫn khó thoát thiên lý trừng phạt vì từng chôn sống mẹ ruột.
Cũng từ đó, “chôn sống” được chép vào Sử Ký. Tất nhiên, “chôn sống” mà tôi nói ở đây khác với Hàn Tín. Hắn vì phong thủy bảo địa, còn tôi dùng “chôn sống” như một nghi thức, mang ý “che mắt trời đất”.
Tôi vừa giải thích xong, Kiều Y Tư đã bực bội: “Đã chôn sống người ta rồi, còn ‘che mắt trời đất’ cái quái gì chứ?”
Tôi không muốn tranh cãi. Với thân phận cổ sư, cô ấy chỉ quen tiếp xúc những thứ liên quan đến cổ trùng, đâu hiểu được nghi lễ sâu xa này. Ngược lại, người phụ nữ trung niên bên cạnh, nóng tính hơn, liền nói: “Cô gái kia nói đúng. Đã bị chôn sống thì sao còn đường sống?”
Tôi khẽ cười gượng. Văn hóa tang lễ Trung Hoa muôn hình vạn trạng, đúng là có nơi cũng có tục “chôn sống” như Hàn Tín, đem người bệnh nguy kịch chôn luôn, mong tổ tiên phù hộ. Nhưng “chôn sống” mà tôi nhắc tới chỉ là nghi lễ tượng trưng, chứ không phải thật sự vùi người xuống đất.
Vì sao phải dùng “chôn sống”? Một là vì Táng Kinh có điển tích tương tự; hai là bởi cô gái kia thật sự giống một “người chết còn sống”, tuổi thọ đã tận, nhưng không hiểu vì sao thân thể vẫn cầm cự. Có lẽ được tổ tiên phù hộ, hoặc có người nối mệnh cho nàng. Chỉ có nghi thức “chôn sống” mới có thể che mắt âm phủ, còn lại ra sao thì phải xem ý trời.
Phán đoán này dựa trên thuyết tam hồn thất phách. Theo Táng Kinh:
Tam hồn: Thai Quang, Sảng Linh, U Tinh.
Thất phách: Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, Xú Phế.
Thai Quang là dương khí thuần khiết, Sảng Linh là biến hóa của âm khí, U Tinh là tạp khí của âm, chính là “mệnh hồn” quen thuộc. Cô gái kia biến thành bộ dạng này, đa phần là thiếu U Tinh.
Muốn hồi phục, chỉ có nghi thức “chôn sống” mới có thể tạm thời “hạ táng”, thử cầu lại U Tinh từ âm phủ. Thành công hay không tôi chẳng dám chắc, nhưng ngoài cách này tôi không còn đường nào khác, tôi vốn chỉ là thợ khiêng quan, hiểu biết cũng chỉ quanh việc tang ma.
Tất nhiên, vạn vật đều có hai mặt. “Chôn sống” cũng có nguy hiểm: trong quan tài liệu đủ oxy không? Có thứ ô uế nào mò tới không? Nếu có, chẳng những cứu không nổi, mà còn khiến cô ấy mất mạng thật sự.
Nghe tôi phân tích xong, căn phòng chìm vào im lặng. Người phụ nữ trung niên liếc nhìn tôi từ đầu đến chân, chau mày, dường như đang cân nhắc xem có nên tin tưởng không.
Ngược lại, Kiều Y Tư lại nhìn tôi chằm chằm, tò mò hỏi: “Anh nhìn trạc tuổi tôi thôi, sao hiểu nhiều thế?”
Tôi chỉ cười khổ, không trả lời, im lặng chờ quyết định của người phụ nữ kia. Bà ấy đồng ý, tôi sẽ thử; nếu không, tôi quay lưng rời đi ngay, chẳng muốn tốn thêm thời gian.
Đúng lúc này, ngoài hành lang vang lên những bước chân gấp gáp. Tôi ló đầu nhìn ra, dẫn đầu là một thanh niên khoảng 27-28 tuổi, tóc dài rẽ ngôi giữa, mày rậm mắt sáng, gương mặt phảng phất nét phong sương vượt tuổi. Anh ta mặc áo blouse trắng tinh, giày da đánh bóng loáng. Sau lưng là cả đoàn bác sĩ và y tá. Nhìn khí thế ấy, hẳn thân phận của người trẻ kia không phải bác sĩ bình thường.
Reactions: Vit.hung.han, waitforyou3, AiRoiCungKhac and 14 others
Chương 56: Chôn sống (phần 3)
“Xin chào, tôi là Dương Ngôn, bác sĩ khoa Thần kinh của bệnh viện nhân dân tỉnh thành.” Vị bác sĩ vừa bước vào liền bắt tay tôi, nói: “Nghe nói con gái anh không có tim đập mà vẫn sống lại, tôi đã vội vã chạy suốt đêm đến đây chỉ để tận mắt chứng kiến! Không biết ý anh thế nào?”
Nghe xong tôi lập tức đen mặt, trong đầu hiện mấy vạch đen: Mẹ nó, tôi mới mười tám tuổi thì lấy đâu ra con gái lớn thế này? Tên này có bị vấn đề thần kinh không? Tôi liền nói: “Bác sĩ Dương, người kia mới là mẹ của cô ấy, tôi cũng giống như anh thôi, chỉ đến xem.”
Hắn quay đầu liếc nhìn người phụ nữ trung niên kia, không hỏi thêm gì, rồi quay sang đám bác sĩ, y tá phía sau: “Các người ra ngoài trước, tôi cần kiểm tra kỹ cô gái này.”
Nói xong, mặc kệ phản ứng của mọi người, hắn sải bước đến giường, hất tung chăn, thò tay chạm ngay vào ngực Vương Khiết. Hành động ấy, dáng vẻ ấy, không khiến người ta nghi ngờ mới lạ.
“Mẹ kiếp, đồ dê xồm, anh dám giở trò sàm sỡ chị Vương Khiết ngay trước mặt tôi!” Người nói chính là Kiều Y Tư. Cô ta đứng sát bên tôi, cách Dương Ngôn chỉ vài bước, liền giơ chân đá thẳng vào hắn.
“Bộp!” Một tiếng nặng nề, Dương Ngôn ngã lăn ra đất. Điều khiến tôi khó tin là hắn không hề tức giận, mà lại bò dậy, tiếp tục thò tay định chạm vào người Vương Khiết.
“Mẹ kiếp, đồ biến thái còn dám giở trò!” Kiều Y Tư lại tung thêm một cú đá, lần này còn mạnh hơn, hắn lại ngã sõng soài.
Hết lần này đến lần khác, Kiều Y Tư cứ thế đá liên tục, nhưng hắn chẳng hề nổi nóng, trái lại càng lúc càng phấn khích, vừa múa tay vừa gào lên: “Thật rồi, đây là thật! Hệ thần kinh con người quả thực quá thần kỳ!”
Đến lúc này, chúng tôi mới hiểu: hắn không phải muốn sàm sỡ Vương Khiết, mà là đang kiểm tra cơ thể cô ấy. Nhưng cũng chẳng trách chúng tôi hiểu lầm, bởi có bác sĩ nào vừa vào đã lột chăn, đưa tay sờ ngay ngực bệnh nhân đâu, không nghi ngờ mới lạ.
Tôi vội khoát tay ngăn Kiều Y Tư, rồi quay sang Dương Ngôn: “Ờ… bác sĩ Dương, có gì thì từ từ nói, xin đừng kích động!”
Hắn trừng mắt nhìn tôi, gắt: “Cậu hiểu cái rắm gì! Một cái xác thế này, nghìn năm khó gặp, sao tôi không kích động được?”
Câu đó vừa thốt ra, người phụ nữ trung niên lập tức giận dữ: “Ở đâu ra thứ bác sĩ lang băm, cút khỏi phòng bệnh của con gái tôi ngay!”
“10 ngàn tệ! Cho tôi mượn xác con gái bà nghiên cứu một tiếng!” Vừa nói, hắn vừa rút xấp tiền ném lên người bà.
Cái miệng hắn cứ gọi “xác, xác” khiến tôi còn bực, huống chi bà mẹ kia. Bà tức điên, vung ghế lên định nện hắn, mắng chửi: “Cút cho tao!”
Có lẽ nhận ra lỡ lời, hắn không trách bà mà vội vàng xin lỗi: “Bác à, là tôi quá kích động. Bà không biết đâu, con gái bà có thể nói là kỳ tích y học! Vừa rồi tôi mừng quá nên quên giải thích. Có lẽ… tôi có cách chữa trị cho cô ấy.”
“Anh có cách sao?” Mọi người đồng loạt hỏi.
Hắn gật đầu: “Nhịp tim, mạch đập thì tôi không thể khôi phục. Nhưng mấy đường gân xanh cùng da thịt tay chân của cô ấy, tôi có 40% khả năng khiến chúng hồi phục như trước.”
“Dì à, đừng tin hắn! Hắn chỉ muốn giở trò với chị Vương Khiết thôi!” Kiều Y Tư xen ngang.
Thú thật, trong lòng tôi cũng nghiêng về Kiều Y Tư. Cái dáng vẻ tóc dài lôi thôi của hắn đã toát lên sự chẳng ra gì. Người bình thường ai lại để tóc dài như thế?
Nhưng có một người lại không nghĩ thế, chính là người mẹ. Bà im lặng hồi lâu rồi hỏi: “Có thể khiến tay chân nó cử động trở lại không?”
“Nếu dây thần kinh tứ chi không tổn hại, theo y học thì khả năng là có!” Dương Ngôn nghiêm giọng đáp.
“Được, tôi tin anh!” Người phụ nữ gật đầu dứt khoát.
“Dì ơi, vậy còn chuyện Cửu Gia nói về ‘chôn sống’ thì sao?” Kiều Y Tư lo lắng hỏi.
Người phụ nữ liếc nhìn tôi, rồi lắc đầu: “Tôi tin bác sĩ, chôn sống quá nguy hiểm.”
Tôi hiểu được suy nghĩ ấy. Người bình thường ai mà tin chỉ nhờ một nghi thức chôn sống lại có thể chữa khỏi người đã mất tim, mất mạch? Nếu không tận mắt thấy trong “Táng kinh”, chính tôi cũng chẳng dám tin.
Tôi không còn tâm trí ở lại. Quay sang Kiều Y Tư, tôi hỏi: “Cô ở lại hay đi với tôi?”
Cô ta nhìn tôi rồi lại nhìn Vương Khiết, chau mày: “Tôi ở lại chăm sóc chị Vương Khiết.”
Tôi không nói thêm, chỉ đưa cô ấy mấy trăm tệ làm chi phí sinh hoạt, viết số điện thoại để lại, dặn có chuyện gì thì gọi cho tôi. Không ngờ cô ta vừa nhận tiền và số, liền bật khóc: “Cửu Gia, anh thật tốt…”
Tôi khoát tay: “Cô là con gái, một thân một mình nơi đất khách, lại sẵn sàng ở lại chăm sóc một người xa lạ, điều đó khiến tôi thấy ánh sáng nhân tính. Mấy thứ này chẳng đáng gì.”
Lời tôi thoạt nghe như nói với Kiều Y Tư, nhưng thực ra là nhắc khéo người mẹ kia: Cô bé này không bà con gì, mà vẫn muốn ở lại lo cho con gái bà, bà hãy trân trọng, đừng làm tổn thương lòng nó.
Nói thật, tôi không yên tâm để Kiều Y Tư ở lại. Vì sao? Vì bất luận là thuật cổ hay đạo pháp, trong mắt giới y học chính thống đều bị coi là tà đạo, chỉ có bác sĩ mới được xem là danh môn chính phái.
Sau vài câu an ủi, tôi rời phòng bệnh, đi thẳng đến quầy lễ tân làm thủ tục xuất viện. Tôi còn đặt thêm 10 nghìn tệ tiền đặt cọc ở phòng bệnh của Quách Béo, rồi vào đó ngồi trò chuyện. Nghỉ ngơi một đêm, sắc mặt nó đã khá hơn, thỉnh thoảng vẫn buông mấy câu bậy bạ cười cợt như thường.
Tôi ở lại đến trưa thì Lang Cao cùng cha của Quách Béo bước vào, mặt hai người rất nặng nề. Tôi hỏi có chuyện gì, Lăng Cao tức giận: “Sáng nay bắt được Lưu Khải đưa về, vậy mà đến trưa cấp trên gọi điện mắng té tát, nói rằng chưa ai chết cả, bắt cái rắm gì!”
Tôi nghe xong, chỉ im lặng. Lại ngồi thêm một lúc, rồi lặng lẽ bước ra ngoài. Lúc ra đến cửa, Quách Béo gọi với từ trong: “Cửu ca, em hiểu tính anh, nhưng vì loại người đó mà hại cả đời mình thì không đáng.”
Tôi gật đầu, rời khỏi bệnh viện, thẳng đường đến cửa hàng bia mộ. Lão Tưởng từng nói, có chuyện có thể nhờ A Đại giúp, bất kể họ đồng ý hay không, tôi cũng phải thử.
Đến nơi, trong tiệm chỉ có một người, chính là gã to con mấy hôm trước từng giao bia mộ. Chắc hẳn đây chính là A Đại mà lão Tưởng nhắc đến trong thư. Tôi không vòng vo, chỉ nói thẳng một câu: “Tôi có một kẻ thù, cảnh sát không làm gì được hắn. Nếu anh chịu đánh gãy tứ chi của hắn, từ nay về sau tôi sẽ là người của Tưởng gia.”

Chương 57: Chôn sống (Phần 4)
“Vì sao tôi phải giúp cậu?” A Đại ngẩng đầu liếc nhìn tôi một cái, nhạt giọng nói.
Tôi rút lá thư của lão Tưởng ra, giơ lên trước mặt hắn, nói: “Đây là việc lão Tưởng giao xuống. Làm hay không thì tùy anh! Nếu lão trách tội, đừng nói tôi không nhắc trước.”
Nói xong, tôi quay người rời khỏi tiệm bia mộ. Tôi đang đánh cược, cược rằng A Đại chưa từng xem lá thư này, cược rằng lão Tưởng cũng chưa từng nhắc đến tôi trước mặt hắn. Còn việc sửa trị ai, tôi tin chắc bọn họ thừa hiểu. Nếu ngay cả việc nhỏ này cũng làm không xong, e là lão Tưởng cũng chẳng giữ bọn họ bên mình làm gì, thân phận của lão vốn dĩ đã đặt ở đó rồi.
Sau đó, tôi ghé một tiệm gần đó mua hai cặp rượu trắng coi như tạm ổn, rồi thuê một chiếc xe máy trở về thôn Ấu Tử. Cha thấy tôi, tâm trạng vô cùng vui mừng. Nhìn vết thương trên mặt tôi, ông hỏi sao lại thế, tôi chỉ nói bị ngã. Cha nhìn tôi một lúc lâu rồi bảo: “Sau này đừng nóng nảy nữa.”
Nghe giọng điệu của cha, ông hẳn biết chuyện tôi đánh nhau rồi. Tôi cũng không vạch trần, chỉ vội ăn một bữa cơm ở nhà, mang một cặp rượu qua cho lão Vương để tỏ lòng cảm ơn, lại mang một cặp khác sang biếu lão Tú tài, hỏi ông ta vài điều về chuyện chôn sống. Tiếc là lão Tú tài nói ông không am hiểu mấy chuyện đó.
Ba ngày liền ở thôn Ấu Tử đều yên ả, cho đến chiều tối ngày thứ tư thì lão Vương gõ cửa phòng tôi, hớn hở nói: “Tiểu Cửu, Lưu Khải bị người ta đánh gãy tứ chi, giờ đang được đưa vào bệnh viện huyện. Không biết vị cao nhân nào đã thay Bát Tiên báo thù lớn như vậy.”
Tôi cười nhạt: “Làm nhiều chuyện xấu thì ắt có báo ứng. Lần này e là báo ứng của hắn thôi.”
“Cũng phải, mấy năm nay hắn đắc tội với không ít người, bị đánh cũng chỉ là sớm muộn. Chỉ không ngờ lần này người ta ra tay quá ác, đánh gãy hết cả tay chân. Nửa năm cũng chưa chắc xuống giường nổi!” lão Vương chậm rãi nói.
“Sao? Ông còn thương hại hắn à?” tôi hỏi.
“Không phải thương hại, chỉ lo rằng hắn bị thương nặng thế, chờ lành lại thì e kẻ ra tay sẽ gặp họa. Thủy Vân chân nhân đâu phải hạng dễ chơi.”
“Này, tiểu Cửu… không phải cậu nhờ người đánh đấy chứ?” lão Vương nhìn tôi lo lắng.
“Tôi có bản lĩnh đó sao?” tôi xòe tay, làm vẻ chẳng liên can.
Lão Vương nhìn tôi một hồi lâu, rồi lắc đầu: “Cậu không có bản lĩnh ấy. Mấy kẻ ra tay, nhìn qua là biết hắc đạo ngoài xã hội. Một thằng thợ khiêng quan tài như cậu sao làm nổi. Xem ra tôi lo xa rồi.”
Nói xong, lão lắc đầu bỏ đi. Tôi cũng chẳng giải thích, nằm trên giường, buồn chán lôi điện thoại ra. Hồi còn đi học, tôi có đăng ký một tài khoản QQ, tình cờ chiếc điện thoại cà tàng này lại vào được. Tôi nhập số, đăng nhập thử, muốn xem lại đám bạn học cũ giờ sống thế nào.
Vừa đăng nhập xong, điện thoại liền vang lên “tít tít tít”. Tôi vội mở ra xem, nhìn thấy cái nick kia mà sững người – Cunese (Nhớ cũ). Đó là biệt danh của bạn gái cũ. Tin nhắn chỉ có hai:
“Có đó không?”
“Tôi thất tình rồi, muốn tự tử.”
Dù một người đàn ông thành đạt đến đâu, trong lòng anh ta vẫn giữ một ký ức đẹp, và phần lớn đó chính là mối tình đầu. Tôi, một thằng khiêng quan tài, cũng có một ký ức như thế, chính là Cunese, Trình Tiểu Trình.
Chúng tôi yêu nhau từ năm lớp 10. Khi đó, cô ấy chẳng mấy nổi bật trong trường, thành tích bình thường, nhan sắc cũng chỉ nhỉnh hơn trung bình. Còn tôi, ngoài gia cảnh nghèo thì các mặt khác cũng tạm. Hai đứa coi như “kẻ tám lạng, người nửa cân”, vừa gặp đã hợp nhau, từ quen biết, thân thiết đến yêu nhau, chỉ mất chừng một tháng rưỡi.
Nhưng sau đó, tôi sa đà vào việc tìm kiếm Lục Đinh Lục Giáp, thành tích tụt dốc, trong khi cô ấy lại thay đổi lạ thường, đúng nghĩa “con gái mười tám thay da đổi thịt”. Từ một cô gái bình thường của năm lớp 10, sang năm lớp 11 đã thành hoa khôi của trường. Chỉ mất đúng một năm.
Theo cách nói bây giờ, mối tình của chúng tôi chính là trai nghèo – gái thần tiên. Đời thực chẳng như tiểu thuyết, tình yêu đâu có kiên cố đến vậy. Cô ấy đã chạy theo một công tử con nhà giàu. Sau đó, Quách Béo biết chuyện, kéo tôi đi tìm thằng đó đánh nhau, kết quả là cả hai chúng tôi bị nó gọi xã hội đen đến đánh cho một trận thừa sống thiếu chết.
Đến tận giờ tôi vẫn nhớ rõ: hôm ấy, Trình Tiểu Trình đứng bên cạnh, nhìn tôi và Quách Béo bị đánh, vừa vỗ tay vừa mắng: “Trần Cửu, anh đúng là thằng đàn ông vô dụng. Nhìn người bên cạnh tôi đây, Chu Khai Nguyên, mới 17 tuổi đã tự mình khởi nghiệp. Còn anh? Suốt ngày mơ mộng hão huyền. Sống để làm gì? Chết quách đi cho rồi!”
Cô ấy vô tình, nhưng tôi không thể vô nghĩa. Nhìn màn hình điện thoại rất lâu, cuối cùng tôi nhẹ nhàng bấm vài chữ: “Có đây.”
Chờ hơn nửa tiếng, avatar QQ vẫn không sáng. Tôi bắt đầu sốt ruột. Trước đây, sở thích duy nhất của cô là trò chuyện trên QQ, lẽ ra lúc nào cũng online. Tôi lại gõ thêm: “Cậu có đó không?”
Nửa tiếng nữa trôi qua, vẫn chẳng động tĩnh. Tôi không kìm được, gửi liền mấy tin: “Cậu đang làm gì thế?” “Sao không trả lời?”
“Đừng nghĩ quẩn nhé, cậu còn trẻ đẹp, dù thất tình vẫn còn nhiều chàng trai tốt đang chờ phía trước.”
“Này, mau nói gì đi chứ, đừng dọa tôi vậy.”

Liên tục bảy tám tin nhắn, như đá ném xuống biển, chẳng có hồi âm. Tôi vội gọi cho Quách Béo, nó bảo Trình Tiểu Trình mới học lớp 12 được một tuần thì đã bỏ học.
Lời của nó như dội một gáo nước lạnh vào tôi, lạnh thấu tim. Tôi mở lại điện thoại, nhìn thời gian gửi tin nhắn, đã bốn ngày trước rồi. Xong rồi… chắc chắn cô ấy đã tự tử. Tôi hiểu rõ tính cô, đã nói là làm. Cô ấy nói muốn chết thì tám, chín phần là thật.
Đúng lúc đó, điện thoại reo. Là số lạ. Tôi không nghĩ ngợi liền bắt máy. Trong loa vang lên một giọng vội vã, là Kiều Y Tư: “Là Cửu gia phải không? Chị Vương Khiết sắp chết rồi, anh mau đến xem đi!”
“Bác sĩ Dương chẳng phải nói chữa được sao?” tôi sững người. Ba ngày nay vẫn yên ổn, sao bỗng dưng lại có chuyện?
“Chân tay chị ấy chữa xong rồi, hôm qua còn đi lại được. Nhưng giờ kinh mạch tắc hết, cả người liệt, không nói nổi nữa! Hô hấp cũng ngày một yếu, sắp không qua nổi rồi!” nói đến đây, Kiều Y Tư nghẹn ngào bật khóc.
“Được, tôi đến ngay!” tôi vội cúp máy, thay đồ, báo với cha một tiếng rồi chạy thẳng ra đường lớn. Vừa chạy vừa gọi cho Quách Béo, nhờ nó dò la tin tức về Trình Tiểu Trình.
Thôn Ấu Tử khá hẻo lánh, ít khi có xe máy chạy qua. Tôi đứng bên đường chờ suốt hai mươi phút, cuối cùng cũng chặn được một chiếc. Chưa kịp mặc cả giá, tôi đã hối hả nói: “Đến bệnh viện trấn trên!”

Chương 58: Chôn sống (5)
Nửa tiếng sau, tôi đến bệnh viện, đi thẳng tới phòng bệnh nơi Vương Khiết đang nằm. Bên ngoài vây kín người, chen vào là chuyện không thể. Tôi quan sát một vòng trong viện, thấy không xa có đặt một bình đun nước nóng cho bệnh nhân, bên cạnh để một chiếc bình giữ nhiệt.
Tôi bước lại, rót đầy một bình nước sôi rồi tất tả đi về phía phòng bệnh kia, vừa đi vừa hô to: “Đưa nước sôi tới đây, không có nắp đậy, bị bỏng thì tôi không chịu trách nhiệm đâu nha!”
Không ngờ chiêu này hiệu quả ngay tức thì, đám người nghe thế liền nhường ra một lối đi cho tôi. E rằng ngay cả chủ tịch thị trấn đến cũng chưa chắc có đãi ngộ này.
Vào đến phòng, Dương Ngôn đứng ngẩn ngơ một bên, mái tóc dài bay bổng thường ngày giờ đã mất đi vẻ bóng mượt. Miệng hắn lẩm bẩm không ngừng: “Không thể nào, không thể nào…”
Kiều Y Tư thì đứng cạnh, khẽ nức nở. Người phụ nữ trung niên ngồi trên đầu giường, nắm chặt tay Vương Khiết, gào khóc thảm thiết: “Con gái ơi, con không thể chết được đâu!”
Thấy tôi bước vào, cả phòng đều sững lại. Người phụ nữ trung niên vội vã đứng lên, chạy về phía tôi. Vì đi quá gấp, bà ta trượt chân ngã sõng soài, mặt mũi cắm xuống đất.
Tôi vội vàng đỡ bà dậy, nào ngờ bà lại quỳ sụp xuống trước mặt tôi, sống chết không chịu đứng lên, vừa khóc vừa nói: “Cửu gia, tôi xin cậu, nhất định phải cứu con gái tôi. Trước kia là tôi có mắt không thấy Thái Sơn, tôi đáng chết, tôi đáng chết!”
Nói rồi, bà ta giơ tay tự tát vào mặt mình.
Một tiếng “Cửu gia” này làm tôi thấy xấu hổ, nhưng tình thế cấp bách, tôi không muốn tranh cãi nhiều. Bèn bảo Kiều Y Tư an ủi bà, còn mình đi đến bên giường Vương Khiết.
Tôi ngẩn người mấy giây, sao lại thành ra thế này?
Chỉ thấy Vương Khiết yếu ớt nằm trên giường, ánh mắt đờ đẫn, mặt trắng bệch, tứ chi co giật không ngừng. Miệng cô không ngừng phun ra những chất bẩn tanh hôi, rõ ràng thân thể vốn chỉ ăn được cháo loãng, vậy mà thứ cô nôn ra lại toàn là dịch đen đặc quánh, xen lẫn cả chất nhầy như nước mũi, nhìn vô cùng kinh tởm.
Điều kỳ quái hơn là âm thanh phát ra từ miệng cô: “gừ… gừ…” nghe cứ như tiếng đờm mắc kẹt trong cổ họng một ông lão, khạc không ra mà nuốt cũng chẳng xong, tuyệt đối không phải âm thanh mà một cô gái trẻ có thể phát ra.
“Tình hình gì đây?” Tôi ngẩng lên, lạnh giọng hỏi Dương Ngôn.
Hắn cười gượng: “Hôm đó cậu đi rồi, tôi dùng X-quang xem tình trạng kinh mạch, phát hiện bên trong đều bị máu đen đông lại tắc nghẽn, nên tôi làm chụp cản quang, tình hình vẫn không cải thiện. Sau đó, tôi tiến hành một lần ‘làm sạch mạch máu’, đưa toàn bộ chất đó ra ngoài. Ngày hôm sau, cô ấy còn có thể xuống giường đi lại chút ít. Ai ngờ… bây giờ lại thành ra thế này. Tôi đã dùng tất cả kiến thức y học của mình mà không có chút hiệu quả nào, trái lại bệnh tình ngày càng nặng thêm.”
Tôi trừng mắt nhìn hắn: “Thứ anh lấy ra, ban đầu màu đen, rơi xuống đất thì biến thành màu bùn, đúng không?”
Hắn giật mình kêu lên: “Làm sao cậu biết?!”
Mẹ kiếp, quả nhiên là vậy. Cái tên bác sĩ thần kinh chết tiệt này chẳng hiểu gì cả, lại còn dám tùy tiện loại bỏ thứ đó, đúng là hại người không ít! Tôi càng nghĩ càng tức, giơ nắm đấm đập thẳng vào mặt hắn, gào lên: “Đồ ngu! Cái gì cũng không hiểu thì đừng có tự tin vớ vẩn rằng mình chữa được! Anh đã loại bỏ trọc khí trong cơ thể cô ấy, vậy chẳng khác nào thúc đẩy tốc độ tử vong!”
“Tôi chữa trị theo góc độ y học, máu cục tắc trong mạch thì phải loại bỏ, sao tôi biết đó gọi là ‘trọc khí’ gì chứ?” Hắn ôm mặt, lắp bắp.
Tôi tức giận quát: “Con người có tam hồn: Thai Quang, Sảng Linh, U Tinh. Cô ấy vốn còn hai hồn đầu, chỉ tứ chi không cử động nổi, tức là thiếu U Tinh. Anh biết U Tinh là gì không? Chính là cái mà các người gọi là nhịp tim! Không có U Tinh thì con người sẽ chết. Anh có biết vì sao cô ấy vẫn chưa chết không? Là vì tổ tiên cô ấy có cao nhân, đã gieo vào cơ thể một luồng trọc khí, nhằm kéo dài thời gian sống cho cô ấy. Vậy mà anh lại ngu xuẩn đến mức loại bỏ nó!”
Càng nói tôi càng giận, mặc kệ thân phận hắn là ai, lại giáng thêm hai cú đấm.
“Cậu đang tuyên truyền mê tín phong kiến! Người bệnh thì phải đến bệnh viện điều trị, sao có thể trông chờ vào tổ tiên phù hộ? Nếu như ai cũng như vậy thì bệnh viện Trung Quốc dẹp tiệm hết rồi. Tôi đã giải phẫu hơn trăm thi thể, chẳng thấy con ma nào cả. Vậy mà cậu dám đem cái lý thuyết hoang đường đó ra trước mặt tôi?” Hắn phản bác kịch liệt, giọng ngày càng lớn. “Đường đường là trưởng khoa thần kinh thành phố tỉnh, tôi lại thua một thằng nhóc vắt mũi chưa sạch à?”
Tôi không buồn tranh cãi với hắn nữa, bác sĩ và tôi vốn không thể nào nói cùng một thứ ngôn ngữ. Quay sang người phụ nữ trung niên, tôi hỏi: “Bà tin tôi không?”
Bà ta gật đầu lia lịa như gõ trống: “Tin! Tin chứ! Cậu nói gì tôi cũng tin!”
“Vậy được. Lập tức làm thủ tục xuất viện, đưa cô ấy về quê, chúng ta phải tiến hành lễ chôn sống ngay, hy vọng còn kịp cứu.”
Nói xong, tôi vòng qua Dương Ngôn, bước tới chỗ Kiều Y Tư, hỏi: “Loại cổ trùng mà cô nói, có thể giữ lại khí tức cho người không?”
“Loại cổ kia thì không. Nhưng nếu dùng bản mệnh cổ của tôi thì có thể tạm giữ lại sinh khí, ngăn không cho thoát ra ngoài. Nhưng… bản mệnh cổ không thể rời khỏi thân thể tôi quá lâu, nhiều nhất nửa ngày. Nếu vượt quá, bản mệnh cổ sẽ chết, tôi cũng sẽ chết theo.” Kiều Y Tư nhìn Vương Khiết trên giường, giọng chan chứa nỗi buồn.
Tôi biết rõ bản mệnh cổ với một cổ sư quý giá cỡ nào, chẳng khác gì sinh mệnh. Thông thường, họ hiếm khi vì người ngoài mà đem ra cứu. Kiều Y Tư lại sẵn sàng vì một người xa lạ… Nói cô ấy ngốc, hay nói cô ấy thuần khiết đây?
“Cô thật sự muốn dùng bản mệnh cổ sao?” Tôi nhìn chằm chằm vào cô, hỏi.
“Tôi không muốn nhìn thấy chị Vương Khiết chết. Lúc nào cần hạ cổ, anh cứ nói với tôi.” Kiều Y Tư bước lên vài bước, đứng bên giường Vương Khiết, hành động đã chứng minh quyết tâm.
“Còn Dương Ngôn, anh đứng ngẩn ra đó làm gì? Mau tiêm thuốc an thần cho cô ấy! Nôn thêm nữa thì ngay cả gan cũng ói ra mất!” Tôi quát hắn một tiếng. Mẹ kiếp, cái kiểu này mà cũng làm trưởng khoa thần kinh tỉnh thành? Chắc chắn nhờ có quan hệ chính trị, chứ tài cán gì.
“Ờ…” Hắn thất thần bước ra ngoài, chẳng bao lâu lại quay vào, tiêm cho Vương Khiết một mũi an thần. Cơn nôn dừng lại, nhưng tứ chi vẫn co giật không ngừng, hơi thở thì ngày càng yếu ớt.
Không thể chần chừ, chỉ còn cách đưa về quê làm lễ chôn sống. Nhân lúc người phụ nữ trung niên đi làm thủ tục xuất viện, tôi chạy ra phố thuê một chiếc xe van nhỏ. Nói sơ qua tình hình với tài xế.
Vừa nghe phải chở người sắp chết, lập tức chẳng ai chịu nhận. Ai nấy đều bảo chở như thế sẽ xui xẻo, rước vận đen vào người. Tôi vòng vèo khắp thị trấn suốt nửa ngày, vậy mà không có nổi một người chịu lái, lòng người, đúng là lạnh lẽo vô tình.

Chương 59: Chôn Sống (Phần 6)
Bất đắc dĩ, tôi quay lại bệnh viện, vừa vặn gặp Dương Ngôn đi ra. Thấy tôi mặt mày ủ rũ, hắn hỏi có chuyện gì. Tôi kể ở trấn nhỏ này không có xe cứu thương, mấy xe khách nhỏ thì lại không chịu chở người, giờ chẳng biết làm sao đưa Vương Khiết về quê.
Hắn ta suy nghĩ một chút, rồi nói: “Chuyện này tôi cũng có trách nhiệm. Tôi chở các người về quê đi!”
Tôi gật đầu, không hỏi thêm gì nữa, liền cùng hắn quay lại phòng bệnh đưa Vương Khiết ra xe. Lúc chúng tôi vào, người phụ nữ trung niên kia đã làm xong thủ tục xuất viện. Vài người chúng tôi kiếm được một cái băng ca trong bệnh viện, rồi đưa Vương Khiết lên xe.
Ra tới nơi, tôi mới thấy xe này không tệ, dân quê chúng tôi không rành mấy hiệu xe, chỉ biết logo có bốn vòng tròn. Nội thất bên trong sang trọng, thoải mái hơn hẳn mấy cái xe khách nhỏ.
Tình trạng của Vương Khiết đặc biệt, nên để cô ấy nằm thẳng ở ghế sau, người phụ nữ trung niên ngồi bên cạnh chăm sóc. Tôi và Kiều Y Tư thì ráng chen chúc ở ghế phụ. Ở quê làm gì có cảnh sát giao thông, cũng chẳng có đèn đỏ. Ghế phụ mà ngồi hai người thì cũng chẳng ai quản, thậm chí có buộc người lên mui xe cũng không sao.
Chiếc xe khởi động êm ru, không hề có tạp âm, đúng là xe xịn. Trên đường đi, tôi gọi điện cho lão Vương nhờ tìm vài ông bát tiên tối nay tới Vương Trang khiêng quan tài. Tôi cũng gọi cho vị đạo sĩ từng giúp lần trước, nhưng ông ta nói không dám vào trấn chúng tôi hành đạo, vì Thủy Vân Chân Nhân đã ra lệnh: đạo sĩ nào dám tới đây làm pháp sự thì coi như gãy chân!
Mẹ kiếp, tôi thật sự muốn nổi giận. Đám đạo sĩ rởm này ngày càng ngông cuồng. Cứ tình hình này, tang sự ở trấn chúng tôi thật sự sẽ bị bọn Thủy Vân độc chiếm. Cuối cùng, tôi cắn răng quyết định tự mình ra trận, dù sao mấy nghi lễ đó tôi cũng biết làm.
Gọi điện xong, tôi cứ mở QQ kiểm tra mãi, nhưng icon của Trình Tiểu Trình vẫn xám xịt. Tôi thấy lo, nhưng ngoài QQ thì không có cách nào liên lạc khác, chỉ còn biết nhẫn nại chờ. Kiều Y Tư hình như nhìn ra tôi có tâm sự, bèn huých tay vào tôi, hỏi: “Cửu gia, không sao chứ?”
Tôi lắc đầu: “Không sao.”
Xe xóc nảy chừng bốn mươi phút, chúng tôi tới Vương Trang, ngôi làng của Vương Khiết. Lúc ấy khoảng chín giờ tối.
Vương Trang là thôn nhỏ, chỉ có ba hộ gia đình, nhưng nhà cửa xây dựng khang trang hơn hẳn làng tôi, nhìn bề ngoài cũng thấy giàu hơn nhiều.
Đèn xe rọi sáng cả làng, ở cổng làng có một người đàn ông đứng đó, chính là cha của Vương Khiết. Ông thấy chúng tôi xuống xe thì cảm ơn rối rít. Chúng tôi không có thời gian nói nhiều, năm người liền khiêng Vương Khiết vào cửa chính nhà thờ họ, trải hai tấm chăn bông xuống đất rồi đặt cô ấy nằm lên.
Tôi đưa tay kiểm tra hơi thở, cực kỳ yếu, sắp tắt thở đến nơi. Tôi vội bảo Kiều Y Tư hạ cổ trùng, giữ lại chút sinh khí cho cô ấy.
Việc hạ cổ vốn không cho người ngoài nhìn thấy, tôi cũng chẳng rảnh canh chừng, chỉ bảo Kiều Y Tư tự làm, có gì bất thường thì gọi tôi.
Chôn sống khác hẳn tang lễ bình thường, việc chuẩn bị nhiều hơn rất nhiều. Lão Vương và mấy người kia chưa kịp tới, một mình tôi xoay xở chắc chắn không kham nổi, bèn nhờ Dương Ngôn phụ một tay. Vị bác sĩ tóc dài này vừa nghe phải làm chân sai vặt thì cực kỳ khó chịu, làu bàu: “Làm gì có chuyện trưởng khoa lại đi làm tay sai cho thằng nhóc ranh?”
Cuối cùng không còn cách nào, tôi bèn cược với hắn: “Nếu tôi cứu được cô ấy, anh phải làm đàn em tôi ba năm, được không?”
Hắn ta đồng ý ngay, còn tự tin nói: “Đừng nói ba năm, mười năm cũng được. Nếu cậu cứu được cô ấy, tôi làm đàn em mười năm. Nếu cậu thua, chỉ cần đưa tôi một đồng thôi.”
Tôi hiểu ngay đây là chiêu khích tướng, cố tình chọc giận tôi. Nếu Vương Khiết chết, hắn ta cũng khó tránh trách nhiệm. Tôi không vạch trần, chỉ nhận lời cược.
Làm nghề này, bước đầu tiên khi tới là phải thương lượng tiền bạc với gia chủ. Không phải vì tôi tham, mà đó là quy củ. Có giá cả rõ ràng thì mới trả công cho anh em, cũng tránh chuyện cãi cọ sau này, kẻo đắc tội thần linh.
Nhà chủ vì chạy chữa cho con gái đã tốn kém quá nhiều, trong nhà chẳng còn bao nhiêu, nên chỉ đưa giá ba ngàn, mọi vật dụng họ tự chuẩn bị. So với tang lễ bình thường, số tiền này hơi thấp, huống chi đây còn là chôn sống. Nhưng nghĩ đến hoàn cảnh nhà họ, tôi cũng không định kiếm chác, miễn lão Vương và mấy người khác hài lòng là được, phần còn lại tôi tự chịu.
Vì tôi đã gọi điện dặn từ trước, chủ nhà đã mua sẵn một cỗ quan tài lớn, sơn đen, đặt ngay giữa nhà. Nhìn qua thì giống quan tài bình thường: bên ngoài sơn đen, bên trong sơn đỏ.
Theo sách vở về mai táng, chôn sống kỵ nhất là thấy màu đỏ. Không còn cách nào khác, tôi đành lấy sơn đen trét phủ bên trong, rồi dùng máy sấy thổi khô. Sau đó, tôi dùng dao nhỏ khắc một ký hiệu 卐 (chữ Vạn trong tiếng Phạn) lên nắp quan, đây là dấu để trấn tà.
Xong xuôi, đến bước điểm trang cho người chết. Tôi bảo gia chủ mổ một con chó đen, lấy máu trộn với mực tàu cho đến khi máu chuyển màu đen.
Ông ấy hỏi tác dụng là gì, tôi giải thích: “Chôn sống là để cho quỷ sai địa phủ trông thấy. Phải trang điểm cho người chết thật xấu xí, để quỷ sai chán ghét, không muốn để ý, như vậy mới qua mắt được. Còn máu chó đen là để trừ tà, ngăn không cho cô hồn dã quỷ chiếm xác của Vương Khiết.”
Nghe xong, gia chủ vội mổ chó. Chẳng bao lâu đã mang tới một bát máu chó nóng hổi, trong đó đã pha sẵn mực. Tôi bèn bảo ông và Dương Ngôn đi chặt ít tre về dựng linh đường.
Tôi bê bát máu chó đen vào nhà, thấy Kiều Y Tư đang dựa vào cửa lớn, sắc mặt trắng bệch, thở dốc liên hồi, rõ ràng là bản mệnh cổ đã chuyển sang người Vương Khiết.
Tôi đặt bát máu chó xuống cạnh Vương Khiết, rồi đi tới bên Kiều Y Tư, khẽ hỏi: “Cô không sao chứ?”
Con người Kiều Y Tư này tôi vẫn chưa hiểu rõ. Lúc mới gặp, tính tình bốc đồng, khó mà chịu nổi. Nhưng tiếp xúc lâu dần, tôi nhận ra cô cũng có mặt dịu dàng, ít nhất là đối với Vương Khiết.
“Tôi không sao. Cửu gia, nhất định phải cứu sống chị ấy.” Kiều Y Tư gắng gượng lấy lại chút tinh thần, cố dịch người về phía tôi.
“Ừ, chỉ cần cổ bản mệnh của cô giữ được hơi thở, chắc là cứu được.” Tôi nhìn ra sự quan tâm của cô dành cho Vương Khiết là thật lòng, không hề giả dối. Thế nên tôi không nói chắc chắn, sợ lỡ có chuyện ngoài ý muốn lại làm cô đau lòng.
“Ừ… cảm ơn.” Giọng cô vô cùng chân thành.
Lời cảm ơn này khiến tôi sững lại. Tôi không biết nên đáp thế nào. Bởi cô giúp Vương Khiết là vô tư, còn tôi thì nhận tiền. Có lẽ đứng ở vị trí khác nhau, suy nghĩ cũng khác. Tôi khẽ lau mồ hôi lạnh trên trán cô, nói: “Yên tâm, tôi sẽ cố hết sức.”

Chương 60: Chôn sống (7)
An ủi Kiều Y Tư xong, tôi đi đến bên cạnh Vương Khiết. Nhờ có bản mệnh cổ mà sắc mặt cô ấy đã hồng hào hơn một chút, trông đỡ hơn trước nhiều, hơi thở cũng dần dần ổn định lại. Tôi tìm một cây bút lông, chấm ít máu chó đen, bắt đầu bôi vẽ lên mặt cô ấy.
Từ nhỏ tôi đã không có chút năng khiếu hội họa nào, ngay cả vẽ một đường thẳng cũng chẳng ra hồn, nên tay nghề thì có thể tưởng tượng ra được. Trên mặt cô ấy, tôi cứ thế mà nguệch ngoạc, cuối cùng cũng coi như xong. Nhìn kỹ lại, cả khuôn mặt đen sì sì, cực kỳ xấu, đến nỗi đừng nói người nhìn thấy, e rằng ma quỷ mà thấy cũng phải giật mình.
Cất bút lông đi, tôi bảo người phụ nữ trung niên cởi bỏ quần áo trên người Vương Khiết, rồi từ đầu đến chân dội cho cô ấy một lượt máu chó đen, sau đó mặc cho cô ấy bộ áo tang đã chuẩn bị sẵn.
Bộ áo tang này mua tạm nên không vừa, mặc vào hơi rộng. Tôi dùng dây đen buộc chặt ống tay và ống quần lại, rồi thắt ngang eo một sợi dây gai, buộc thành một cái nơ bướm.
Mọi thứ vừa chuẩn bị xong thì lão Vương dẫn bảy “bát tiên” đến, toàn là người quen, cả Cao Lão cũng có mặt. Thấy tôi, họ hỏi ngay: “Lại có người thành phố muốn chôn ở quê à?”
Tôi lắc đầu, chỉ về phía Vương Khiết nằm bên cạnh, nói: “Lần này chôn người sống, có tự tin không?”
“Cái gì? Cậu điên rồi à, chôn sống người!” Lão Vương hét lên một tiếng, nhìn theo hướng tay tôi chỉ, vừa thấy đã giật mình lùi liền mấy bước, giọng run run: “Cái thứ quỷ quái gì đây.”
“Người sống, vẫn còn hơi thở. Lần này là chôn sống để cứu người!” Tôi sơ lược kể lại tình trạng của Vương Khiết cho họ nghe.
Nghe xong, họ không nói gì thêm, liền đồng ý. Chỉ có Cao Lão hơi lo lắng: “Trần Bát Tiên, chôn sống đâu phải chuyện đùa, nếu làm sai nghi thức, bị quỷ sai bắt gặp thì chúng ta chẳng khác nào thành hung thủ, tội nghiệp nặng nề lắm.”
Tôi khoát tay: “Tôi biết chừng mực, tuyệt đối sẽ không làm liên lụy đến các anh.”
Mấy bát tiên này đều quen thân với tôi, ít nhiều cũng hiểu tính cách tôi, nghe tôi nói vậy liền không phản đối nữa, lập tức vào nhà khiêng quan tài ra đặt trong gian chính, chuẩn bị để Vương Khiết vào đó.
Chôn sống không được để quan tài chạm đất, tôi tìm hai chiếc ghế dài đặt ở giữa gian nhà chính, rồi nhờ lão Vương và mấy bát tiên đặt quan tài lên trên. Sau đó, tôi mang một cái bàn bát tiên đặt phía đuôi quan tài, trên đó bày ảnh của Vương Kiệt cùng tam sinh (heo, gà, cá).
Mọi việc xong xuôi, tôi làm theo nghi thức nhập liệm bình thường, đặt một số đồ vật vào trong quan tài, chỉ khác là tất cả đều được tẩy rửa bằng máu chó đen, thứ nào cũng đen sì sì.
Nếu không nhờ ánh đèn, nhìn từ xa thì quan tài chẳng khác nào một khối gỗ đen kịt đặc ruột.
“Trong gian chính đừng để ai ở lại, các anh ra đây, tôi có chuyện muốn dặn.” Tôi gọi mấy bát tiên ra ngoài.
“Làm gì thế? Nắp quan tài còn chưa đậy mà!” Lão Vương vừa đi ra vừa lẩm bẩm.
Tôi ra hiệu im lặng, liếc nhìn quan tài trong nhà rồi nói nhỏ: “Chôn sống kiêng nhất là tiếng người. Nếu phát ra âm thanh, để quỷ sai phát hiện chúng ta giả vờ, hồn phách của chúng ta sẽ bị bắt đi hết. Lát nữa sau khi nhập liệm, ai ở trong gian chính cũng không được nói một câu, nếu không thì tự gánh hậu quả.”
Đừng coi thường chuyện “không được nói” này, thực hiện rất khó. Vì phải ở trong gian chính không chỉ vài phút, mà tận mấy canh giờ, trong lúc làm lễ lại nhiều việc, chỉ cần lỡ miệng là xong.
Thấy mặt họ hơi biến sắc, tôi liền nói thêm: “Lần này tôi đã bàn với chủ nhà, tiền công là ba nghìn. Các anh chia nhau, mỗi người hơn ba trăm, tôi không lấy một đồng, coi như làm việc thiện. Các anh cũng đừng từ chối, đây là phần các anh nên hưởng.”
Một đêm kiếm hơn ba trăm, quả là khoản thu nhập không tệ.
Họ ngẩn ra một chút, lão Vương hỏi tiếp: “Tiểu Cửu, ngoài những điều đó còn kiêng kỵ gì nữa không?”
Tôi nghĩ ngợi. Trong “Táng kinh” nói rằng chôn sống cũng gần giống tang sự, chỉ khác vài thủ tục, kiêng kỵ thì nhiều hơn một chút. Dù sao quỷ sai cũng không phải thần tiên, không thể tỉ mỉ kiểm tra từng đám tang, chỉ cần giống thật thì sẽ qua mắt được. Tôi đáp: “Không còn gì nữa. Chỉ cần chúng ta làm tang lễ giống hệt, là có thể lừa được quỷ sai, cứu được cô gái kia.”
“Dễ vậy sao?” Lão Vương hoài nghi hỏi.
Tôi không biết phải trả lời thế nào. Chôn sống vốn còn phụ thuộc vào âm đức của tổ tiên mỗi người. Nhà Vương Khiết chắc cũng tích được không ít âm đức, nếu không thì cơ thể cô ấy đã không sinh ra trọc khí như vậy.
Điều tôi cần làm là tiến hành đầy đủ các bước, khiến quỷ sai tin rằng cô ấy đã chết, sau đó chôn xuống đất một canh giờ, để sinh khí nơi mộ trường thấm vào cơ thể, khôi phục sinh cơ.
Chuyện này mà giải thích thì không có hồi kết, nên tôi chỉ gật đầu: “Theo lý thì có thể cứu được.”
Lão Vương không hỏi thêm. Họ nhìn nhau một cái rồi đồng loạt gật đầu, coi như chấp nhận công việc này.
Tôi thở phào, thực sự sợ họ bỏ đi vì kiêng kỵ, đến lúc đó quan tài chẳng ai chịu khiêng.
Sau đó, tôi nhờ lão Vương đi báo cho người nhà Vương Khiết, dặn họ gọi thêm hai hộ trong làng đóng cửa ở yên, nếu xảy ra sai sót thì chúng tôi không chịu trách nhiệm.
Lão Vương đi rồi, tôi hỏi đám Cao Lão: “Còn chỗ nào chưa rõ không?”
Họ lắc đầu. Tôi gật gù, quay sang Vương Khiết, không biết cô ấy có nghe thấy hay không, nhưng vẫn thử nói: “Thấy bóng tối thì đừng sợ, ngủ một giấc là qua. Khi tỉnh lại, cô sẽ có thể nói, có thể đi lại.”
Nói xong, tôi nhờ mấy bát tiên giúp đặt Vương Khiết vào trong quan tài. Sợ tiếng trống đầu tiên làm kinh động hồn phách cô ấy, tôi tìm một con dao mổ heo, bôi đầy máu chó đen, đặt lên ngực cô.
Đặt vào xong, trông cô rất an tĩnh, tứ chi cũng dần dừng co giật. Chắc là nhờ hiệu quả của bản mệnh cổ của Kiều Y Tư. Tôi lấy một tờ giấy đen che mặt cô, rồi đậy nắp quan tài lại, không đậy kín hẳn, để chừa một lỗ to bằng nắm tay cho cô thở.
Xong đâu vào đấy, tôi thắp một ngọn đèn trường sinh, một cặp nến, ba nén hương, đặt lần lượt dưới quan tài, ở đầu quan tài và trên bàn bát tiên. Sau đó, tôi đốt ít giấy vàng, vái ba vái trước quan tài, rồi rải giấy vàng đốt ở bốn phía trước–sau–trái–phải của quan tài, cũng như bốn phương Đông–Nam–Tây–Bắc trong gian chính.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 15 others
Dài thật đấy. Quánh dấu tối về đọc.
Còn nữa không thớt ơi, cuốn quá đi
Hóng
Chương 61: Chôn sống (Phần 8)
Đêm vừa buông xuống, trong thôn họ Vương yên tĩnh lạ thường. Ánh trăng mờ mờ phủ xuống mặt đất, làm bầu trời vốn u tối cũng có chút sáng sủa.
Đốt xong vàng mã, tôi lấy điện thoại ra xem giờ: mười giờ tối. Theo sách tang lễ ghi lại: “Người bị chôn sống, tất phải chờ đến giờ Tý mới có thể gõ hồi trống đầu tiên.” Nghĩa là phải đợi đúng giờ Tý mới được gõ chiêng, còn bây giờ vẫn còn một tiếng nữa.
Trong khoảng một tiếng ấy phải dựng xong linh đường, nếu không sẽ không kịp giờ. Tôi ra hiệu cho bát tiên cùng đi ra khỏi sảnh, họ cũng gật đầu, không dám nói lời nào, lặng lẽ theo tôi bước ra. Tôi dặn: “Bảy người các ông trước tiên giúp chủ nhà dựng linh đường, sau đó để chủ nhà dẫn ra nghĩa địa. Nhớ kỹ, mộ của Vương Khiết nhất định phải đặt sát bên mộ tổ tiên cô ấy, dù cạnh đó có mộ khác, thì cũng phải đào một chỗ vừa cho quan tài xen vào giữa hai mộ. Trước khi động thổ, nhất định phải bẩm rõ nguyên do trước mộ tổ tiên, rồi đốt ít vàng mã ở mỗi ngôi mộ trong nghĩa địa, nói vài lời tốt đẹp.”
Cao Lão hỏi: “Tại sao nhất định phải chôn cạnh tổ tiên cô ấy?”
Tôi đáp: “Là để mượn thế tổ tiên, hy vọng thành công sẽ lớn hơn.”
Đúng lúc ấy, chủ nhà cùng Dương Ngôn mang đến một ít tre trúc. Tôi bảo bát tiên cùng nhau dựng giúp, chưa đầy bốn mươi phút sau, một linh đường đơn giản đã hoàn thành. Khác với tang lễ thông thường, hoa sen trắng trên linh đường lại đổi thành hoa sen đen.
Lần chôn sống này, tôi thật sự không mấy tự tin. Mọi thứ đều làm theo sách táng kinh, nếu có gì ngoài ý muốn thì cũng chẳng biết xoay xở thế nào. Tôi lại nhắc kỹ một lần nữa: chỉ cần quan tài chưa khiêng ra khỏi sảnh đường, thì tuyệt đối không ai được lên tiếng trong đó. Họ liên tục gật đầu cam đoan sẽ giữ im lặng.
Sau đó, chủ nhà dẫn tám vị tiên ra nghĩa địa, chỉ còn lại ba người bên cạnh tôi: Kiều Y Tư, Dương Ngôn, và người phụ nữ trung niên. Tôi suy nghĩ một lát, rồi hỏi: “Cha mẹ các người còn sống không? Nếu còn thì hãy dán một mảnh đỏ trên trán.”
Kiều Y Tư và Dương Ngôn gật đầu. Tôi liền dán cho họ mỗi người một miếng giấy đỏ cỡ ngón tay cái. Họ hỏi nguyên nhân, tôi giải thích: “Chôn sống sát khí rất nặng, dễ ảnh hưởng đến cha mẹ.”
Nói xong, tôi cũng tự dán cho mình một miếng.
Mọi việc đã chuẩn bị xong, chỉ chờ đến giờ Tý. Vì thân thể Kiều Y Tư quá yếu, tôi dìu cô ấy ngồi nghỉ ở một góc gần cửa sảnh. Lẽ ra có thể cho cô ấy về nghỉ, nhưng cô ấy nói, cổ trùng bản mệnh không thể rời cô quá xa, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Sắp xếp xong cho Kiều Y Tư, tôi lại nhìn đồng hồ: 10 giờ 58 phút, chỉ còn hai phút nữa đến giờ Tý. Tôi bảo Dương Ngôn cầm một phong pháo đứng ở bậc thềm trước sảnh, rồi để người phụ nữ trung niên nửa quỳ bên cạnh quan tài (cha mẹ không thể quỳ lạy con cái, chỉ có thể nửa quỳ).
Mọi người theo lời tôi mà chuẩn bị. Tôi lấy một chiếc chiêng đồng, sợ phát ra tiếng động trước, nên dùng lớp vàng mã dày 2cm ép chặt hai mặt chiêng, rồi treo nó ở bên trái bàn bát tiên (theo tập tục quê tôi, vào cửa bên trái mới là vị trí lớn, nên chiêng phải treo bên trái. Có nơi lại treo bên phải, tùy từng địa phương khác nhau).
Tôi lại xem đồng hồ, còn mười giây. Tôi nắm chặt dùi chiêng, đưa thẳng ra phía trước, hướng về quan tài vái ba cái, trong lòng thầm đếm:
“Ba…”
“Hai…”
“Một…”
Vừa dứt số “một”, tay phải tôi vung dùi gõ mạnh lên chiêng.
Đinh đang!
Một âm thanh thanh thúy vang lên, chói tai, ngân dài trong sảnh hồi lâu mới tắt. Ngay sau đó là tiếng pháo đùng đoàng nổ giòn.
Không hiểu sao, pháo vừa dứt, tôi lập tức cảm nhận được bầu không khí trong sảnh trở nên nặng nề. Nhưng chỉ cần tiếng chiêng đã vang, nghĩa là lễ chôn sống này đã chính thức bắt đầu. Dù có chuyện gì xảy ra, cũng không thể dừng lại.
Có vẻ như buổi lễ đêm nay không hề dễ dàng như tưởng tượng. Tôi đành cắn răng kéo một chiếc ghế gỗ ngồi cạnh chiêng, cầm dùi gõ theo nhịp pháp, miệng đọc “Trường La Vãng Sinh Bản Mệnh Chân Kinh”. Cứ đọc ba câu, tôi lại gõ chiêng một cái.
Khoảng nửa giờ trôi qua, trong sảnh chỉ có tiếng chiêng và giọng tôi tụng kinh, ngoài ra không còn âm thanh nào khác, hết thảy yên ổn.
Đúng lúc ấy, có lẽ vì nửa quỳ lâu nên người phụ nữ trung niên thấy mỏi, định đổi tư thế. Ai ngờ chân tê, sơ ý ngã nhào xuống bên cạnh quan tài.
“Ai da!” bà ta rên một tiếng.
Tiếng vừa phát ra, tôi lập tức thầm kêu “hỏng rồi!”. Chỉ thấy ngọn lửa của đèn Trường Sinh dưới quan tài bỗng yếu đi, như sắp tắt. Tôi vội vẫy tay gọi Dương Ngôn đang ngồi ngây ra kia, ra hiệu hắn qua đây. Hắn nhìn tôi đầy nghi hoặc.
Tôi đưa dùi chiêng cho hắn, rồi chỉ vào chiêng, lại chỉ vào mình và đèn Trường Sinh, ý bảo: anh thay tôi gõ chiêng, tôi đi lo ngọn đèn.
Không quan tâm hắn có hiểu hay không, tôi cầm mấy tờ vàng mã lao tới cạnh đèn, cúi người khẽ nâng tim đèn lên một chút. Ánh lửa sáng hơn, tôi thở phào. May là chưa tắt, nếu tắt rồi thì hồn của Vương Khiết có lẽ sẽ đoạn lìa.
Tôi vừa định ngẩng đầu xem tình trạng người phụ nữ trung niên thì bất chợt thấy đôi nến đặt ở đầu quan tài chẳng có dấu hiệu gì mà lại đổ sập xuống. Nến rơi thẳng xuống chiếc ghế gỗ, có dấu hiệu bắt lửa.
Tôi giật mình, vội chui xuống dưới quan tài, lăn một vòng đến bên cạnh, nhanh tay dựng nến lên, sợ nó lại đổ tiếp. Tôi còn lấy vàng mã chèn quanh chân nến cho cao bằng thân nến.
Tưởng rằng vậy là xong, ai ngờ người phụ nữ trung niên lại giở trò nữa. Có lẽ sau khi lỡ miệng kêu rên, biết mình phạm kỵ, bà ta bèn quỳ rạp trước quan tài, liên tục dập đầu coi như tạ lỗi.
Tôi bước đến, khẽ vỗ vai bà. Bà ngẩn ra, quỳ thẳng người, cứng đờ bất động. Tôi vỗ thêm lần nữa, vẫn nguyên tư thế, chẳng có phản ứng nào.
Sao lại thế?
Tôi ngẩn người, bèn định kéo bà ta đứng lên. Vừa kéo, trời ạ, nặng khủng khiếp, hoàn toàn không giống trọng lượng một người bình thường. Bà ta nhìn ngoài gầy gò, nhiều lắm cũng chỉ khoảng năm mươi cân.
Tôi cố sức lôi nữa mà vẫn không nhúc nhích. Thấy tình hình bất thường, tôi đoán bà ta bị thứ gì đó nhập vào. Ngẩng mặt nhìn, tôi rợn tóc gáy, sắc mặt bà xanh tái, miệng đang nhai… đất! Cúi xuống nhìn mặt đất, quả nhiên bị mất một mảng lớn, toàn bộ chỗ đất đó đều bị bà ta nhai nuốt hết.
Không còn thời gian để kinh hãi, tôi vung tay tát mạnh một cái. Bà không hề phản ứng, vẫn tiếp tục nhai đất. Xem ra cách này không đánh thức nổi, tôi buộc phải nghĩ cách khác…

Chương 62: Chôn sống (phần 9)
Tôi nhíu mày, đảo mắt nhìn quanh gian nhà chính, trông cũng giống nhà chính ở thôn Lý. Bên trong chẳng có gì ngoài một bàn thờ đặt tận sâu bên trong, cách chỗ đặt quan tài chừng hơn một mét, bốn phía trống trơn.
Làm sao bây giờ? Nếu cứ thế này, người phụ nữ trung niên kia sẽ bị đất bùn làm bụng vỡ tung, đến lúc ấy có đưa đi đâu cũng không cứu nổi.
Không còn cách nào khác, tôi bước nhanh đến bên Dương Ngôn, ra hiệu cho hắn quỳ trước quan tài đốt giấy, khấn khứa mấy câu tốt đẹp. Rồi tôi chộp lấy cái chiêng đồng trên bàn bát tiên, đi đến trước mặt người phụ nữ trung niên, giơ lên gõ ngay sát tai bà ta. Bà ta khẽ giật người.
Thấy có tác dụng, tôi liên tiếp gõ hơn mười cái, đến mức tai mình cũng ù đi, cuối cùng thân thể bà ta mới dần thả lỏng. Tôi kéo thử một cái, không còn nặng như lúc nãy, liền đỡ bà ta đứng lên, dìu ra cửa chính.
Vừa đến cửa, người phụ nữ trung niên mới hoàn hồn, lập tức nhả bùn trong miệng ra, định mở miệng nói. Tôi vội bịt chặt miệng bà, chỉ vào quan tài rồi lắc đầu.
Chỉ trong chớp mắt, bà ta như chợt hiểu ra, liền quỳ xuống trước mặt tôi, nức nở nghẹn ngào như đang cầu khẩn: “Xin hãy cứu con gái tôi!”
Tôi đỡ bà đứng dậy, không nói một lời, chỉ tức giận quay vào trong nhà chính, hy vọng cảnh vừa rồi không làm ảnh hưởng đến nghi thức chôn sống.
Tôi không vội gõ chiêng nữa mà đi thẳng đến quan tài, cúi người nhìn vào trong. Bên trong tối đen, yên tĩnh, chẳng có gì bất thường.
Tâm trạng căng thẳng rốt cuộc cũng dịu lại, tôi quay về bên bàn bát tiên, ra hiệu cho Dương Ngôn đứng dậy đi ra ngoài. Hắn chỉ liếc tôi một cái, không nói gì rồi rời khỏi. Tôi lại tiếp tục gõ chiêng, miệng tụng 'Trường La Vãng Sinh Bản Mệnh Chân Kinh'.
Liên tục gõ và tụng suốt ba tiếng, khát khô cả họng, cánh tay mỏi nhừ, cuối cùng cũng đọc xong. Nghi thức xem như hoàn thành. Đúng là đọc mới biết, mấy đạo sĩ chuyên đọc kinh mở đường cũng chẳng dễ dàng gì.
Lạ một điều, tôi vừa đọc xong thì bầu không khí nặng nề trong nhà chính liền biến mất. Nghĩ kỹ lại, có lẽ vừa rồi là quỷ sai đến đây dò xét, giờ khí tức tan đi tức là họ đã rời khỏi.
Nghĩ vậy, tôi mỉm cười, cất chiêng, châm ba nén hương, khấn trước quan tài, rồi đốt vàng mã ở bốn góc nhà để tỏ lòng cảm tạ.
Người phụ nữ trung niên thấy tiếng chiêng dừng thì đưa tôi một phong bao đỏ, làm động tác cảm ơn. Tôi cũng không khách sáo, nhận lấy ngay. Bao lì xì mỏng dính, chắc chẳng có bao nhiêu, chỉ là thủ tục.
Xong xuôi, tôi lại nhìn vào quan tài, vẫn không có gì khác lạ. Tôi tìm một chiếc ghế thấp ngồi bên trái quan tài, mắt dán chặt vào ngọn đèn Trường Sinh. Chỉ cần đèn không tắt trước khi các bậc bát tiên quay lại, đêm nay coi như yên ổn.
Nói thật, tôi vẫn thấy lo. Vì kinh văn vừa rồi chỉ để quỷ sai xem, còn bây giờ lại phải đề phòng cô hồn dã quỷ quanh Vương Trang. Nếu chúng thổi tắt ngọn đèn, Vương Khiết sẽ bị chúng mang đi.
Canh chừng chừng nửa tiếng, tôi bắt đầu thấy buồn ngủ, liền nhờ Dương Ngôn trông giúp. Hắn gật đầu, chẳng nói gì, ngồi xuống cạnh tôi, vỗ vai bảo tôi chợp mắt.
Tôi tựa vào tường, mắt lim dim, không dám ngủ say, bởi trong nhà này chỉ có tôi hiểu chút ít mấy việc kia, lỡ xảy ra chuyện, những người còn lại chắc chắn không ứng phó nổi.
Không rõ đã chợp mắt bao lâu, bỗng vai tôi bị ai khẽ đẩy, rồi lại bị lay mạnh. Tôi mở mắt nhìn sang, bốn bề tối om, chỉ thấy một bóng người đứng cạnh, nhìn hình dáng thì là Dương Ngôn. Dù trong bóng tối, tôi vẫn nhận ra mái tóc dài nổi bật của hắn.
Bàn tay đặt trên vai tôi khẽ run, hắn không dám mở miệng, chỉ xoay người tôi hướng về phía ngọn đèn Trường Sinh. Nhìn kỹ thì thấy ngọn lửa chập chờn, càng lúc càng nhỏ.
Tôi rùng mình, suýt bật chửi thề nhưng nhớ đang ở trong nhà chính, đành nuốt ngược vào. Trong lòng thầm nghĩ: “Quả nhiên, chôn sống dễ nhất là chiêu gọi cô hồn dã quỷ.”
Đã dám tới quấy phá thì đừng trách Cửu gia ta vô tình! Tôi bật dậy, mượn ánh sáng le lói của ngọn đèn, lần mò đến bàn bát tiên, bưng ra chậu máu chó đen còn thừa, hắt mạnh về phía cửa chính.
Vừa hắt ra thì nghe một tiếng “A!”, ngay sau đó, ánh sáng chợt bừng lên, có điện trở lại, nhà chính sáng như cũ. Hóa ra vừa rồi mất điện.
Nhưng tiếng “A” khi nãy tôi nghe rõ mồn một. Người làm nghề như tôi đều biết thế gian có ma, dù chưa tận mắt thấy, nhưng luôn cảm giác chúng ở quanh mình, nên mới phải giữ đủ lễ nghi.
Bây giờ thực sự nghe thấy, chứng tỏ quỷ ngay bên cạnh. Nói không sợ là nói dối.
Ngẩng đầu nhìn cửa, thấy Kiều Y Tư vẫn đang ngủ say, trên váy chỉ dính chút máu chó, không nhiều. Người phụ nữ trung niên thì tựa cửa gật gù. Cả hai đều chưa hề phản ứng, rõ ràng tiếng kêu vừa rồi không phải từ họ.
Quay sang nhìn Dương Ngôn, thấy mồ hôi lạnh chảy ròng ròng trên trán, tứ chi run rẩy dữ dội, hệt như vừa chứng kiến thứ gì khủng khiếp. Tôi liền nhìn theo hướng mắt hắn thì thấy ngay nắp quan tài bị đẩy hé ra, một người ngồi thẳng dậy bên trong, đầu cúi thấp, tóc xõa đến ngực, hai tay bám vào mép quan tài, phát ra tiếng “kẽo kẹt”.
Toàn thân tôi như căng cứng, não như chết lặng. Đúng lúc ấy, cô ta ngẩng đầu, đôi mắt vô hồn nhìn tôi. Nhìn kỹ, gương mặt lấm lem toàn máu chó đen. Không phải Vương Khiết thì còn ai?
Quái lạ, chẳng phải cô ta nằm trong quan tài sao? Sao lại ngồi dậy? Tôi nén nỗi căng thẳng, bước chậm lại gần, giơ tay vẫy trước mắt cô ta.
Cô ta khẽ mỉm cười, nụ cười khiến tôi rợn người, rồi nói: “Cửu gia, cảm ơn ngài.” Giọng khàn đục, già nua.
Nói dứt câu, cơ thể cô ta bỗng ngả ngửa, đầu đập mạnh xuống quan tài. Ngay lúc ấy, Kiều Y Tư ngoài kia hét toáng:
“Cửu gia, không xong rồi, khí tức của Bản mệnh cổ yếu đi rồi!”
Nghe vậy, tôi chết lặng. Vương Khiết vừa tỉnh lại, nói một câu kỳ quái, liền khiến Bản mệnh cổ của Kiều Y Tư suy yếu. Rốt cuộc chuyện này là sao?
Theo lý mà nói, nghi thức chôn sống đâu có xảy ra sai sót gì. Người phụ nữ trung niên có lên tiếng cũng chỉ tự rước xui vào thân, căn bản không ảnh hưởng đến Vương Khiết. Nhưng tại sao lại thành ra thế này?

Chương 63: Chôn sống (phần 10)
Tôi nghĩ mãi mà không hiểu, bèn nhờ Dương Ngôn đỡ tay đặt lại Vương Khiết vào quan tài. Tôi phát hiện con dao mổ lợn đặt trên người cô ấy, không biết vì sao máu chó đen trên đó đã biến mất, lưỡi dao sáng loáng, nằm trong quan tài lại càng thêm chói mắt.
Tuy có phần nghi ngờ, nhưng không có thời gian để truy cứu, tôi lấy giấy vàng chấm ít máu chó đen rơi trên đất, miễn cưỡng bôi lên dao cho đen lại, rồi đặt lại trên ngực cô ấy.
Sau đó, tôi đưa tay kiểm tra hơi thở của cô, rất yếu, mồ hôi li ti không ngừng túa ra trên trán. Một phần máu chó đen bị mồ hôi rửa trôi, nhỏ xuống đáy quan tài. Nhìn tình hình này, e là chẳng sống được bao lâu nữa.
Cảnh vừa rồi khiến tôi nghĩ rất lâu, trong đầu hiện lên bốn chữ “hồi quang phản chiếu”. Chỉ có thế mới giải thích được. Chẳng lẽ, mạng sống của cô ấy thực sự đã đi đến cuối cùng rồi sao? Ngay cả hiện tượng hồi quang phản chiếu cũng xuất hiện rồi.
Theo y học, hồi quang phản chiếu là do tuyến thượng thận tiết ra hormone, có thể kháng viêm, kháng độc, chống sốc, chống dị ứng, tạm thời làm dịu nhanh triệu chứng.
Còn theo cách nói của bọn tôi, đám Bát Tiên, thì hồi quang phản chiếu là thông báo cuối cùng của Diêm Vương dành cho người sắp chết: còn lời chưa nói thì mau nói, còn việc chưa làm thì mau làm, làm xong rồi thì đi chầu trời.
Hơn nữa, không phải ai chết cũng có hiện tượng hồi quang phản chiếu, phải tổ tiên từng tích đức thì hậu nhân mới có thể xuất hiện hiện tượng này.
Từ xưa tới nay, chuyện y học và mê tín vẫn luôn tranh cãi không ngừng, ai đúng ai sai tôi cũng không dám chắc. Tôi chỉ biết rằng, những người tôi từng gặp có hồi quang phản chiếu, trong năm đời tổ tiên đều có nhân vật phi phàm.
Nói lan man rồi, quay lại chính sự. Tôi đứng đờ ra bên quan tài một lúc, thì Kiều Y Tư bước vào, sắc mặt trắng bệch, hiển nhiên là bản mệnh cổ trong cơ thể Vương Khiết bị ảnh hưởng. Cô ấy định mở miệng, tôi liền ra hiệu im lặng, rồi dìu cô ra ngoài sảnh.
Tôi nói: “Kiều Y Tư, thu bản mệnh cổ về đi. Tôi lo rằng nếu thọ mệnh của Vương Khiết đến tận cùng, thì mạng cô cũng sẽ…”
Cô ta lắc đầu, nhìn tôi kiên định: “Không! Tôi tin chị Vương Khiết nhất định sẽ sống, giống như tôi năm đó, tưởng đã chết rồi, cuối cùng vẫn nhặt lại được một mạng. Chưa tới giây phút cuối, tôi tuyệt đối không rút bản mệnh cổ.”
“Tình trạng hồi quang phản chiếu đã xuất hiện, e là khó cầm cự nổi nữa. Lát nữa còn phải chôn dưới đất một giờ, trong khoảng thời gian ấy sẽ xảy ra chuyện gì tôi cũng không dám chắc. Cô còn trẻ, không đáng vì một người… mới quen vài hôm mà đánh đổi tính mạng của mình.” – Thật lòng mà nói, tôi không muốn thấy Kiều Y Tư bỏ mạng như vậy. Người ta ai rồi cũng chết, chết lúc nào là do mệnh. Với Vương Khiết, trong tiềm thức tôi đã ngầm chấp nhận rằng cô sắp chết rồi.
Kiều Y Tư nghe thế thì trừng mắt tức giận, nóng nảy nói: “Chuyện của tôi không cần anh lo! Anh làm việc của anh đi. Dù có chết, tôi cũng để bản mệnh cổ ở trên người chị Vương Khiết, cho đến khi chị ấy tỉnh lại.”
Đúng là người phụ nữ không thể nói lý. Tôi lắc đầu, không nói thêm nữa. Tôi đã khuyên rồi thì coi như không hổ thẹn với lòng. Tiếp theo Kiều Y Tư sống hay chết cũng chẳng liên quan đến tôi. Tôi chẳng phải Phật Tổ hay Đại Tôn, không cần phải lo cho chúng sinh. Dù sao tôi cũng chẳng quen thân gì, ai bảo tôi lạnh lùng thì tùy. Tôi chỉ là một phu khiêng quan tài, làm tròn bổn phận là đủ, thế thôi.
Trong sảnh, chờ khoảng ba mươi phút, lão Vương dẫn đám Bát Tiên quay lại, mồ hôi ướt đẫm. Vừa bước vào cửa, tôi còn chưa kịp ra hiệu im lặng, lão đã tùy tiện hô một tiếng: “Tiểu Cửu, đào xong rồi, thật mẹ nó khó đào, toàn đá.”
Lời còn chưa dứt, thân hình lão chao đảo, ngã lăn ra đất, tứ chi co giật không ngừng.
Thấy vậy, cả bọn hoảng loạn. Trong chúng tôi, lão Vương là người dày dạn nhất cả về kinh nghiệm lẫn tuổi đời, giờ ông ấy như thế, cả đám đều bối rối, vội vàng khiêng ông ra ngoài, hết bấm nhân trung, lại ép ngực, nhưng chẳng ăn thua.
Cuối cùng, tôi định dùng cách cũ, nhưng Cao Lão chần chừ rồi nói: “Tiếng chiêng đã ngừng, đánh thêm sẽ không tốt cho làng Vương, e là sắp có người chết nữa.”
Tôi nghĩ thấy cũng đúng. Chiêng không thể gõ bừa, kẻo dẫn quỷ sai tới, lúc đó chúng tôi chưa chắc đã may mắn như người đàn bà trung niên kia, có khi bị câu hồn đi luôn.
Nhưng lão Vương giờ bị trúng xung, vẫn phải nghĩ cách cứu. Cả nhóm bàn bạc một hồi, cuối cùng quyết định dùng phân để dội.
Vốn dĩ chúng tôi tính xử lý xong chuyện lão Vương rồi mới tiếp tục, nhưng nhìn lại đã gần 5 giờ, sắp đến giờ lành phong quan. Nếu cứ chậm trễ, Vương Khiết chắc chắn chẳng còn hy vọng gì nữa.
Không còn cách nào, tôi bảo chủ nhà hai vợ chồng đi tìm ít phân dội lão Vương, còn chúng tôi lo phong quan. Vì đây là chôn sống, nên chúng tôi đục một lỗ to cỡ ống tre ngay trên nắp quan tài, rồi kiếm một ống tre, khoan thủng các đốt, bôi sơn đen, nối vào lỗ ấy cho Vương Khiết thở.
Mọi việc xong xuôi, nhìn lại số người mới chợt nhớ lão Vương đã ngã bệnh, giờ chỉ còn bảy Bát Tiên. Mà khiêng quan tài cần tám người. Tôi còn phải làm vài nghi lễ chôn sống, không thể trực tiếp khiêng được, nên đành nhắm đến bác sĩ tóc dài Dương Ngôn.
“Bác sĩ Dương, ca mổ của anh khiến Vương Khiết chết nhanh hơn, anh không thấy hối hận sao?” Tôi gọi hắn ra cửa sảnh.
Hắn đi ra, gật đầu: “Có hối hận chứ, nhưng giờ tôi chẳng thể làm gì để cứu vãn.”
“Có cách!” tôi nói.
“Cách gì?” hắn ta nghi hoặc.
“Khiêng quan tài!” Tôi chỉ vào cỗ quan tài, rồi chỉ sang bảy người còn lại: “Thiếu một người.”
“Cậu… bắt tôi… khiêng quan tài?” Dương Ngôn nhìn tôi không tin nổi, tức giận: “Tôi đường đường là trưởng khoa thần kinh bệnh viện tỉnh, cậu kêu tôi đi khiêng quan tài? Đầu óc cậu có vấn đề à?”
“Nếu Vương Khiết chết, người đầu tiên cô ấy tìm báo thù chính là anh. Anh phải hiểu cảnh tượng trong sảnh trước đó không thể dùng khoa học giải thích. Tin hay không tùy anh, tôi thì không sao cả. Lễ nghi tôi làm rất chu đáo, cô ấy sẽ không oán trách tôi. Ngược lại, câu đầu tiên sau hồi quang phản chiếu cô ấy nói chính là: ‘Cảm ơn Cửu gia’. Nghe rõ chưa? Cô ấy cảm ơn tôi, tức là chỉ có thể hận anh. Đã hận thì chắc chắn sẽ báo thù. Tự anh suy nghĩ đi!” Nói xong tôi mặc kệ hắn, tiếp tục bận rộn chuẩn bị cho lễ hạ táng.
Khoảng mười mấy phút sau, tôi lén quay đầu nhìn. Tóc dài kia vẫn đứng nguyên một chỗ, nhíu mày suy tư, bước lên rồi lại lùi, rốt cuộc vẫn không đủ dũng khí tiến đến chỗ tôi. Xem ra cần một liều thuốc mạnh nữa, hắn ta mới chịu gật đầu.

Chương 64: Chôn Sống (phần 11)
Tôi buông công việc đang bận trong tay. Trước đó tìm Dương Ngôn đến giúp, hắn thì lần khất mãi rồi lại lập kèo cá cược với tôi. Giờ tôi lại nhờ hắn lo chuyện quan tài, thế mà hắn đem cái gọi là sĩ diện mơ hồ ra làm cớ thoái thác.
Tôi bước đến gần, hỏi: “Bác sĩ Dương, chẳng lẽ anh sợ tôi thắng kèo? Hay là anh không muốn Vương Khiết sống lại?”
Trong lòng tôi vốn định lôi hắn nhập vào nhóm Bát Tiên. Vì nghề này của chúng tôi, nhiều lúc khiêng thứ nặng dễ bị ngã, trật lưng. Có bác sĩ ở bên, nếu có chuyện còn cấp cứu kịp thời. Làng tôi trước kia cũng có một người Bát Tiên, trong một lần khiêng quan tài bị gãy chân, không được cứu chữa kịp, giờ thành què, đi cà nhắc cả đời. Nếu có Dương Ngôn, ít ra chúng tôi có thể tránh được loại thương tật ấy.
“Nhóc con mà cũng dám dùng khích tướng với tôi à? Còn non lắm!” Dương Ngôn liếc tôi đầy khinh thường. Hắn im lặng chốc lát, rồi chậm rãi nói: “Nhưng, cậu nói cũng có chút lý. Hôm nay tôi sẽ làm phu khiêng quan tài một lần vậy!”
Đây rõ ràng là hắn tìm cho mình cái bậc thang để xuống nước. Tôi chỉ cười, không nói thêm, bảo hắn đứng cùng với Cao Lão và mấy người kia. Chuyện khiêng quan tài ra sao, bọn họ sẽ chỉ cho hắn.
Thấy có thêm người mới nhập bọn, tâm trạng Cao Lão tốt hẳn. Anh ta khoác vai Dương Ngôn, ríu rít giải thích những thứ cần thiết khi khiêng quan tài.
Nhìn cảnh ấy, tôi hài lòng mỉm cười, rồi quay vào gian chính, chuẩn bị một ít đồ lặt vặt bỏ vào bao gai đựng vàng mã, đưa cho Kiều Y Tư bảo rằng lát nữa khi đưa tang thì mang theo.
Cô gật đầu đồng ý, không nói nhiều, rồi đi cùng tôi ra ngoài. Tôi liếc nhìn Cao Lão bọn họ, thấy quần áo hầu hết đều màu sáng. Việc chôn sống không kiêng chuyện tuổi xung khắc của Bát Tiên, nhưng đối với trang phục thì lại cực kỳ khắt khe: phải toàn thân một màu đen, từ đầu đến chân, dù chỉ một sợi tóc bạc cũng phải nhuộm đen.
Làm vậy là để tránh phạm xung, đồng thời lợi dụng sắc đen để “che mắt” trời đất, coi như lén lút chôn sống người, vay mượn sinh khí của tự nhiên.
Còn nguyên nhân sâu xa thì chỉ có thể nói là tục lệ. Có những thứ không thể giải thích, tổ tiên đã dạy thế, ắt có đạo lý riêng. Thử thách tập tục chính là đùa với mạng sống. Tôi chỉ có một cái mạng, chẳng dám đem ra liều. Vì vậy, mọi việc đều phải làm đúng theo lệ.
Tôi bảo Cao Lão và mọi người: “Thay hết quần áo trên người ra, toàn thân phải đen, không lộ chút trắng nào, kể cả là quần lót cũng phải màu đen.”
Mọi người lặng đi một lát. Rồi Dương Ngôn lên tiếng: “Quần lót trắng… không đổi được không?”
Lời vừa dứt, tôi cố nhịn cười. Nhưng Cao Lão cùng đám kia thì không kiềm được, phá lên cười ha hả. Ánh mắt nhìn hắn cũng khác đi, chắc nghĩ thầm: Mẹ nó, đường đường đàn ông mà còn mặc quần lót trắng!
“Không được, nhất định phải màu đen.” Tôi nghiêm túc nói. Hắn xấu hổ cười gượng, gật đầu không nói gì thêm.
Sau đó, tôi bảo gia chủ lo chuyện quần áo đen. Ông lục tung trong nhà chỉ tìm được ba bộ, lại phải sang các hộ khác mượn. Cả thôn chỉ có ba nhà, gom góp lại mới đủ tám bộ. Còn tôi với Kiều Y Tư thì không có, đành dùng mực nhuộm quần áo thành đen.
Xong xuôi quần áo, vài người Bát Tiên có tóc bạc cũng được nhuộm đen hết. Cuối cùng còn lộ ra mặt và tay. May trong thôn có nhà mê thư pháp, dự trữ mực nhiều, bằng không thì chỉ còn cách lấy tro nồi bôi lên.
Khi chúng tôi đã biến thành toàn thân đen thui, trông có phần khôi hài, nhưng không ai cười. Ai cũng biết cỗ quan tài này khó mà khiêng, nếu không đâu đến nỗi phải rườm rà thế này.
Chôn sống khác với tang lễ thường. Lúc đưa tang tuyệt đối không được đốt pháo, không được đánh chiêng trống, càng không được khóc than. Tôi sợ cha mẹ Vương Khiết nhìn cảnh con gái bị chôn sống sẽ không kìm được mà khóc, nên bảo họ cứ ở nhà, đừng lên núi.
Hai ông bà gật đầu, chẳng nói gì, chỉ phát cho mỗi người chúng tôi một phong bao đỏ, một bao thuốc, rồi quỳ xuống trước mặt tôi, khóc thầm không thành tiếng. Tôi hiểu lòng họ, bèn dùng ánh mắt an ủi.
Sau đó, chúng tôi buộc giá khiêng quan tài đã nhuộm đen lên hòm gỗ. Cao Lão và Dương Ngôn khiêng phía trước, những người còn lại đứng vào vị trí quen thuộc. Họ khoác vai nhau, kẹp chặt lấy vai đối phương làm trụ, mặt ai cũng nặng nề.
Tôi đưa ánh mắt dò hỏi: Đã chuẩn bị xong chưa?
Mọi người gật đầu, ý rằng đã sẵn sàng.
Cao Lão và mấy người kia thì tôi yên tâm, vì đã nhiều lần khiêng quan tài. Nhưng với Dương Ngôn thì không, tôi liếc sang hắn. Cánh tay hắn đặt trên vai Cao Lão hơi run, chắc lần đầu, nên căng thẳng. Chỉ mong lát nữa đừng xảy ra sơ suất. Việc khiêng quan tài thoạt nhìn thì đơn giản, nhưng ai chưa từng thử sẽ không hiểu được trong đó có bao nhiêu bí quyết. Nó không chỉ cần sức, mà còn cần bản lĩnh tâm lý vững vàng.
Tôi lại liếc sang Kiều Y Tư. Toàn thân cô ấy nhuộm đen, tay xách một túi lớn, hai chiếc ghế gỗ cùng đèn pin. Cô đứng nghiêm bên cạnh, vẻ mặt nghiêm túc. Thấy tôi nhìn, cô gượng cười gật nhẹ, ra hiệu mình ổn.
Thấy mọi người đều chuẩn bị, tôi thở ra một hơi dài. Vương Khiết còn sống hay đã chết, tất cả trông chờ vào việc quan tài này có được hạ xuống suôn sẻ không. Chỉ cần chôn cất thành công, có lẽ vẫn còn một tia hy vọng. Bởi mỗi sớm tinh mơ là lúc vạn vật tỉnh giấc, sinh khí mạnh mẽ nhất.
Ngoài ra, còn một nguyên do khác: theo truyền thuyết, mỗi con đường sau giờ Dần, sẽ có âm sai đi quét sạch dấu vết, xóa đi dấu chân người sống lẫn hồn ma, để đường thành “trần lộ” sạch không tỳ vết.
Chúng tôi phải nhân lúc đường còn là trần lộ mà đưa quan tài lên núi. Như vậy sinh khí mới càng dồi dào. Nếu trước lúc đó có ai bước qua đường ấy mà vô tình chạm mặt quan tài, thì hai bên sẽ xung khắc: hoặc là người sống áp người chết, khiến vong linh không yên; hoặc người chết áp người sống, khiến kẻ ấy mang bệnh tật.
Tôi chọn đưa quan tài đi thật sớm, vì sợ nếu muộn hơn, có người dẫm hỏng trần lộ, xảy ra chuyện thì trách nhiệm thuộc về chúng tôi.
Nhưng, việc chôn sống vốn bị coi là đại hung, sát khí nặng hơn tang lễ thường. Trừ khi kẻ gặp quan tài là người đại phú quý, thân mang khí lành che chở, bằng không ít nhất cũng gặp chuyện lạ, nặng thì mất mạng.
Tôi hắng giọng, nhìn ra xa. Chân trời chỉ vừa le lói sáng, đường xá vắng ngắt, ngay cả gà vịt trâu bò cũng không thấy. Lòng tôi mới yên.
Rồi tôi cất giọng vang lớn ngoài gian chính: “Bổn tôn là đệ tử đời thứ 893 của Thái Thượng Lão Quân, Trần Cửu thôn Ấu Tử, trấn Đông Hưng đây! Nay phụng lệnh sư phụ, đưa Vương Khiết làng Vương Trang xuống mộ. Các cô hồn dã quỷ hãy mau tránh đường! Nếu chọc giận sư phụ ta, ắt chỉ còn hồn phi phách tán!”
Lời này chỉ là khẩu hiệu. Phần trước toàn bịa đặt, mục đích để trấn áp hồn ma chưa đi khỏi, buộc chúng tránh xa. Ở quê tôi gọi đó là “hô khẩu hiệu”.

Chương 65: Chôn sống (phần 12)
Cái gọi là “hô khẩu hiệu”, cũng giống như bọn cướp chặn đường cướp bóc, phải tự báo danh tính. Nhưng khẩu hiệu của chúng tôi thì toàn là nói bừa. Có mấy ông đạo sĩ vớ vẩn, cứ trực tiếp hét lên: “Bổn tôn chính là Thái Thượng Lão Quân đây!” Khẩu hiệu này có tác dụng hay không thì tôi không rõ, chỉ biết rằng những đạo sĩ đi đưa tang đều phải hô lên một câu như vậy.
Hét xong, tay trái tôi cầm gậy khóc tang cùng mấy tờ giấy vàng, tay phải kết thành đạo chỉ, miệng đọc Kinh Vô Lượng Thọ, bước chân chậm rãi tiến lên phía trước. Vì đây là lễ chôn sống nên lúc này quan tài chưa được phép khiêng đi, phải đợi tôi bước qua bậc cửa của nhà chính thì họ mới được nâng quan tài.
Tôi đi chừng bảy bước, rải ít giấy vàng về phía cửa, chân trái vừa bước qua cửa, miệng liền quát lớn: “Đạo sĩ đã ra khỏi cửa, quan tài nhanh lên đường!”
Đây là câu văn tang, có ý nhắc đám khiêng quan tài (bát tiên) có thể khởi kiệu.
Vừa dứt lời, tôi liền nghe tiếng hô trầm đục của Cao Lão: “Một, hai, ba, nâng!” Rồi ngay sau đó vang lên tiếng bước chân có chút lộn xộn đang tiến về phía tôi.
(Chú thích: Trong lễ chôn sống, khi khởi quan tài, đạo sĩ tuyệt đối không được quay đầu.)
Nghe thấy tiếng chân, tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Lúc khởi quan là dễ xảy ra trục trặc nhất, nay bình yên vô sự, đó là điềm lành. Tôi bước thêm mấy bước, đợi quan tài ra khỏi nhà chính thì giảm tốc độ, đi song song với Cao Lão, hỏi: “Mộ ở đâu?”
Cao Lão mặt hơi tái, thở gấp, rõ ràng quan tài rất nặng. Anh ta nói: “Không xa lắm, đi thẳng chừng trăm mét, rồi rẽ trái, đi thêm một đoạn lên núi là tới. Tôi đã để lại ký hiệu dọc đường rồi.”
Tôi gật đầu, nhìn sang Dương Ngôn. Mới đi được mấy bước mà hắn ta đã mồ hôi nhễ nhại, may mà chân vẫn vững, nhưng có vẻ chẳng trụ được bao lâu nữa. Tôi liền bảo Cao Lão: “Đi trăm bước thì nghỉ một lần, thà chậm còn hơn xảy ra chuyện.”
Nói rồi tôi tăng tốc đi trước dẫn đường, vừa đọc kinh, vừa ra hiệu cho Kiều Y Tư rải giấy vàng.
Phải nói là Kiều Y tư – cô nàng xinh đẹp này, lại rất rành nghề khiêng quan. Tôi chỉ cần liếc mắt là cô hiểu ngay ý, lập tức tung giấy vàng. Có lúc tôi còn nghi ngờ, không biết cô là cổ sư hay thực ra vốn là phu khiêng quan.
Một trăm bước với tôi chẳng đáng gì, nhưng với đám bát tiên thì cực kỳ khó khăn. Đủ trăm bước, tôi bảo Kiều Y Tư tìm chỗ bằng phẳng, đặt hai chiếc ghế gỗ dài, để họ đặt quan tài xuống nghỉ ngơi.
Họ hạ quan tài xuống ghế, ai nấy mệt đến kiệt sức, ngồi phịch xuống đất, miệng than: “Nặng quá, quan tài của người sống thật là nặng!”
Tôi cười khổ, không tiện nói gì thêm, chỉ đặt gậy khóc tang lên quan tài, phát cho mỗi người một điếu thuốc, lầm bầm: “Mọi người vất vả rồi. Khiêng lên tới đỉnh núi, coi như cứu được một mạng người, chúng ta đều thành đại thiện nhân. Đến lúc đó, bác sĩ Dương nhất định sẽ có lời cảm ơn, dẫu sao chuyện này ít nhiều cũng liên quan đến anh ta.”
Nói xong tôi quay sang nhìn Dương Ngôn. Hắn ta ngồi bệt xuống đất, thở hổn hển. Tôi đùa: “Bác sĩ Dương, khiêng xong quan tài, có phải anh sẽ mời bọn tôi một bữa ở thị trấn chứ?”
“Được thôi, được thôi!” hắn ta hít mạnh một hơi thuốc rồi ho sặc sụa. Rõ ràng vị bác sĩ tóc dài này chẳng quen hút thuốc, chắc bình thường chỉ lo nghiên cứu y học.
Nghỉ chừng mười phút, chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Đi thêm hai lần nghỉ nữa, cuối cùng cũng tới chân núi. Không hiểu sao, vừa tới nơi, lòng tôi chợt thấy nặng nề. Tôi ra hiệu dừng lại, quan sát kỹ ngọn núi trước mặt.
Gọi là núi nhưng thực ra chỉ là một cái dốc cao chừng mười mét. Đường khá dốc, mộ nằm lưng chừng, xung quanh toàn cây cối um tùm. Kỳ lạ là những cây này cực kỳ to, ước chừng vài chục năm tuổi.
Theo lẽ thường, cây già như vậy chỉ mọc trong rừng sâu. Ở nơi thế này, nhiều lắm chỉ sống được bảy tám năm rồi héo, vậy mà lại mọc ra được những cây to thế kia. Bảo không có gì kỳ quái thì chẳng ai tin.
Tôi hỏi Cao Lão: “Khi đào huyệt, có gặp chuyện lạ gì không?”
Anh ta ngạc nhiên nhìn tôi: “Không có, thuận lợi lắm, chẳng có tiếng động gì cả. Chỉ là đào xuống chừng một mét thì toàn đá cuội, đào cực khó.”
Nghe xong, tôi cảm thấy có gì đó không ổn. Nghĩ kỹ, mặt tôi biến sắc. Cây cối thường mọc ở nơi nhiều đất, lẫn ít sỏi đá thì còn được. Nhưng mọc thẳng trên tầng đá cuội thế này thì hoàn toàn trái lẽ thường.
“Sao thế? Có vấn đề gì à?” Cao Lão rít một hơi thuốc, hỏi tôi.
Tôi cau mày nhìn dốc núi, đáp qua loa: “Không sao, lúc lên dốc nhớ cẩn thận. Chút nữa tôi sẽ đỡ quan tài từ phía sau. Kinh Vô Lượng Thọ thì khỏi cần đọc nữa.”
Tôi không dám nói thật, sợ họ sinh lòng sợ hãi. Con người một khi đã sợ, chỉ một tiếng gió thổi cũng đủ hoảng hồn, mất hết bình tĩnh.
“Không đọc kinh nữa? Thế có sao không?” Một phu khiêng quan hỏi.
“Chắc không vấn đề gì. Dù sao lần này chôn sống người còn sống, kinh văn đọc hay không cũng không quan trọng. Việc cấp bách là nhanh chóng hạ táng.” Tôi giải thích.
“Sao phải gấp vậy?” Dương Ngôn xen vào.
Tôi nói: “Trong Táng kinh có câu: ‘Cốt nơi gò đống, chi nơi đồi núi, khí theo đó mà tụ.’ Giờ sinh khí dày đặc, trường khí xung quanh cũng tốt, nhất là mấy cây kia to như vậy, chứng tỏ chúng tỏa ra khí không tệ. Nếu để khí đó ngấm vào quan tài, thì có lẽ Vương Khiết sẽ được cứu. Nhưng e rằng khi mặt trời mọc, ánh dương quét tan hết, lúc đó chẳng những không cứu được cô ấy, mà lễ chôn sống còn biến thành tang sự thật sự.”
Nói rồi tôi châm điếu thuốc, rít vài hơi, trong lòng dằn vặt. Biết trước nghĩa địa thế này, tôi đã mang quan tài đến sớm hơn, chứ để thành ra thế này, thật là sơ suất của tôi.
Nghe tôi nói xong, đám bát tiên im lặng, chẳng ai hé lời. Ngược lại Kiều Y Tư tiến tới, vỗ vai tôi: “Tôi từng học võ vài năm, sức mạnh hơn đàn ông thường một chút. Hay để tôi cũng phụ khiêng quan tài?”
“Không được. Nữ thuộc âm, quan tài kỵ phụ nữ khiêng. Một khi phụ nữ chạm vào, quan tài sẽ càng nặng gấp bội.” Tôi lắc đầu.
“Trần bát tiên, mới hơn 5 giờ thôi, bình minh thường phải đến 6 giờ mới ló. Vẫn còn kịp mà? Có phải cậu lo xa quá không?” Cao Lão tiến lại, có phần không phục nói.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 11 others
Chương 66: Chôn sống (phần 13)
Trong lòng tôi có vài lời không thể nói ra, chỉ có thể nuốt xuống bụng, gượng cười một tiếng rồi bảo: “Đoạn đường dốc này hơi khó đi, tới huyệt mộ sớm thì sẽ yên tâm sớm thôi.”
Nghe tôi nói vậy, Cao lão cũng không lên tiếng nữa. Tôi chia cho mọi người một lượt thuốc. Nghề của bọn tôi, hút thuốc chẳng khác gì nghiện, vứt điếu trước là phải châm ngay điếu sau. Đặc biệt là lúc khiêng quan tài thì càng hút dữ, chủ yếu dựa vào khói thuốc để áp chế nỗi sợ hãi trong lòng. Thế nên thân thể bát tiên chúng tôi ít nhiều đều có vấn đề, đa phần là vì hút thuốc quá nhiều.
Nghỉ một lúc, tôi nhìn điện thoại, lúc ấy là 5 giờ 27. Trên trời đã lóe lên ánh sáng trắng, chẳng mấy chốc nữa mặt trời sẽ mọc. Tôi quăng mẩu thuốc, hét lên với bát tiên: “Cầm chắc gậy chống, hôm nay bát tiên ta phải hiển uy, một hơi khiêng quan tài lên núi!”
“Được! Đại hiển thần uy!” bát tiên đồng thanh hô vang, ngay cả bác sĩ tóc dài Dương Ngôn cũng hô theo.
Tiếng hô đó khiến lòng tôi nhẹ đi ít nhiều. Kệ mấy cây cổ thụ kia có quỷ dị gì, chỉ cần mọi người đồng lòng, tin rằng quan tài này nhất định sẽ khiêng được lên. Tôi phát cho mỗi người một cây gậy chống, lại ngậm thêm điếu thuốc vào miệng họ, dặn phải cẩn thận dưới chân khi lên dốc.
“Các huynh đệ, một hơi khiêng quan tài lên, mai vào thị trấn ăn nhậu, tính tôi bao hết!” Tôi chẳng quản chuyện cao lão và mấy người kia tuổi ngang cha tôi, cứ thế mà gọi một tiếng “huynh đệ”.
Bát tiên hô “Được!”, rồi đứng vào vị trí, từng cặp kề vai làm trụ. Tôi đứng bên, hô khẩu hiệu: “Một… hai… ba, lên!”
Quan tài lại được nâng lên, từ từ tiến lên dốc. Đi lên dốc khác với đi đường bằng, phía trước quan tài dễ trượt khỏi vai, một sơ sẩy là cả người ngửa ra sau, nhẹ thì gãy tay chân, nặng thì đập đầu, thẳng xuống chầu Diêm Vương.
Phía sau còn khó hơn phía trước, bởi vì dốc ngược, trọng lượng quan tài đè xuống sau nhiều hơn, sức nặng tưởng tượng cũng đủ thấy. Chỉ cần lỡ chân một bước, quan tài đổ xuống lưng thì khó toàn mạng. Thế nên tôi mới bỏ gậy khóc mả, chạy ra phía sau đỡ quan, chỉ mong giảm bớt sức nặng cho bọn họ.
Vừa đặt chân lên dốc, tôi đã thấy sắc mặt bát tiên biến đổi, đỏ bừng lên. Đặc biệt là Dương Ngôn, chỉ trong thoáng chốc mặt hắn tím tái, rõ ràng có gì đó bất thường. Dù quan tài trên dốc có nặng, cũng không đến mức làm mặt bọn họ biến sắc thế này.
Thấy vậy, tôi vội chạy ra sau, hai tay chống vào quan tài, dồn sức đẩy lên, sợ phía sau xảy ra trượt quan. Tôi bảo Kiều Y Tư lên phía trước rải giấy vàng, nhưng cô ấy nhất quyết không chịu, nói muốn ở sau giúp chống quan.
Tôi bảo phụ nữ không được chạm vào quan tài, chẳng biết đắc tội chỗ nào, cô ấy lập tức giơ chân giẫm mạnh lên chân tôi rồi chui vào rừng cây bên cạnh. Mới đi được chưa đầy bảy bước, cô đã vác ra một khúc cây khô to bằng nắm tay, dài chừng một mét, đi tới bên tôi, mỉm cười: “Thế này được chưa?”
Nói xong, cô chống khúc cây vào đuôi quan tài, dồn sức đẩy. Quả thật, nhờ cô ấy, tôi cảm giác nhẹ đi rất nhiều. Tôi chỉ dặn cô chú ý an toàn, cô gật đầu.
Hành động của Kiều Y Tư khiến lòng tự tôn của tám tiên bị chạm mạnh. Chúng tôi cảm thấy mình bị phụ nữ coi thường. Ở nông thôn, đàn ông chẳng có gì để so bì, không giống mấy nhà giàu thành phố so nhà, so xe, so cha mẹ nuôi. Ở quê, chúng tôi chỉ có thể so sức lực.
Giờ đến một người phụ nữ còn mạnh đến thế, là đàn ông, ai dám tụt lại? Cả đám nghiến răng khiêng quan tài tiến lên, tốc độ rõ ràng nhanh hơn trước.
Nhìn vậy, tôi ước lượng chắc trước khi mặt trời mọc có thể kịp hạ táng. Tôi nhìn Kiều Y Tư, chân thành nói: “Không ngờ cô khỏe thế đấy.”
Cô ta chỉ cười, không nói gì.
Chúng tôi tiếp tục đi lên, được nửa đường thì cây cối hai bên nhiều hẳn, trong lòng tôi cũng treo lơ lửng. Luôn thấy mấy cây lớn kia có gì đó kỳ quái.
“Cẩn thận dưới chân, đừng để bị ngã.” tôi nhắc to: “Nghiến răng, khiêng tới huyệt mộ!”
Đúng lúc ấy, tôi thấy Kiều Y Tư thở dốc nặng nề, dường như sắp hết sức. Tôi bảo: “Cô nghỉ một lát đi, bát tiên chúng tôi có thể lo được.”
Cô ta lắc đầu: “Tôi cố thêm chút nữa, không kịp thì chị Vương Khiết sẽ chết.”
Cô ấy đã kiên quyết, tôi đành để cho tiếp tục chống. Thật lòng mà nói, trọng lượng đè lên tay tôi rất nhiều, hai cánh tay đã tê dại, nhưng không dám buông. Chỉ cần tôi thả tay, sức nặng sẽ ép thẳng lên bát tiên, cũng sợ Kiều Y Tư đột nhiên buông ra. Trên con dốc thế này, chỉ cần một sơ suất, quan tài sẽ rơi xuống đất.
Đi thêm hơn chục bước, chẳng hiểu sao, từ cây đại thụ bên trái bỗng gãy rơi xuống một đoạn cành cây, to bằng nửa nắm tay, dài chừng một mét, còn nguyên lá. Nó rơi đúng ngay trên quan tài.
Cành cây trượt dọc theo nắp quan xuống phía sau. Thấy vậy, tôi vội trấn an: “Đừng sợ, chỉ là cành gãy thôi, chẳng nặng lắm, giữ chặt quan tài!”
Nhưng vừa dứt lời, cành cây kia lại kỳ lạ vô cùng. Nó xoay nửa vòng trên nắp quan, từ nằm ngang thành dựng đứng, lao thẳng về ngực Kiều Y Tư. Tôi hốt hoảng. Dù cành cây không nặng, nhưng trong tình cảnh này, nếu đập trúng ai cũng sẽ khiến họ mất sức trong chốc lát, làm những người khác cảm giác quan tài nặng thêm. Tôi không dám nghĩ tiếp.
Trong cơn nguy cấp, tôi vội đưa tay phải gạt cành cây sang bên. Nhưng vừa nhấc tay, tay trái lập tức bị một sức nặng khủng khiếp đè xuống, ít nhất cũng phải một, hai trăm cân. Rõ ràng tôi nghe thấy “rắc” một tiếng, xương gãy rồi.
Cơn đau xé lòng lan từ cánh tay, nhưng sợ tăng thêm gánh nặng cho bát tiên, tôi không dám buông tay trái. Tôi vội dùng tay phải hất cành cây đi, rồi lại chống lên quan tài, chia sẻ áp lực cho tay trái.
Cánh tay bị ép gãy sống, cảm giác đó không phải người thường có thể chịu nổi. Chỉ vài giây, trán tôi đã vã mồ hôi hột, từng giọt to rơi xuống, rửa trôi cả lớp mực trên mặt.
“Cửu gia, sao mồ hôi đầm đìa thế, có chuyện gì vậy?” Kiều Y Tư đứng cạnh hỏi.
Tôi không dám mở miệng, cơn đau này quá dữ dội. Chỉ cần mở lời, e rằng toàn thân sẽ mất hết sức. Tôi cố gắng lắc đầu.
Nghe thấy Kiều Y Tư hỏi, bát tiên đồng loạt ngoái lại nhìn. Trọng lượng quan tài bỗng chốc mất kiểm soát, lắc mạnh về phía sau. Tôi giật mình, chẳng kịp để ý cơn đau tay, dồn đầu lên trước chống lại. Chỉ cảm thấy mắt trái như va phải vật gì sắc nhọn, tiếp đó có chất lỏng chảy xuống mí mắt, mùi tanh máu thoang thoảng.

Chương 67: Chôn sống (phần 14)
Nói ra cũng lạ, vừa lúc đầu tôi đập vào quan tài thì quan tài lại ổn định xuống. Nhưng nơi khóe mắt truyền đến cơn đau còn dữ dội hơn cả lúc gãy tay, rát bỏng. Tôi cũng không dám kêu đau, chỉ nghiến răng, gắng gượng nói với mấy vị Bát Tiên: “Đừng quay đầu, giữ chắc quan tài, khiêng tiếp về phía trước.”
Nghe tôi nói vậy, bọn họ liền quay mặt lại, chuyên tâm khiêng quan tài đi, chẳng ai để ý đến vết thương của tôi.
Thấy quan tài dần ổn định, tôi sợ Bát Tiên hoang mang nên cúi thấp đầu, không để họ nhìn thấy bộ dạng bị thương của mình, rồi từ từ buông tay khỏi quan tài. Tôi đưa tay lên khóe mắt lau đi, toàn là máu, mơ hồ sờ thấy một vết rách dài chừng nửa ngón tay cái. May mà ở ngay trên lông mày, nếu thấp thêm một chút thì e là tôi cũng thành độc nhãn long như lão Vương rồi.
Dao nhọn từ đâu ra? Trong lòng tôi thoáng nghi hoặc, nhìn kỹ về phía sau quan tài thì phát hiện ở đó có một khe hở nhỏ, chẳng biết từ lúc nào lộ ra mũi nhọn của con dao mổ heo, dài chừng hai ba phân. Vì trên lưỡi dao có bôi màu đen nên nếu không nhìn kỹ thì hoàn toàn không nhận ra. Con dao ấy dưới ánh máu tươi càng trở nên yêu dị, như đang khiêu khích tôi.
Tôi sững người. Con dao mổ heo rõ ràng đặt trên ngực Vương Khiết, sao lại trượt ra phía sau quan tài, còn ló đúng mũi nhọn ra ngoài? Nghĩ mãi, cuối cùng chỉ có một cách giải thích hợp lý.
Vì đây là chôn sống, nên khi đóng nắp quan tài, chúng tôi không dám đóng chặt đinh tán, để lại khe hở. Lại thêm đường dốc khiến quan tài nghiêng, con dao mổ heo từ từ trượt xuống phía sau, vừa vặn kẹt đúng khe hở, lộ mũi nhọn ra. Đúng lúc tôi trong cơn gấp gáp lại đập đầu trúng ngay chỗ đó.
Rốt cuộc chỉ là trùng hợp, hay còn nguyên nhân khác? Tôi không có thời gian nghĩ ngợi, vội vơ mấy cái lá cây lau máu ở khóe mắt, nhưng lau chưa được bao nhiêu thì máu lại tiếp tục chảy, hoàn toàn không cầm được.
Theo tốc độ này, chưa đầy hai mươi phút máu trong người tôi sẽ chảy cạn. Bất đắc dĩ, tôi đành bốc ít bùn đất, mặc kệ có nhiễm trùng hay không, đắp thẳng lên chỗ lông mày.
Trước đây lúc làm đồng bị thương, chảy máu không ngừng, tôi từng dùng bùn để cầm máu, hiệu quả cũng không tệ. Tuy có nguy cơ nhiễm khuẩn, nhưng lúc này chẳng còn cách nào khác, tạm thời vẫn là biện pháp tốt.
Quả nhiên, vừa đắp bùn lên, máu chảy liền chậm lại. Có lúc mấy mẹo dân gian cũng khá hữu ích, dù sao cũng kết tinh trí tuệ mấy nghìn năm của tổ tiên.
Máu tạm ngừng, tôi ngẩng lên nhìn về phía trước, Bát Tiên vẫn đang chuyên tâm khiêng quan tài, gần đến huyệt mộ rồi, hoàn toàn không phát hiện ra chuyện bên này. Tôi thở phào, cuối cùng cũng đưa quan tài đến nơi an toàn, chuẩn bị đi về phía họ.
Bỗng tim tôi đập dồn dập, mơ hồ truyền đến một áp lực khó hiểu. Ngẩng đầu nhìn quanh, mới phát hiện cảm giác ấy đến từ hai bên hàng cây, như thể chúng muốn gạt tôi ra khỏi triền dốc này. Trong lòng hơi sợ hãi, tôi liền cắm đầu chạy về phía Bát Tiên, ở một mình ở đây lạnh sống lưng lắm.
Nhưng vừa chạy được hai bước, cảm giác đó lại càng mạnh, không rõ là thiện ý hay ác ý, chỉ thấy tim đập càng lúc càng nhanh. Tôi chắc chắn không phải vì mất máu mà do chính áp lực phát ra từ cây cối xung quanh.
Gặp quỷ rồi, chẳng lẽ mấy cây này thành tinh? Không tin thì thử, tôi lại bước thêm mấy bước, tim đập “thình thịch” dữ dội, như sắp nhảy lên tận cổ họng.
Tôi dừng lại. Chẳng lẽ khí trường nghĩa địa này đang bài xích tôi? Không thể nào, đám Cao Lão khiêng quan tài vào được, sao chỉ mình tôi không vào được? Nghĩ mãi vẫn không thông.
Sau một hồi, chẳng tìm ra nguyên nhân, tôi đành ngồi xuống đất, cố gắng điều chỉnh nhịp thở, rồi thầm niệm “Thanh Tâm Chú”. Lặp lại khoảng ba lần, nhịp tim mới dần ổn định.
Tôi lại đứng dậy đi tiếp, thì cảm giác áp bức ấy lập tức ập đến. Đúng là khốn kiếp thật, một nghĩa địa quèn mà cũng dám ức hiếp người! Tôi điên tiết, nhưng nếu còn chậm trễ thì chẳng kịp làm lễ chôn. Người duy nhất hiểu nghi thức, lão Vương lúc này đang phạm xung, không thể tham gia. Nếu tôi không qua, chẳng ai dám động vào quan tài. Huống chi đây là chôn sống, càng không ai biết cách làm.
Làm sao bây giờ? Tôi sốt ruột đi đi lại lại, vô tình thấy Bát Tiên đã đặt quan tài xuống huyệt, bọn họ nghi hoặc nhìn tôi, gọi: “Trần Bát Tiên, sao còn chưa qua, mặt trời sắp mọc rồi đó!”
Tôi cũng muốn qua chứ, nhưng không được! Vừa bước thêm vài bước, tim lại đập nhanh dữ dội, e là chưa tới huyệt đã lăn đùng ra chết vì ngừng tim.
Tôi bèn gọi với sang: “Đợi chút, tôi mắc tiểu, qua ngay đây.”
Không dám nói thật, sợ hù doạ bọn họ. Vốn dĩ chuyện chôn sống đã nhiều kiêng kỵ, giờ thấy tôi gặp rắc rối nữa thì e là họ bỏ chạy mất. Dù sao ai mà chẳng quý mạng mình.
Phía Bát Tiên không nói thêm gì, tiếp tục chuẩn bị nghi thức. Tôi thì đứng ngẩn ra, thử đủ loại cách phá: quỷ đánh tường, quỷ che mắt, quỷ chặn đường… nhưng hễ bước thêm vài bước, tim lại dồn dập.
Thử nhiều lần không xong, tôi dần bình tĩnh, nghĩ: tại sao Bát Tiên qua được còn tôi thì không? Giữa tôi và họ khác nhau ở điểm nào?
Ngẩng lên nhìn, thấy cả người họ đen kịt, rồi nhìn lại mình, toàn thân vấy đầy máu. Lẽ nào nguyên nhân là do máu? Cây cối này kỵ mùi tanh?
Nghĩ tới đây, tôi tát mạnh vào mặt mình. Mẹ kiếp, chôn sống kỵ màu đỏ, mà tôi thì toàn thân máu me, đúng là phạm kỵ rồi! Không biết sao chưa gặp tình trạng như lão Vương, nhưng rõ ràng tôi không thể bước vào huyệt. Nếu đoán không sai, những cây này không có ác ý, chỉ là ngăn đường, sợ tôi phá hỏng lễ chôn sống của Vương Khiết.
Nếu quả thực vậy thì tổ tiên nhà Vương Khiết hẳn không phải người tầm thường, lúc sinh thời chắc đã tích nhiều âm đức, nên khí trường mới chỉ xung khắc riêng với thứ đặc thù như máu.
Xem ra sau khi xong việc, phải tìm hiểu cho rõ vị cao nhân đó rốt cuộc là ai, đến chết rồi mà còn có thể phù hộ con cháu.
Nghĩ thông suốt, tôi lập tức cởi sạch áo quần, dùng chỗ mực chưa khô trên vải bôi kín khắp người. Do tay trái gãy, thao tác cực kỳ khó khăn, loay hoay hồi lâu mới phủ đen toàn bộ da thịt.
Tôi hít sâu một hơi, cố giữ bình tĩnh, rồi thận trọng nhấc chân phải bước lên một bước, không có gì bất thường. Lại nhấc chân trái bước thêm một bước, vẫn ổn. Trong lòng tôi mừng rỡ: quả nhiên nguyên nhân chính là máu!

Chương 68: Chôn sống (phần 15)
Tôi liền bước lên phía trước mấy bước, không có cảm giác quái dị nào truyền đến. Bước chân tôi nhanh dần, tiến thẳng về phía đám Bát Tiên. Vừa thấy tôi, họ đã trêu chọc: “Trần Bát Tiên, sao lại cởi trần nửa người trên thế kia? Có phải nhìn thấy cô nàng Kiều tiểu thư mà động lòng rồi không? Muốn khoe chút cơ bắp để chinh phục trái tim nàng à?”
Kiều Y Tư liếc tôi một cái, gương mặt đỏ bừng, rồi hung hăng lườm tôi, vừa thẹn vừa giận: “Đồ lưu manh! Đồ vô liêm sỉ!”
Xem chừng cô ấy đã tin lời trêu chọc của bọn họ.
Tôi chỉ ngượng ngùng cười, có lúc phụ nữ thật sự khó hiểu, rõ ràng chỉ là một câu đùa mà cũng tin là thật. Tôi không để ý đến cô ta nữa, đối với một người biết dùng cổ trùng, tôi vốn chẳng nghĩ đến chuyện đó. Chỉ giải thích với đám Bát Tiên:
“Quần áo bị dính, mặc vào rất khó chịu.”
Họ cười cười, rồi lại trò chuyện dăm câu. Có người hỏi trên trán tôi bị gì, tôi đáp là sơ ý bị cây cào xước. Họ tin ngay, vì trên núi có nhiều cành gai, bị xước là chuyện thường. Ngược lại, Kiều Y Tư lại nghi ngờ nhìn tôi mấy lần, cuối cùng khẽ lắc đầu, không nói thêm gì.
Lúc đó, tôi ngẩng đầu nhìn về phía đông, chân trời mơ hồ đã có ánh đỏ, xem chừng mặt trời sắp mọc. Không dám chậm trễ thêm, tôi bảo đám Bát Tiên chuẩn bị hạ táng. Họ đồng ý.
Tôi nhận lấy cái bao tải từ tay Kiều Y Tư, lấy ra bốn cặp nến, một bó nhang, một cái dây mực, ngũ cốc tạp hạt, một cái bát sứ cùng một đống giấy vàng, bày hết bên cạnh huyệt mộ.
Ngẩng đầu nhìn huyệt mộ: kích thước chuẩn mực, phía dưới toàn đá cứng, lại nằm giữa hai gò mộ. Theo thường lệ, mộ phải nằm sát mộ, nhưng ở đây hai gò lại cách nhau một khoảng.
Bên trái là gò mộ thấp, do lâu năm không tu sửa nên gần như bị người ta giẫm bằng, nếu không có tảng đá tế phía trước thì khó mà phân biệt. Bên phải cũng có tuổi, nhưng được cúng tế thường xuyên nên đã được đắp lại nhiều lần. Tuy vậy, không có bia mộ, chắc hẳn là phần mộ tổ tiên nhà Vương Khiết.
Không nghĩ nhiều, tôi bảo đám Bát Tiên quay lưng lại, rồi cắm ba nén nhang, một cặp nến lên hai gò mộ, đốt ít giấy vàng, vái ba vái, miệng khấn nhỏ: “Quấy nhiễu sự tĩnh tu của các vị, mong được lượng thứ.”
Sau đó, tôi lại vái ba lạy trước huyệt mộ, rắc ít ngũ cốc tạp hạt (chú: trong nghi thức chôn sống, ngũ cốc phải là loại màu đen), miệng niệm kinh văn.
Xong xuôi, tôi đến cuối huyệt mộ, ném cái bát sứ về phía góc trên bên phải của đầu huyệt. (Chú thích: nếu là đàn ông thì phải ném về góc trên bên trái.)
Ném bát này giống như gieo quẻ, ý là hỏi ý đất thần. Nếu bát úp miệng xuống thì đầu quan tài quay về hướng đó; nếu ngửa lên thì đuôi quan tài quay về đó.
Chiếc bát tôi ném ra ngửa miệng lên, nghĩa là đầu quan tài phải quay về hướng đó. Quay lại nhìn, đầu quan tài vốn đã quay đúng hướng, chẳng cần phải xoay chuyển.
Sau đó, tôi lấy dây mực, đóng một cọc ở đầu huyệt, buộc dây vào, giữ cao khoảng mười phân, rồi kéo sang trái, đóng thêm cọc. Liên tục làm bốn lần, tạo thành một hình vuông bằng dây mực.
Tôi bật mạnh sợi dây, trên mặt đất hiện ra vạch đen cực kỳ thẳng. Trong lòng lấy làm lạ: nghi thức chôn sống vốn thường sinh dị sự, vậy mà từ lúc vào huyệt trường đến giờ, mọi việc lại quá êm xuôi.
Từ việc gieo bát đến bật dây mực, đều không sai sót. Thông thường khi chôn cất, dây mực cách mặt đất, chịu nhiều ảnh hưởng nên ít nhiều sẽ lệch, nhưng lần này lại thẳng tắp. Thật chẳng khác nào gặp quỷ! Tôi không có thì giờ nghĩ nhiều, đành cho rằng đó là nhờ tổ tiên nhà Vương Khiết phù hộ.
Bật dây mực, ngoài để đo lường quan tài đặt vào huyệt cho ngay ngắn, còn có tác dụng trừ tà. Bởi vào lúc mặt trời mọc, tuy tràn đầy dương khí, nhưng cũng là thời khắc âm khí nặng nhất.
Người ta thường nói giờ Tý âm khí nặng nhất, chúng tôi, Bát Tiên không tiện bàn cãi. Mỗi phái có cách tính riêng. Đạo gia coi giờ Tý là lúc giao ngày, âm khí thịnh. Nhưng theo tổ tiên Bát Tiên truyền lại, thì bình minh mới là lúc âm khí nặng nhất.
Lý do vì sao, chúng tôi không rõ. Tổ tiên truyền lại thế nào thì làm thế ấy. Dù có kẻ học vấn uyên thâm đến đâu, giỏi ăn nói thế nào, có thể biến con chim trên trời thành món trong nồi, chúng tôi cũng không tin. Chỉ tin lời tổ tiên mà thôi.
Nói lại chính sự, sau khi bật xong dây mực, tôi cắm hai cặp nến ở đầu và cuối huyệt, châm lửa. Ngọn lửa cháy thẳng, không hề rung động, dù có gió lướt qua cũng không lay chuyển.
Thật là kỳ lạ, việc hạ táng này lại thuận lợi đến mức khó tin. Tôi cũng chẳng rõ đó là điềm lành hay dữ. Con người thường vậy, việc khó mà làm được dễ dàng thì lại nảy sinh nghi ngờ. Tôi cũng chẳng ngoại lệ.
Xong hết, tôi bảo Kiều Y Tư quay người lại, hỏi tình trạng bản mệnh cổ. Cô ta đáp khí tức rất yếu, nhưng so với lúc trong nhà thì đã tốt hơn nhiều. Tôi không hỏi thêm, chỉ bảo cô lấy một nắm đất rắc lên quan tài.
Cô ta thắc mắc tại sao là nàng, tôi giải thích: “Bản mệnh cổ ở trên người Vương Khiết, giữa cô và Vương Khiết có chút huyết thống. Nắm đất đầu tiên phải do huyết thân thực hiện, giờ chỉ có thể nhờ cô thay thế.”
Cô ta gật đầu, bốc một nắm đất rắc xuống. Đừng coi thường nắm đất ấy, trong sách tang lễ gọi là ‘thiêm thổ’, ý là thêm phúc thêm thọ.
Tất nhiên, nếu là tang lễ bình thường thì không được rắc, vì ai lại để người chết thêm phúc thọ cơ chứ?
Xong, tôi bảo đám Bát Tiên quay người lại, cùng nhau nhấc quan tài, nhẹ nhàng đặt xuống huyệt. Quá trình diễn ra trơn tru, không hề có tiếng động, khiến ai nấy cũng thở phào, nở nụ cười.
Quan tài đặt xuống rồi, tôi nhìn về phía Cao Lão, hỏi: “Thứ tôi bảo anh chuẩn bị, anh chuẩn bị chưa?”
Anh ta quay lại, từ dưới tảng đá tế ở mộ bên phải lấy ra một túi nhựa màu đen, đưa cho tôi: “Đào xong huyệt, tôi làm theo lời cậu, hốt ít đất vụn đá sỏi ở đáy huyệt, cho vào túi, giấu dưới tảng đá tế mộ tổ tiên cô ấy.”
Nói xong, anh ta nghi hoặc nhìn tôi, hỏi: “Trần Bát Tiên, mấy hòn đá vụn này có tác dụng gì vậy?”

Chương 69: Chôn sống (phần 16)
Tôi đón lấy cái túi ni-lông, ghé mắt nhìn vào thì thấy hơi ẩm, đưa tay chạm thử còn dính nhớp, nhưng cũng chẳng nghĩ nhiều, liền bảo với Cao lão: “Cái này gọi là phục linh, dùng đất ở đáy mộ huyệt. Lát nữa lúc đào quan tài sẽ nhẹ nhàng hơn.”
Cao lão nghi hoặc nhìn tôi: “Không phải chứ? Tôi cũng từng chôn không ít quan tài, sao chưa từng nghe cái thuyết này?”
Tôi cười, đáp: “Lát đào quan tài thì anh sẽ biết ngay thôi!”
Nói rồi tôi bốc một nắm sỏi trong túi, hướng về phía Đông vái ba vái, sau đó quay người rải lên nắp quan tài.
Tiếp đến, tôi lấy cái bát sứ đã chuẩn bị sẵn, đặt ngay giữa nắp quan, cạnh ống trúc, bỏ vào ba lá bùa vàng, thêm ít đá sỏi, sau đó mới bảo mọi người bắt đầu lấp đất.
Mất một phen vất vả, cuối cùng cũng lấy đất lấp kín nắp quan, chỉ chừa lại ống trúc cho Vương Khiết thở bên trong.
Xong xuôi, tôi nhìn điện thoại: 5 giờ 57. Ngước mắt nhìn trời, xa xa đã thấy bóng mặt trời nhưng chưa ló hẳn. Tôi thở phào, ngồi phịch xuống đất, chia cho mỗi Bát Tiên một điếu thuốc rồi nói:
“Những gì cần làm chúng ta cơ bản đã làm xong. Sống hay chết, giờ phải xem số mệnh của Vương Khiết.”
Đám Bát Tiên chẳng ai nói gì, chỉ lặng lẽ ngồi hút thuốc.
Lúc ấy, Dương Ngôn châm thuốc, đi tới ngồi cạnh tôi, nhìn tôi đầy nghi hoặc: “Trần Bát Tiên, tay cậu hình như có vấn đề? Gãy rồi hả?” vừa nói vừa chỉ tay trái của tôi.
Tôi gật đầu, chẳng định giấu: “Lúc đẩy quan lên dốc, bị nó đè gãy. Sợ lỡ giờ lành nên không dám nói. Giờ mới rảnh, bác sĩ Dương xem giúp tôi, có cách nào giảm đau thì làm, đợi xong việc đào quan rồi sẽ vào viện.”
Nghe tôi nói, sắc mặt hắn trầm lại, cầm tay tôi xem rồi gắt: “Cậu thế mà cũng gọi là bệnh nhân à? Trật khớp cả buổi trời, không kêu nửa tiếng! Kéo dài thế này thì phế tay luôn, còn kịp thì mau vào viện nối lại!”
Tôi xua tay: “Anh giảm đau cho tôi là được. Chuyện viện thăm khám để sau. Bây giờ tôi còn đang làm việc, phải có trách nhiệm với quan tài, với người chết. Nửa chừng bỏ cuộc thì ra gì nữa? Mau nói thẳng đi, có cách giảm đau không, đừng dài dòng. Chẳn trách thích mặc quần trắng, hóa ra là giả gái.”
Câu sau tôi cố ý chọc tức hắn. Có những người phải khích mới chịu ra tay, mà tên này nhìn đã biết thuộc dạng đó. Còn chuyện đi viện, thật tình tôi chẳng có thời gian. Một lát đào quan còn nhiều nghi thức, sai sót một bước coi như công cốc.
Có điều, cơn đau tay thì đúng là khó chịu thật. Trước bận rộn nên còn nín nhịn, giờ ngồi nghỉ mới thấy đau đến mức khó thở.
“Cậu điên rồi à? Tay trật thế này mà còn cố, không muốn giữ tay nữa chắc?” vừa nói, hắn vừa ấn mạnh vào chỗ trật.
Mẹ kiếp, đau thấu xương! Tôi phải hít một hơi lạnh, vội châm điếu thuốc để giảm cảm giác.
“Bớt nói nhảm, có giảm đau được không thì nói một câu! Nếu đi viện được, tôi đã đi rồi, ai lại chịu ngồi đây gồng thế này.” Tôi nổi cáu. Một bên là cái tay, một bên là mạng người, tôi biết cái nào nặng nhẹ hơn.
Nếu bình thường, gặp ai sống chết thì còn tùy tâm trạng tôi có cứu hay không. Nhưng cứu Vương Khiết lại là công việc, là trách nhiệm của tôi. Tôi thề phải dốc toàn lực. Dù tay có phế, cũng không thể để người ta nói lời chê trách.
Tôi là Bát Tiên, là một trong số ít phu khiêng quan tài ở Trung Quốc. Đã nhận tiền nhà chủ, phải làm trọn đạo, không hổ thẹn với nghề, cũng không thẹn với lương tâm. Người khác có thể coi thường tôi, nhưng tôi tuyệt đối phải tôn trọng nghề của mình. Đừng hỏi vì sao, chỉ vì tôi là Bát Tiên.
Nghe xong, Dương Ngôn im lặng một lúc, rồi cầm tay tôi xem lại: “Tôi là trưởng khoa thần kinh, không phải chỉnh hình, không giúp nối xương được. Chỉ có thể ấn huyệt quanh tay để thần kinh tránh va vào khớp xương thôi.”
Nói rồi, hắn bấm vài chỗ trên cánh tay. Quả nhiên cơn đau dịu đi, dù tay trái gần như không cử động nổi. Tôi cười, nói lời cảm ơn. Hắn chẳng đáp, chỉ ngồi lặng hút thuốc.
Kiều Y Tư đứng xem từ đầu, không biết nghĩ gì. Thấy chúng tôi yên lặng, cô ta ngồi xuống bên kia tôi, ngắm nghía một hồi, rồi vỗ mạnh vào vai tôi: “Không tệ, bà nội tôi nói đúng, Cửu gia là đàn ông thật sự.”
Câu này làm tôi nhớ ngay tới chuyện hôm ở bệnh viện. Hôm đó, bà cụ Kiều Y Tư có nói gì đó khiến cô ta đỏ mặt, tôi vẫn muốn tìm cơ hội hỏi. Giờ nghe cô ta nhắc, tôi liền hỏi luôn: “Hôm đó bà cụ chắc không chỉ nói mỗi câu ấy? Còn nói gì nữa, mà làm cô, à, một cô gái duyên dáng như cô, đỏ mặt thế?”
Suýt nữa tôi buột miệng gọi là “con mụ chanh chua”, may kịp đổi thành “cô gái duyên dáng”, không thì chắc cái tay phải cũng tiêu luôn. Con bé Miêu này tính tình thất thường như trời tháng Sáu, nắng mưa xoành xoạch.
“Xem như anh còn có mắt!” cô ta liếc tôi, rồi chậm rãi ngẩng lên nhìn trời, giọng chùng xuống: “Bà nói anh là chồng tương lai của tôi. Nhưng con gái Miêu chúng tôi biết dùng thuật cổ, thường lấy chồng thì chồng đều cụt tay gãy chân. Tôi sợ sau này anh cũng tàn phế.”
“Cái gì! Tôi là chồng tương lai của cô á? Cô đừng đùa tôi!”
Tôi bật dậy như lò xo. Nếu con bé này thực sự là vợ tôi sau này, thì đời tôi còn gọi là đời sao? Dùng từ “nước sôi lửa bỏng” để hình dung, e còn thấy quá nhẹ.
Đàn ông ở quê tôi thường có chút gia trưởng, tôi cũng chẳng ngoại lệ. Vẫn luôn mơ cưới được cô vợ không cần đẹp lắm, chỉ cần dịu dàng, hiền lành, vợ chồng nương tựa.
Mà Kiều Y Tư, nhan sắc thì hơn cả mấy cô người mẫu quảng cáo trên tivi, nhưng tính khí thì tuyệt không có chút dịu dàng. Ít nhất với tôi, chưa từng dịu dàng lần nào, gặp phát là đá thẳng vào chỗ hiểm.
Lấy cô ta, thì tôi chẳng hóa thành con của cô ta sao? Muốn đánh thì đánh, muốn mắng thì mắng, không còn mảy may tôn nghiêm đàn ông. Với một kẻ có máu gia trưởng như tôi, điều đó thật khó chấp nhận.
Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy mình chẳng những có lỗi với bản thân, mà còn phụ cả công lao cha mẹ sinh thành, thậm chí xấu hổ với cả tổ tiên mười tám đời. Thật nhục nhã quá!

Chương 70: Chôn sống (phần 17)
Tôi còn chưa kịp nghĩ thêm điều gì thì eo đã truyền đến một cơn đau thấu xương. Cúi đầu nhìn xuống, thấy bàn tay của Kiều Y Tư đang véo chặt lấy eo tôi. Cô ta nói: “Ở Phượng Hoàng Cổ Trấn, tôi được người ta gọi là Công chúa Phượng Hoàng. Sau này nếu thật sự gả cho anh, anh còn cảm thấy oan ức sao?”
Nói xong, cô ta trừng mắt nhìn tôi, nghiêm giọng hỏi: “Oan ức không?”
Tôi vốn không phải loại dễ khuất phục, bèn gật đầu: “Oan ức!”
Lời vừa dứt, cơn đau nơi eo càng dữ dội hơn. Tôi nghe rõ ràng tiếng nghiến răng của Kiều Y Tư, từng chữ như dằn xuống: “Còn… oan… ức… nữa… không?”
Tôi vừa định mở miệng thì đám Bát Tiên bên cạnh đã cười ầm lên. Cao Lão bước tới với vẻ mặt cợt nhả, cười ha hả nói: “Kiều cô nương, lão hán thấy trong lòng Trần Bát Tiên sớm đã vui như mở hội rồi. Cưới được một cô nương xinh đẹp như cô là ước mơ của bao nhiêu đàn ông. Sở dĩ hắn miệng nói là ủy khuất, e là đang chờ cô thi triển mỹ nhân kế đó thôi.”
Lời ấy vừa thốt ra, đám Bát Tiên càng cười rộ hơn. Không khí náo nhiệt làm vơi bớt phần nào áp lực do chuyện chôn sống mang lại. Có lẽ Kiều Y Tư thấy nơi này đông người, nên chưa đợi tôi trả lời đã buông tay khỏi eo, lặng lẽ ngồi xuống một bên, không nói lời nào nữa.
Tôi ngẩn ra, chợt thấy bản thân có phần quá đáng, không để ý tới cảm nhận của một cô gái. Tôi khẽ chạm vào cô ta, hỏi: “Những gì cô nói đều là thật sao?”
Cô ta khẽ gật đầu, không nói gì, vẻ mặt thoáng chút u buồn.
“Tất cả phụ nữ Miêu giỏi dùng cổ đều gả cho những người tàn tật à?” tôi thắc mắc.
Đám Bát Tiên cũng tò mò, lập tức vây quanh chờ cô ấy trả lời.
Kiều Y Tư quét mắt nhìn từng người một, khẽ thở dài rồi kể lại thân thế của mình.
Cô nói, không phải tất cả nữ cổ sư đều gả cho người tàn phế, nhưng gia tộc cô thì đặc biệt, chỉ nhận con rể tòng tự, hầu hết đều là người thiếu tay cụt chân. Ông nội cô mất một chân, cụ nội thì cụt một tay, còn xa hơn nữa thì đều chẳng bình thường, thậm chí có kẻ còn ngốc nghếch.
Đến đời mẹ cô, tuy cưới được một người đàn ông chất phác, thật thà, so với tổ tiên thì cũng coi là mỹ nam tử, nhưng rốt cuộc cũng không thoát khỏi vận mệnh.
Khi cô sáu tuổi, mắc một chứng bệnh kỳ lạ, tình trạng giống hệt Vương Khiết: tứ chi không cử động được, nhưng tim đập, mạch còn, miệng vẫn nói bình thường. Cả nhà chạy chữa khắp các bệnh viện lớn trong nước đều vô ích.
Sau cùng, bà nội đưa cô về Phượng Hoàng Cổ Trấn, nhìn qua đã nhận ra là trúng Nhãn cổ. Nhưng dù giải cổ thế nào cũng không hiệu quả, hơi thở của cô càng ngày càng yếu, suýt chút nữa mất mạng.
Cha cô không biết nghe ở đâu một truyền thuyết: Nhãn cổ chỉ có thể giải bằng mắt người sống. Thương con, ông đã tự móc đôi mắt của mình làm thuốc giải, cứu cô một mạng, nhưng từ đó mù lòa, mấy năm sau thì qua đời.
Nghe cô kể xong, tất cả đều lặng đi, chỉ lặng lẽ nhìn Kiều Y Tư. Khóe mắt cô ánh lên tia lệ. Lúc này tôi mới hiểu, vì sao cô kiên quyết cứu Vương Khiết đến thế, bởi trong Vương Khiết, cô thấy lại hình ảnh chính mình năm xưa, và cả bóng dáng người cha ấy.
Có lẽ số phận nhà cô cũng giống như “ngũ tệ tam khuyết” của Đạo gia, trời cho một năng lực, ắt lấy đi một thứ khác, công bằng cho tất cả. Chẳng khác nào khi ta ghen tị kẻ phú hào nhiều tiền, nhưng mấy ai hiểu được mồ hôi và cay đắng họ từng trả?
Còn về lời bà nội cô từng nói, tôi chẳng mấy bận tâm. Một cổ sư thì biết xem tướng từ khi nào? Nghe đã thấy vớ vẩn. Xưa nay ở Trung Quốc, nghề nào có nghề nấy, hiếm khi ai kiêm cả hai. Thỉnh thoảng có thì cũng chỉ biết qua loa. Bà cụ đó còn chưa nhìn thẳng tôi mà đã nói tôi là chồng tương lai của Kiều Y Tư? Hoang đường! Trừ phi bà ta là Quỷ Cốc Tử tái thế.
Huống chi, chỉ riêng tính cách thôi, tôi với Kiều Y Tư đã chẳng hợp. Dẫu tôi chỉ là phu vác quan tài, nhưng chuyện lấy vợ, tôi luôn nghĩ dung mạo có kém cũng được, quan trọng là hiền dịu dễ thương. Chứ một người nóng nảy, đanh đá như cô ấy, tuyệt không hợp.
Tôi vốn muốn hỏi Kiều Y Tư về cái chết của cha cô, nhưng đến miệng lại thôi. Lúc này, để cô ấy yên tĩnh tưởng nhớ cha, có lẽ là tốt nhất.
Tôi ra hiệu cho Cao Lão cùng mấy người rời đi, còn mình thì khẽ đứng dậy, đi về phía mộ phần. Đã gần một giờ trôi qua, đến lúc phải đào Vương Khiết lên rồi.
Kiều Y Tư chợt tỉnh lại, nắm chặt tay tôi, nói: “Cửu gia, nhất định phải cứu sống chị Vương Khiết, ta cầu xin anh. Chị ấy là hy vọng của tôi.”
Tôi hiểu nàng nói “hy vọng” chính là cha cô ấy. Tôi gật đầu: “Sẽ cố hết sức.”
Gạt đi tâm trạng nặng nề, tôi bước đến phần mộ. Mặt trời đã dần lên, ánh nắng dịu trải khắp nghĩa địa, khiến nơi này trông đầy sức sống. Lấy điện thoại ra xem, đã 6 giờ 50. Tôi bảo Kiều Y Tư cảm ứng bản mệnh cổ. Cô “ừ” một tiếng, ngồi xếp bằng, mắt khép hờ.
Một lát sau, cô mừng rỡ nói: “Hơi thở của bản mệnh cổ càng lúc càng mạnh, chắc chị Vương Khiết sẽ hồi phục được.”
Nghe vậy, lòng tôi cũng nhẹ nhõm. Tôi đến trước mộ, đốt ít vàng mã cho hai ngôi mộ bên cạnh, nói đôi lời cảm tạ, rồi cắm ba nén hương ở hướng Nam, Tây, Bắc quanh mộ Vương Khiết.
Sau đó, tôi đứng ở phía Đông mộ, gõ vào ống tre cắm trên đó. “Bộp, bộp”, âm thanh vang giòn, chứng tỏ bên trong quan tài vẫn còn đủ không khí cho Vương Kiệt thở.
“Cao Lão, chuẩn bị đào quan tài ra. Sống hay chết, là ở lần này.” tôi gọi.
“Được rồi! Cứu được Vương Khiết, danh tiếng Trần Bát Tiên của cậu coi như vang dội khắp vùng này rồi!” Cao Lão hô to, vung cuốc đào mộ.
Đúng lúc đó, tai tôi nghe thấy tiếng rắc rắc, khiến toàn thân chấn động. Nghe kỹ, âm thanh phát ra từ ống tre trên mộ.
Vừa nãy còn bình thường, sao giờ lại có chuyện? Tôi vội nhìn lại, thấy ống tre đã nứt ra mấy khe nhỏ, dường như bị đất bốn phía ép sắp vỡ tung.
Tôi đưa tay sờ, ống tre run rẩy dữ dội, sắp không chịu nổi áp lực đất nữa. Tôi hét lớn: “Cao Lão, nhanh lên! Ống tre sắp bị đất đè gãy rồi. Nếu miệng ống bị lấp, Vương Khiết trong quan tài mất không khí, chắc chắn chết!”
Lời vừa dứt, rắc! ống tre gãy đôi. Đất bốn phía lập tức đổ xuống, chỉ trong mấy giây đã lấp kín chỗ ống, cắt đứt không khí trong quan tài.
Reactions: Vit.hung.han, AiRoiCungKhac, loohcs99 and 12 others