Trong những tháng đầu năm 2020, dịch bệnh Covid-19 bùng phát gây ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế toàn thế giới. Tại Việt Nam, người lao động (sau đây gọi tắt là NLĐ) nước ngoài chưa thể nhập cảnh vào Việt Nam làm việc, NLĐ thực hiện cách ly, nguồn cung nguyên, vật liệu thiếu hụt,… dẫn tới việc sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bị trì trệ ảnh hưởng doanh thu, nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, tạm ngừng hoặc thu hẹp sản xuất, một số NLĐ phải ngừng việc. Vậy trong trường hợp tạm ngừng công việc do dịch bệnh Covid-19 thì tiền lương của NLĐ sẽ được giải quyết như thế nào?


Về việc hướng dẫn trả lương ngừng việc và giải quyết chế độ cho NLĐ trong thời gian ngừng việc liên quan đến dịch bệnh Covid-19, các doanh nghiệp thực hiện như sau:

I. Trả lương ngừng việc: Xem xét các trường hợp gây ra ngừng việc (do lỗi của người sử dụng lao động hay NLĐ hay do nguyên nhân khách quan) để xác định trả lương ngừng việc cho NLĐ.
Có 03 trường hợp người lao động phải ngừng việc, cách trả lương trong 03 trường hợp này được tính như sau:

1/ Ngừng việc do lỗi của doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải trả đủ tiền lương cho người lao động. Tiền lương trả cho người lao động trong trường hợp này là tiền lương ghi trong hợp đồng lao động khi người lao động phải ngừng việc và được tính tương ứng với các hình thức trả lương theo thời gian.​
2/ Ngừng việc do lỗi của người lao động: Trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả lương cho người lao động có lỗi đó, những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.​
3/ Ngừng việc vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của doanh nghiệp, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác (như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch hoạ, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế): Tiền lương ngừng việc trong trường hợp này do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.​

Ví dụ: A là công nhân cho doanh nghiệp B. Thời gian gần đây do biến động thị trường, hàng sản xuất ra tiêu thụ không được nên doanh nghiệp B cho A nghỉ 03 ngày/tuần.
Tình huống này rơi vào trường hợp 03 nêu trên, nguyên nhân làm cho A ngừng việc không phải do lỗi của bên nào. Bởi: doanh nghiệp B gặp khó khăn về vấn đề kinh tế (hàng sản xuất ra không tiêu thụ được) nên doanh nghiệp B mới cho A nghỉ 03 ngày /tuần.
Như vậy, tiền ngưng việc lúc này mà doanh nghiệp B phải trả cho A là do hai bên tự thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.
Lưu ý: Trường hợp người lao động ngừng việc mà vẫn được hưởng tiền lương thì doanh nghiệp ngoài việc phải trả tiền lương ngừng việc cho người lao động, còn phải có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN theo mức tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian ngừng việc.​

2020dc447221-dbfa-420e-8e6d-718116186443.jpg

Nguồn ảnh: internet

II. Đối với trường hợp NLĐ phải ngừng việc do tác động trực tiếp của dịch Covid-19 như:

- Lao động là người nước ngoài trong thời gian chưa được quay trở lại doanh nghiệp làm việc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
- NLĐ phải ngừng việc trong thời gian thực hiện cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
- NLĐ phải ngừng việc do doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp không hoạt động được vì chủ sử dụng lao động hoặc những NLĐ khác cùng doanh nghiệp, bộ phận doanh nghiệp đó đang trong thời gian phải cách ly hoặc chưa được quay trở lại doanh nghiệp làm việc.

Tiền lương của NLĐ trong thời gian ngừng việc thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động 2012:
"Điều 98. Tiền lương ngừng việc
Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:
...
3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch hoạ, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định."
Khi đó, tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.
Điều 3 Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu theo từng vùng hiện nay như sau: Vùng I, mức 4.420.000 đồng/tháng; Vùng II, mức 3.920.000 đồng/tháng; Vùng III, mức 3.430.000 đồng/tháng; Vùng IV, mức 3.070.000 đồng/tháng.

2020f118e350-14fa-44aa-874c-48495f782764.jpg

Nguồn ảnh: internet

III. Đối với trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn về nguồn nguyên vật liệu, thị trường dẫn tới không bố trí đủ việc làm, doanh nghiệp có thể tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với hợp đồng lao động. (Xem chi tiết tại bài viết: Những lưu ý khi doanh nghiệp điều chuyển lao động.)

1/ Nếu thời gian ngừng việc kéo dài ảnh hưởng đến khả năng chi trả của doanh nghiệp thì doanh nghiệp và NLĐ có thể thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. (Xem chi tiết tại bài viết: Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động)

2/ Nếu doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dẫn tới giảm chỗ làm việc thì thực hiện sắp xếp lao động theo hướng:

- Nếu doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh mà doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc thì có thể thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với NLĐ theo quy định. (Xem chi tiết tại bài viết Doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động)
Lưu ý: Nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì doanh nghiệp sẽ phải thực hiện nhiều nghĩa vụ khác nhau đối với NLĐ - xem chi tiết tại bài viết Nghĩa vụ của doanh nghiệp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
- Nếu do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế thì doanh nghiệp phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động. Trong trường hợp doanh nghiệp không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho NLĐ thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho NLĐ. (Xem chi tiết tại bài viết : Chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế)
Ngoài ra, bất kỳ lúc nào thì doanh nghiệp và NLĐ có thể tự thỏa thuận với nhau về việc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ không lương.


Nguồn tham khảo: Thư viện pháp luật